PHÁT HUY QUAN HỆ XÃ HỘI
Trong Vấn Đề Giáo Dục Trẻ Em Tự Kỷ
NGUYỄN Văn Thành
Khóa Đào Tạo Năm III
Mùa Hè 2007
Lời Mở Đường :
Ưu Tiên Số Một của chúng ta là gì ?
Nhằm trình bày và khảo sát về Hội Chứng Tự Kỷ, tôi đã
được lần lượt xuất bản ba tác phẩm khác nhau :
Cuốn sách thứ nhất mang tựa đề « Trẻ Em Tự Kỷ », có mặt
lần đầu tiên vào năm 2005, trên các tờ báo thông tin vi tính, ở
trong và ngoài Nước. Một cách đặc biệt trong tác phẩm nầy, tôi
đã khảo sát 5 triệu chứng, nhằm giúp đỡ cha mẹ và những
những người có liên hệ xa gần, trong vai trò phát hiện những
trẻ em mang hội chứng tự kỷ, từ những giây phút đầu tiên, khi
một vài rối loạn vừa mới thoáng lộ diện.
Càng phát hiện sớm, như tôi đã nhấn mạnh, chúng ta càng
hội tụ nhiều cơ may, khả dĩ giúp đỡ những trẻ em nầy mau
chóng thích nghi với đời sống và môi trường xã hội.
Hẳn thực, từ 0 đến 6 tuổi, trẻ em đang còn ở trong giai
đoạn tăng trưởng và phát triển, trên mọi bình diện, thuộc đời
sống cơ thể cũng như trong đời sống xã hội, từ những sinh
hoạt vui đùa với bạn bè cùng trang lứa, đến những qui luật cần
tuân hành ở môi trường học đường…Cũng trong thời gian và
lứa tuổi nầy, hệ thần kinh trung ương hay là não bộ, với ba giai
tầng khác nhau là Thân Não, Hệ Viền và Tân Vỏ Não, còn ở
trong tình trạng mềm dẽo, dễ uốn nắn, chuyển hóa và điều
chỉnh. Thậm chí những chương trình mang tên là bẩm sinh hay
di truyền còn tùy thuộc vào khả năng tác động của môi trường
giáo dục gia đình. Những quan hệ của cha mẹ, giống như nước
đồ toàn năng, siêu ý định và siêu ý chí ?
Với những điều kiện nội tâm như vậy, chúng ta dễ có xu thế
áp đặt từ ngoài và từ trên, những chương trình phản ảnh tham
vọng của chúng ta, thay vì lắng nghe, tìm hiểu nhu cầu chính
đáng của trẻ em.
Ngoài ra – đây là mục tiêu thứ hai của tác phẩm – mỗi trẻ
em tự kỷ là một thế giới đặc thù và riêng biệt. Vừa khi ra khỏi
lòng mẹ, và thậm chí trong lúc còn ở trong tử cung, bất kỳ trẻ
em nào không phải là một loại « vườn không nhà trống ».
Chúng ta muốn trồng gì vào đó, thì trồng. Xây gì lên trên ấy,
thì xây. Trái lại, trong mỗi tế bào thần kinh của não bộ, thể
theo lối nhìn và kết quả nghiên cứu công phu của tác giả
Douglas M. ARONE, bao nhiêu chương trình đã được cài đặt và
khắc sâu đậm nét.
Trong tầm tay và điều kiện cụ thể của mình, môi trường có
trách nhiệm làm những gì, từ khi trẻ em vừa ra chào đời ?
- Trước hết, vun tưới và củng cố những chương trình cần
củng cố và vun tưới ?
- Thứ hai, tạo điều kiện thuận lợi, để chuyển hoá, uốn nắn
lại hay là điều chỉnh những gì đã bắt đầu có hướng đi lệch lạc ?
- Sau cùng, khi mầm mống tự kỷ đã có mặt, môi trường
giáo dục có trách nhiệm làm những gì, không chần chờ, hẹn
rày hẹn mai, để cản trở mầm mống ấy ngày ngày trở nên một
cây cổ thụ, « một sự đã rồi », lúc trẻ em lên 7 tuổi ?
Môi trường là ai, nếu không phải là chính chúng ta tất cả,
không trừ sót một ai ?
Thay vì xuyên qua liếc nhìn lẫn tránh hay là lời nói xiên xẹo,
nhằm đổ lỗi, tố cáo cho các bậc làm cha mẹ … ai trong chúng
ta cảm thấy mình có vai trò nâng đỡ các bà mẹ trẻ đang khổ
đau, tê liệt ? Phải chăng chúng ta hãy bước lại gần, giải thoát
Lý do đầu tiên thúc giục tôi xếp đặt quan hệ xã hội, lên
hàng ưu tiên số một, vì tất cả trẻ em tự kỷ đang gặp những
khó khăn trầm trọng và chủ yếu, trong lãnh vực nầy.
Lý do thứ hai phản ảnh những thành quả mới nhất, trong
các công trình nghiên cứu về Hội Chứng Tự Kỷ, ở Âu Tây cũng
như ở Bắc Mỹ. Hẵn thực, đầu năm 2006, trong một tác phẩm
có tầm cỡ quốc tế, tác giả Daniel GOLEMAN đã nhấn mạnh vai
trò của Trí Thông Minh Xã Hội, trong mọi lãnh vực sinh hoạt
thuộc đời sống làm người.
Trí thông minh xã hội bắt đầu chớm nở, khi trẻ sơ sinh nhìn
thẳng vào hai mắt của người mẹ.
Trí thông minh xã hội đã có mặt, nảy mầm đâm mộng, vào
những lúc hai mẹ con sung sướng trao đổi nụ cười với nhau,
nhất là sau khi trẻ sơ sinh đi vào lứa tuổi 2-3 tháng.
Trí thông minh xã hội đã có mặt, khi đứa bé biết ngoảnh
mặt nhìn nơi khác, trong một vài giây đồng hồ, nhằm giải tỏa
những căng thẳng đang leo thang trong nội tâm của mình.
Chính lúc ấy, nếu ý thức được rằng những kích thích hiện tại
của mình đang vượt quá ngưỡng chịu đựng của đứa con, bà mẹ
sẽ biết dừng lại, hay là sáng tạo những loại kích thích khác.
Làm được như vậy, bà đang giúp đứa con phát huy trí thông
minh xã hội của mình, xuyên qua cách chọn lựa và quyết định
« khi nào mở ra, khi nào đóng lại » khả năng tiếp thu và hội
nhập của mình.
Bài học đầu tiên và lớn lao nhất, trong đời sống của mỗi con
người, phải chăng là ý thức được rằng : tôi được thương yêu vô
điều kiện và tôi được kính trọng, vì tôi là một con nguời có giá
trị tuyệt đối ?
Ngoài ra, khi trí thông minh xã hội được ngày ngày phát
triển như vậy, một đường giây thần kinh sẽ xuất hiện trong
cần một cung lòng ấm cúng khác, để lớn lên và phát triển,
trong môi trường xã hội. Cung lòng ấm cúng nầy không còn là
Tử Cung của bà mẹ. Cung lòng nầy được kết dệt bằng những
nụ hôn, bằng những bàn tay xoa bóp. Bằng những giọng hò ru
con, người mẹ và những ai « đại diện mẹ », gọi về trong giấc
mơ và tâm tuởng của con, cả một giang sơn đất nước, bao
nhiêu tầng tầng lớp lớp anh chị em đồng bào. Trong khung
cảnh hồn thiêng sông núi ấy, khi nằm một mình trong nôi đứa
bé đã biết nhếch miệng mỉm cười – một nụ cười sinh lý - « với
Bà Mụ, Bà Tiên, Bà Âu Cơ ». Nụ cười vô thức ấy sẽ từ từ
chuyển qua nụ cười xã hội có ý thức, nếu có người đang có
mặt với con, chớp thời cơ, để nhìn con, khen con, chuyện trò
với con. Bắc lên cho con những nhịp cầu, với người có mặt,
cũng như với người không có mặt, nhưng đang hiện diện tràn
đầy, để kiến tạo một « cái KHUNG » bao bọc chiếc nôi của con
và tạo an toàn cho con.
- Chương Hai sẽ liệt kê và trình bày 5 loại sinh hoạt khác
nhau, nhưng bổ túc và kiện toàn cho nhau, nhằm xây dựng và
không ngừng tô điểm nội tâm của con người. Tôi đồng ý một
phần nào với Simon BARON-COHEN, khi tác giả nầy khẳng
định rằng trẻ em tự kỷ không có NỘI TÂM. Nhưng Nội Tâm,
trong tầm nhìn của tác giả, không phải chỉ là Thinking hay là
Thinking Mind, nghĩa là Tư Duy mà thôi. Thêm vào đó, tư duy
chỉ là một công đoạn duy nhất, thuộc về một quá trình gồm có
nhiều thành tố giao thoa và kết hợp với nhau, như : Năm giác
quan, Xúc động, Ngôn ngữ và Quan hệ qua lại giữa người với
người.
Vì lý do sư phạm và vấn đề trình bày, tôi không thể KHÔNG
phân biệt trong và ngoài, truớc và sau, giữa 5 thành tố ấy. Tuy
nhiên, trong thực tế sinh hoạt, năm thành tố mà tôi vừa liệt
Câu hỏi thứ hai : Khi hai con người lại gần, trao đổi và tiếp
xúc với nhau, phải chăng họ tìm cách tạo ra cho nhau mọi điều
kiện thuận lợi, để giúp nhau thành người ? Trong thực tế của
xã hội ngày nay, con người khắp nơi, trên mặt địa cầu, có xu
thế tranh chấp, tàn sát, hoại diệt lẫn nhau, trên mọi bình diện,
thậm chí trong những cộng đoàn và cộng đồng mang tính cách
tôn giáo, với chí hướng phục vụ nhân loại. Còn có chăng một
loại người vẫn ngày ngày thắp sáng lý tưởng làm người và cố
quyết sống tình người với nhau ?
- Trong Chương Bốn, một câu hỏi quan trọng được nêu
lên : Trí Thông Minh Xã Hội có những cơ sở và tổ chức
thần kinh như thế nào ?
Các nhà khoa học về Thần Kinh Não Bộ đã khẳng định :
Không có ba loại cấu trúc thần kinh đặc thù và chuyên môn,
dành cho ba loại Trí Thông Minh khác nhau như Tổng Quát,
Xúc Động và Quan Hệ Xã Hội. Trái lại, khi hoạt động và phát
triển, mỗi loại trí thông minh từ từ sáng tạo và củng cố những
đường dây chuyên biệt cho mình. Nhằm gửi tin đi, hay là nhận
tin đến, những đường dây thần kinh nầy nối kết lại với nhau
các trung tâm đã có sẵn thuộc 3 giai tầng cấu trúc là : Thân
Não, Hệ Viền và Tân Vỏ Não. Một cách đặc biệt, Trí Thông Minh
Xã Hội hoạt động với hai đường dây chính yếu. Đường thứ nhất
mang tên là Đai lộ phía trên (High Road), nối kết Thùy Trán và
các Thùy khác thuộc Tân Vỏ Não với Cấu Trúc Hạnh Nhận
thuộc Hệ Viền. Đường thứ hai mang tên là Đại lộ phía dưới
(Low Road), phát xuất từ Hạnh Nhân và có liên hệ với những
cơ quan thuộc Giai tầng Thân Não và Tiểu Não.
Điều đáng chúng ta quan tâm một cách đặc biệt là càng
hoạt động một cách tích cực, Trí Thông Minh Xã Hội càng củng
cố và tăng cường những đường dây thần kinh não bộ của
tự kỷ nằm trọn trong lòng bàn tay và quyết định của chính
chúng ta.
Trong tinh thần phục vụ trẻ em tự kỷ, tiếp theo những nhận
xét vừa được trình bày, tôi sẽ đề nghị một số sinh hoạt như
sau :
Mục tiêu cần nhắm tới, và ngày ngày chuyển biến thành
hiện thực, bằng những động tác cụ thể, là tạo cho trẻ em
những quan hệ hài hòa, có mặt, lắng nghe, tôn trọng, đồng
cảm và vui tươi.
Về mặt kỹ thuật, chúng ta sử dụng những hình ảnh của trẻ
em và những người thân như cha, mẹ, anh, chị em…, những
cuốn phim ghi hình trực tiếp, khi trẻ em buồn, sợ, giận, vui
sướng.
Tất cả những phương tiện nầy, cọng với ngôn ngữ hồn
nhiên và sống động của chúng ta, nhằm phản ảnh cho trẻ em
thấy mình, nghe mình, nhìn vào khuôn mặt của mẹ và của
cha, trên các tấm hình.
Mục dích cuối cùng mà chúng ta luôn luôn nhắm tới, trong
những sinh hoạt vui chơi và phản ảnh, như vừa được trình bày,
là kích thích những tế bào hình suốt (spindle cells), cũng như
những tế bào phản ảnh (mirror neurons), có mặt trong các
đường dây thần kinh sau đây :
- Đường dây nối kết Hạnh Nhân với Thùy OFC (Orbito-
Frontal Cortex, Thùy Trán-Ô mắt),
- Đường dây nối kết Hạnh nhân với Thùy ACC (Anterior
Cingulae Cortex, Thùy Đai Phía Trước).
Khi hai đại lộ thần kinh não bộ « phía trên nầy » hoạt động
mạnh, trẻ em tự kỷ sẽ từ từ tiến lên khả năng thiết lập những
quan hệ xây dựng và hài hòa với người khác, trong bất cứ môi
trường xã hội nào.
1) Daniel GOLEMAN – Social Intelligence - Hutchinson,
London 2006.
2) Judy & Sean BARRON – Moi, l’enfant autiste – Plon 1933.
- There’s a boy in here – Simon&Schuster,
N.Y.
1991.
3) Jacques SALOMÉ – Heureux qui communique – Albin
Michel
Paris 1993.
4) M.B. ROSENBERG – Enseigner avec bienveillance –
Jouvence
2006.
5) Douglas M. ARONE - The Theorem - O Books,
Winchester UK 2005.
Chương MỘT : HỘI CHỨNG TỰ KỶ :
Hướng đến một lối nhìn khoa học và toàn diện1 Năm dấu hiệu cổ điển của Hội Chứng Tự Kỷ
Trong 2 cuốn sách, được xuất bản ở Việt Nam, vào những
năm 2005 và 2006 (1), tôi đã nói đến 5 triệu chứng hay là dấu
hiệu chính qui và cổ điển, cần được phát hiện và xác định, một
cách cụ thể và khách quan, khi chúng ta cưu mang trong tâm
tưởng, những « nghi vấn » về Hội chứng Tự Kỷ đang thành
hình và xuất diện, nơi một trẻ em, trong khoảng thời gian từ 0
đến 7 tuổi.
- Dấu hiệu thứ nhất là đời sống bít kín : Trẻ em không có
những quan hệ tác động qua lại với những người khác, cùng có
mặt trong môi trường sinh sống, thậm chí với bà mẹ đã sinh ra
mình,
myêlin-hóa các đường dây liên lạc của mình. Thay vào đó, lối
nói « có nguy cơ Tự Kỷ » được đề nghị và cần được trở nên
thông dụng, trong những trao đổi thông tin giữa các bác sĩ và
chuyên viên, cũng như giữa giáo viên và phụ huynh của học
sinh.
c) Ngoài ra, đối với cha mẹ đến tham vấn, những nhận định
của chúng ta về nguy cơ Tự Kỷ nơi đứa con của họ, có thể gây
ra nhiều ấn tượng hoang mang, khắc khoải, lo sợ và mặc cảm
tội lỗi… nếu chúng ta không trình bày những tin tức khoa học
đơn sơ và cụ thể, cũng như đề nghị thêm những lời hướng
dẫn, hay là những cách làm thuộc khả năng và ở trong tầm
hoạt động thường ngày của họ.
d) Một cách đặc biệt, khi câu hỏi về Nguyên Nhân của Hội
Chứng Tự Kỷ được nêu lên, chúng ta cần khẳng định, một cách
rõ ràng và dứt khoát là vấn đề đang ở trong vòng nghiên cứu
khoa học. Một trong những yếu tố càng ngày càng được đề
xuất, trong lãnh vực y khoa, là những rối loạn, trắc trở, trong
tiến trình tăng trưởng và phát triển của Hệ Thần Kinh Trung
Ương, còn mang tên là Não Bộ. Ngoài ra, một số tác giả đã
nhấn mạnh giả thuyết về những quan hệ lạnh nhạt, vô cảm
của cha mẹ. Lối giải thích nầy, thường được nêu lên vào những
năm 1950, đã gây tổn thương một cách trầm trọng cho bao
nhiêu tầng lớp cha mẹ. May thay, đường hướng tiếp cận vấn
đề như vậy, dần dần có xu thế mất hiệu năng và tàn lụi, trong
các công trình nghiên cứu ngày nay.
Nhằm phát huy tinh thần và lối nhìn Khoa Học vừa được đề
xuất, chương nầy sẽ lần lượt giới thiệu những tin tức bổ sung,
đổi mới và có khả năng soi sáng, cho những ai luôn luôn ở trên
đường tìm kiếm, học hỏi.
3 Những Rối loạn Tự Kỷ Cầu Vồng muôn Sắc (Spectrum
được ổn định, khả dĩ tạo nên một cảm nghiệm an toàn, không
bị ai trừng phạt, đe dọa ?
- Thứ bốn, Hội Chứng Tự Kỷ, còn mang tên là Tự Kỷ Cầu
Vồng (Spectrum autism), trong DMS-4, bao gồm 5 thể loại
« Rối Lọan Phát Triển » khác nhau :
• Rối loạn Tự Kỷ đặc hiệu và chính qui (Autistic Disorder),
• Rối loạn Asperger, còn được gọi là Tự Kỷ với trí thông
minh trên trung bình (Asperger’s Disorder),
• Rối loạn Rett (Rett’s Disorder),
• Rối loạn thoái hóa thuộc thời thơ ấu (Childhood
Disentegrative Disorder, CDD),
• Rối loạn phát triển lan tỏa: Không đặc hiệu (Pervasive
Developmental Disorder: Not otherwise Specified, PDD:NOS).
- Thứ năm, Hội chứng Tự Kỷ là một loại Rối Loạn Phát
Triển, ở vào nhiều giai đoạn thuộc cùng một tiến trình lan tỏa,
từ lãnh vực sinh hoạt nầy sang qua những lãnh vực khác,
trong đời sống của con người. Do đó, khi mô tả các dấu hiệu cơ
bản, cũng như khi đề nghị những thể thức can thiệp nơi trẻ
em, chúng ta không thể không đề cập, một cách đồng đều, tất
cả 5 loại sinh hoạt cơ bản khác nhau, nhưng có ảnh hưởng tác
động qua lại hai chiều trên nhau (3) :
• 1) Loại sinh hoạt thứ nhất là: Nhận thức giác quan và
Tâm Vận Động, còn gọi là Cửa Vào của Nội Tâm (Input),
• 2) Loại sinh hoạt thứ hai là: Tư duy,
• 3) Loại sinh hoạt thứ ba là : Xúc động,
• 4) Loại sinh hoạt thứ bốn là : Ngôn ngữ trao đổi và giao
tiếp,
• 5) Loại sinh hoạt thư năm là : Quan hệ tác động qua lại
trong đời sống xã hội, còn gọi là Cửa Ra (Output).
• Cả 3 sinh hoạt ở giữa – Tư duy, Xúc động và Ngôn ngữ -
mọi người ?
Trong khuôn khổ của Chương MỘT nầy, nhằm bổ túc những
gì còn thiếu sót, trong 2 tác phẩm đã được xuất bản, tôi sẽ lần
lượt trình bày những nét đặc trưng, thuộc mỗi Hội Chứng của
« Tự Kỷ Cầu Vồng ». Những chương kế tiếp sẽ từ từ bàn đến
những điều kiện thiết yếu, khi chúng ta xây dựng những kế
hoạch tác động, trong những chương trình can thiệp, giáo
dục . Một cách đặc biệt, tôi sẽ chú trọng vào hai lãnh vực xúc
động và quan hệ xã hội, nhất là khi trẻ em còn ở trong giai
đoạn từ 0 đến 6 tuổi.
4 Rối loạn Tự Kỷ Chính Qui và Đặc Hiệu (Autistic Disorder)
Danh xưng « Tự Kỷ » (Autism) đã được Bác Sĩ Eugen
BLEULER, người Thụy Sĩ (1857-1939) sử dụng lần đầu tiên, để
mô tả triệu chứng nỗi bật nhất của chứng bệnh Tâm Thần
Phân Liệt, nơi người lớn (Schizophrenia).
Vào năm 1943, Bác Sĩ Leo KANNER, người Mỹ gốc Áo, đã
mượn lại danh xưng nầy, để mô tả Hội Chứng Tự Kỷ, được
quan sát và phát hiện nơi 11 trẻ em, giữa 2 đến 8 tuổi, trong
suốt thời gian từ 1938 đến 1943 (4). Trong những năm kế
tiếp, nhiều bác sĩ khác đã phát hiện nhiều hội chứng mới, có
liên hệ ít nhiều với Hội Chứng Tự Kỷ nơi trẻ em, do Leo Kanner
đã khám phá lần đầu tiên
Mẫu số chung, khả dĩ nối kết lại với nhau tất cả 5 Hội Chứng
thuộc Tự Kỷ Cầu Vồng, bao gồm 3 loại triệu chứng được gọi là
« Chính Qui và Đặc Hiệu ». Nếu một trong ba thiếu vắng,
không được xác định một cách khách quan và khoa học, Hội
Chứng Tự Kỷ Cầu Vồng , còn mang tên là Rối Loạn Phát triển
Lan Tỏa, sẽ không có lý do tồn tại.
Những dấu hiệu khác còn lại, ngoại trừ 3 Triệu Chứng Đặc
Hiệu và Chính Qui, chỉ tạo nên những nét khác biệt giữa 5 Hội
trọng khác như : - không có lối nhìn trực diện mắt nhìn mắt,
- không phân biệt người lạ và quen, mặc dù tuổi
đời đã vượt quá một năm,
- chung quanh 3-4 tháng, không biết mỉm cười với
người thân, như bà mẹ của mình,
- không tìm cách bắt chước bạn bè, để làm như,
làm cho, làm với…
Chính vì những lý do vừa được liệt kê, bốn động tác « Xin,
Cho, Nhận và Từ chối », một cách thanh thản, hài hòa, trong
lãnh vực quan hệ giữa người với người, là bốn bài học rất cơ
bản, nhưng rất khó học và khó làm, đối với tất cả mọi người,
không trừ sót một ai. Cho nên 4 bài học nầy phải bắt đầu được
dạy, với mỗi trẻ em, Tự Kỷ hay Không Tự Kỷ, từ khi vừa lọt
lòng mẹ.
Triệu chứng thứ hai : Những rối loạn trong lãnh vực diễn tả
và thông đạt sở thích, ý định và nhu cầu của mình
• Mặc dù có khả năng phát âm, lặp lại các từ, đọc nhiều
chữ hoặc nhiều câu, trẻ em không biết trao đổi, chuyện trò
qua lại với một người thứ hai,
• Khi phát biểu, trẻ em thường hay lẫn lộn hai đại danh từ
ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai, tôi và mầy…
• Lặp lại như một chiếc máy phát âm, thậm chí những câu
khá dài. Trẻ em hoặc lặp lại tức khắc, sau khi ghi nhận, hay là
sau một thời gian cách khoảng,
• Không có khả năng hình dung hoặc giả bộ, như trong
các trò chơi nấu ăn và mời nhau ăn…
• Không dùng những cử điệu « hình tượng », như vẫy tay
chào tạm biệt, lúc ra đi,
• Không dùng ngôn ngữ có lời, hay là không lời như cử
điệu, nét mặt… để diển tả, thông đạt, trao đổi với người khác
những phản ứng chống đối gay gắt.
• Hình dung một cảnh tượng sắp xãy ra hoặc đang có mặt
ở một nơi khác, thao tác những trò chơi giả bộ, hay là tìm hiểu
ý nghĩa trừu tượng và hình tượng của một bức tranh, một câu
chuyện, cũng như nhìn vào nét mặt để khám phá ý định và
tâm tình của một người khác… tất cả những sinh hoạt ấy hoàn
toàn vượt ra ngoài khả năng tiếp thu và hiểu biết của một trẻ
em có nguy cơ Tự Kỷ.
Tất cả ba loại sự kiện ấy cho chúng ta thấy rõ : Trẻ em có
Hội Chứng Tự Kỷ, có xu thế hạn chế và khoanh vùng cuộc sống
của mình, vào những thứ tự ổn định. Trái lại, những sự cố sắp
xãy ra trong tương lai gần và xa, đối với các em, là những gì
không hiện hữu, là số không.
Cho nên, đặt mình vào vị trí của kẻ khác, đồng cảm với họ,
tìm hiểu ý định và nhu cầu của họ, là những khả năng mà các
em khó tiếp thu và hội nhập. Sở dĩ như vậy, vì các em từ
những giây phút đầu tiên của cuộc đời, đã gặp những trắc trở
tày đình: không THẤY như kẻ khác thấy, không NGHE như kẻ
khác nghe, không CẢM XÚC và TIẾP CẬN với LÀN DA, như kẻ
khác, với kẻ khác và nhờ kẻ khác.
Nói cách khác một cách đơn sơ và vắn gọn, nếu trẻ em có
nguy cơ Tự Kỷ không học sử dụng CỬA VÀO làm bằng mắt, tai
và làn da, làm sao các em có thể mở đường đi vào Nội Tâm, để
phát huy Nội Tâm ?
Trong lăng kính ấy, Can Thiệp Sớm, như sau này tôi sẽ
nhấn mạnh, là can thiệp ở Cửa Vào, từ những ngày đầu tiên
của cuộc đời. Phải chăng đó là bài học mà thú vật đang đề nghị
cho loài người : Chẳng hạn con mèo mẹ, tức khắc sau khi sinh
con, đã liếm da của con, liếm mắt của con, liếm tai của con…
Nhờ đó, con mèo con từ từ có khả năng thấy, nghe và cảm
- Tuổi Thông Minh được đo lường bằng những bản lượng giá
hay là những trắc nghiệm Tâm lý.
- Tuổi Thực sự = Ngày làm trắc nghiệm – (trừ) ngày sinh ra
(tính bằng tháng)
- Những loại phát triển trí tuệ :
IQ dưới 25 : loại chậm nặng,
IQ từ 25 đến 50 : loại chậm vừa,
IQ từ 50 đến 70 : loại chậm nhẹ,
IQ từ 70 đến 100 : loại trung bình,
IQ từ 100 đến 125: loại trên trung bình,
IQ trên 125: loại xuất sắc• Với Rối Loạn Asperger, trẻ em vẫn có ngôn ngữ và có
khả năng trao đổi, tiếp xúc. Tuy nhiên lý luận của các trẻ em
thuộc loại nầy có những hình thức rườm rà, vòng vo và khó
hiểu. Trẻ em có thể dùng ngôn ngữ, để trao đổi với người
khác, xuyên qua những hình thức đơn sơ, vắn gọn. Trái lại, trẻ
em không có khả năng chủ động và điều động một cách thích
hợp, những quan hệ tác động qua lại, với nhiều công đoạn tiến
tới và đòi hỏi nhiều lý luận sáng tạo…
• Xét về số lượng, trong 4 trẻ em mang Hội Chứng
Asperger, trung bình có 3 trai và 1 gái.
6 Rối Lọan RETT
Vào năm 1960, một bác sĩ, người Áo, có tên là Andreas
RETT, và ít lâu sau đó, một bác sĩ người Thụy điển có tên là
Bengt HAGBERG, đã phát hiện, nơi những trẻ em thuộc phái
nữ mà thôi, những triệu chứng như sau :
• Thiếu phối hợp và hòa nhịp, trong những vận động và cử
động, tay chân co quắp, cong quẹo, cho nên trẻ em khi đi
hiện tượng thoái hóa của Não Bộ, trong những điều kiện hiện
tại của y khoa, chưa có một trường hợp nào được phục hồi, sau
khi các hội chứng đã xuất hiện và được phát hiện.
8 Rối Loạn Phát Triển Lan Tỏa: Không Đặc Hiệu (PDD:
NOS)
Trên đây, khi bàn đến Hội Chứng Tự Kỷ hay là Rối Lọan
Phát Triển Lan Tỏa (PDD), tôi đã nhấn mạnh lui tới:
• Khi tất cả triệu chứng chính qui chưa được hội tụ, một
cách đầy đủ, chính xác và khách quan,
• Khi trẻ em chưa lên 7 tuổi,
• Cũng như khi chúng ta đang còn áp dụng Chương Trình
Can Thiệp Sớm, vừa khi trẻ em có một thoáng dấu hiệu báo
động, chung quanh lứa tuổi 1 năm,
• Khi dấu hiệu báo động có thể chỉ là hành vi hơi lăng
xăng, ngôn ngữ chậm trể, thiếu chú ý, tính tình nhút nhát…
Lúc bấy giờ chúng ta chỉ dùng lối nói “Nguy Cơ Tự Kỷ”.
Thay vào danh xưng ấy, DMS-4 đã dùng nhãn hiệu PDD:
NOS có nghĩa là Rối Loạn Phát Triển Lan Tỏa: Không Đặc Hiệu.
Cụm từ “Không Đặc Hiệu”, ở đây có nghĩa là CHƯA và KHÔNG
trầm trọng, vì không rõ ràng và chính xác. Tuy nhiên, trong lối
nhìn của tôi, không phải vì chưa trầm trọng mà chúng ta
không cần can thiệp lập tức và một cách đứng đắn, thích hợp.
Hẳn thực, một que diêm nho nhỏ, nếu không được dập tắt, có
thể gây ra một đám cháy lan tràn, cho cả một khu rừng lớn
lao.
***
9 Kết Luận: Nối lại những con
đường…
Nhằm kết luận, tôi muốn nêu lên câu hỏi: Điều gì có tầm
HCM, 2006.
NGUYỄN văn Thành – Nguy Cơ Tự Kỷ -UBBA-XH, Tp HCM,
2006.
2) Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders –
Fourth Edition, Washington, DC, American Psychiatric
Association, 1994.
- Diagnostic Criteria for 299.00 Autistic Disorder,
- Diagnostic Criteria for 299.80 Rett’s Disorder,
- Diagnostic Criteria for 299.10 Childhood Disintegrative
Disorder,
- Diagnostic Criteria for 299.80 Asperger’s Disorder,
- Diagnostic Criteria for 299.80 Pervasive Developmental
Disorder: Not Otherwise Specified (Including Atypical Autism).
POWERS M.D. – Children with Autism – Woodbine House,
2000 USA.
3) NGUYỄN văn Thành – Những Sinh Hoạt của Con Người –
www.chungnhanduckito.net
4) GRANDIN Temple – L’Interprète des Animaux – Odile
Jacob, Paris 2006.
Sách Tham Khảo trong Chương Một:
5) BELHASSEN M. – L’Enfant Autiste – Audibert, Paris 2006.