Nghệ thuật điêu khắc cổ Việt Nam (Phan 1) - Pdf 11

Nghệ thuật điêu khắc cổ Việt Nam
(Phan 1)
Trong cái di sản mỹ thuật quý báu của dân tộc Việt Nam từ những thế kỷ xưa còn
truyền lại, có một phần quan trọng và khá phong phú, ấy là phần của nghệ thuật điêu
khắc.
Trong cái di sản mỹ thuật quý báu của dân tộc Việt Nam từ những thế kỷ xưa còn truyền
lại, có một phần quan trọng và khá phong phú, ấy là phần của nghệ thuật điêu khắc. Những tài liệu, một phần gồm những hiện vật đã được sưu tầm và trưng bày tại Viện
Bảo tàng lịch sử hoặc ở một số bảo tàng địa phương, một phần khác là những tài liệu gắn
liền với các di tích kiến trúc cổ nằm rải rác ở nhiều nơi trong nước, đặc biệt là ở một số
lăng mộ, chùa và đình. Số lượng nói chung không lớn lắm, một số hiện vật lại không còn
được toàn vẹn, vì đại bộ phận các sáng tác là làm bằng các chất liệu kém chịu đựng sự
thử thách của thời gian, như gạch vôi, đất nung và nhiều hơn cả là gỗ, những tác phẩm
bằng đồng hay bằng đá rắn chỉ gồm một số ít. Đồng, đá, có kiên cố hơn, nhưng nhiều
công trình làm bằng chất liệu này, nhất là đá, hầu hết là dựng ở ngoài trời cho nên cũng
đã không tránh khỏi ít nhiều bị xói mòn vì lâu đời dầu dãi gió mưa.
Cái khí hậu đặc biệt ẩm thấp và nồng nực của một nước nằm hoàn toàn giữa miền
nhiệt đới, nếu như là thích hợp cho sự sinh sôi nảy nở dồi dào của sinh vật và thảo mộc,
nếu như đã khiến cho ở đây, thật là “cỏ cây chen đá, lá chen hoa” bốn mùa xum xuê,
xanh tốt, tạo cho khung cảnh của con người sống trên dải đất có cấu tạo đa dạng này
những sắc thái nhiều vẻ kỳ ảo, thì đồng thời nó cũng lại tác hại không ít đến sức khỏe con
người và những công trình mà óc sáng tạo và bàn tay khéo léo của họ đã làm ra. Hạn hán,
mưa, lũ, bão, lụt v.v xảy ra hằng năm. Lịch sử còn ghi những trận lũ lớn đã cuốn đi cả
nhiều làng mạc, những trận bão, trận sét đánh đã thiêu hủy cả nhiều cung điện v.v mà
con người phải đương đầu khắc phục để mà sinh tồn. Chưa đủ. Hoàn cảnh lại còn muốn
họ phải chống chọi với tình trạng địch họa đã diễn ra nhiều lần trên đất nước trong suốt
quá trình lịch sử lâu dài. Những cuộc xâm lăng của phong kiến phương Bắc, của đế quốc
phương Tây v.v đã gây ra không biết bao nhiêu tổn thất. Kinh thành Thăng Long (Hà
Nội ngày nay) đã bao phen bị tàn phá hết bởi quân Nguyên (thế kỷ XIII) quân Chiêm

với vài gốc cổ thụ còn vết đen thui của khói lửa, bom đạn.
Tải qua bao nhiêu thiên tai địch họa, cái vốn vô cùng quý báu ấy của nghệ thuật xưa, do
bao nhiêu xương máu, mồ hôi, nước mắt của cha ông ta mới tạo nên, cho đến ngày nay
còn lại một phần không lớn lắm.
Một hình ảnh phổ biến và đặc biệt quen thuộc đã từ mấy thế kỷ nay đối với đời sống
và tình cảm của mỗi người Việt Nam, nhất là nông dân, một hình ảnh mà ngày nay người
du khách đến thăm đồng nội Việt Nam còn thường gặp ở hầu khắp các làng mạc nhất là
từ Thanh Nghệ Tĩnh trở ra, đó là hình ảnh ngôi đình. Lối kiến trúc này xuất hiện đầu tiên
ở thời nào? Đây còn là vấn đề phải nghiên cưu. Có ý kiến cho rằng, có thể là từ đời Trần
(thế kỷ XIII), một đôi truyền thuyết về sự tích đình lại ghi một thời đại xưa hơn nữa.
Nhưng, căn cứ vào những mô-típ trang trí ở một số đình đẹp và xưa hơn cả thì chưa thấy
có một mô-típ nào xa hơn thế kỷ XVII. Dẫu sao thì với phong cách kiến trúc độc đáo mà
lại phổ cập đến cả các làng, hơn nữa, với những hiện vật súc tích về điêu khắc của nó thì
ngôi đình vẫn là một kho tư liệu rất hay cho việc nghiên cứu về nền nghệ thuật tạo hình
xưa. Cái kiểu kiến trúc vừa là nơi thờ thành hoàng, vừa là nơi họp bàn việc làng, vừa là
nơi tập họp dân chúng những ngày tết, đám hội hè này, có thể nói là một mẫu điển hình
về nghệ thuậtkiến trúc gỗ, mà cách kết cấu đã phổ cập trong cả nước. Đồng thời cũng là
biểu hiện điển hình của quan niệm xây dựng của người nghệ sĩ vô danh thời xưa, những
người mà một kiến trúc sư Việt Nam, ông Ngô Huy Quỳnhm đã gọi là “Bậc thầy của
khoa kiến trúc đô thị dân tộc” (maitres de l’urbanisme national). Về một vài đặc sắc của
kiến trúc Việt Nam, nhà kiến trúc trẻ tuổi ấy đã viết: “ Những khối kiến trúc dựng lên,
dù nhỏ đến đâu, cũng đều được bố trí nhịp nhàng với thiên nhiên xung quanh. Người ta
có thể nghĩ rằng, sức sáng tạo thiên tài của người nghệ nhân dân tộc xưa là ở chỗ chỉ cần
đặt một công trình kiến trúc khiêm tốn về hình khối vào một khung cảnh thiên nhiên có
uốn nắn đôi chút là đã tạo ra cả một tác phẩm kiến trúc to lớn vượt ra ngoài khuôn khổ
bản thân của công trình ”.
Quả đúng như vậy. Nếu bạn ngắm một công trình kiến trúc xưa mà điển hình là ngôi
đình xưa, hoặc xây dựng lưng vào một sườn đồi bày trên một bãi phẳng bên chân một núi
đá, hoặc soi bóng bên một mảng nước hồ rung rinh hoa súng, hoặc dựa vào một khúc đê
với những bờ tre, thân cây dẻo, dáng uốn như cần câu đu đưa theo gió, hoặc giữa những

chỗ dựa vững chắc cho đường réo của mái uốn vút lên như bay. Cách giải quyết đồng
thời lại tạo cho góc đình một bố cục độc đáo, dẫn mắt người xem từ cột góc đình mà đưa
lên không gian theo cái vút nhọn của đao đình Đây là một ví dụ nhỏ về cái kết cấu
“kiến trúc điêu khắc” vừa trình bày ở trên.
Đi vào lòng đình, dưới bóng râm của toàa mái, đối lập với cái trơn tru của hình cột
mập, cả một hệ thống xà, kèo, kẻ bẩy, câu đầu v.v cài thì xoi gờ chỉ, cái thì chạm nổi,
chạm lọng, chồng lên nhau, đỡ lấy nhau Những bản, những khối gỗ vuông tròn, trụ ấy
dù to, nhỏ, không cái nào lại không có công dụng nhất định trong kết cấu; tất cả những
“vì, kèo” đó, qua tay những người nghệ sĩ dân gian độc đáo đã trở thành cả một thế giới
kỳ ảo trong đó, giữa những “tứ quy”, “thông, mai, cúc, trúc”, giữa những mây tụ, mây tán
với mọi biến thể của chúng, những thảo mộc, hoa quả, quen thuộc v.v những con vật
thần linh, những “rồng, phượng, lân, quy” lẫn những muông thú quen thuộc của nhiệt
đới, những voi, bò, ngựa, trâu quấn quýt với những con người, từ những tiên ông, tiên
nữ đến con người trần thế. Cũng lại như ở kiến trúc với thiên nhiên, ta lại gặp ở đây cách
phân bố mảng khối theo hai chiều hướng đối lập: ngang bằng và thẳng đứng. Cái cách
phối hợp những đối lập ấy dường như thành nguyên tắc chỉ đạo cho mọi bố cục tạo hình,
được người nghệ sĩ xưa xử lý rất linh động và sáng tạo khiến cho nó không bị cứng đờ,
trái lại, đã luôn luôn biến chuyển, quan hệ khăng khít với môi trường xung quanh mà
hình thành những dạng vẻ mới Nếu như, ở gian giữa, nơi dành cho việc lễ tế, người ta
đã gặp từ những câu đầu hình đâu rồng , những xà, bay, cả trần nhà đến những cửa võng
đơn, kép tất cả đều chạm nổi đến chạm lọng, chạm thủng v.v trong những bố cục
thường là đăng đối, mô-típ thường khi sơn son thiếp vàng nhưng thường chỉ xoay quanh
một số đề tài ít khi thay đổi, nhất là những kiểu rồng phượng, và đôi khi cũng bị hơi rậm
rạp nặng nề; thì, ngược lại, qua những gian bên, phần lộng lẫy có giảm đi nhưng phần
sinh động, kỳ thú và hiện thực lại tăng lên nhiều hơn. Càng ở những gian phụ thì sắc thái
này lại càng rõ, không còn bị rằng buộc bởi những cách thức, quy phạm mà tính chất tôn
nghiêm của đối tượng thờ cúng chi phối. Người nghệ sĩ dân gian đã như được trở về
miếng đất quen thuộc của mình để cho cảm hứng, tưởng tượng cất cánh tự do phóng
khoáng hơn, cách biểu hiện cũng được thoải mái, linh hoạt hơn, nhạy cảm hơn.
Xem những họa tiết

tưởng tượng, nhưng đồng thời cũng rất thực tế, đã hóa dần những con vật thần kia cho
hợp với miếng đất trần gian của minh !
Một sáng tạo khác khá lý thú, độc đáo rất đáng chú ý ở thời này, đó là mô-típ rồng
(long sào): một họa tiết chưa từng có xưa kia về đề tài con rồng. Trước kia, rồng thường
thể hiện đơn độc, rồng là biểu hiện của uy quyền vua chúa phong kiến; khu dùng vào
trang trí thì cũng chỉ là một con rồng thu gọn trong một hình lá đề hay hình cánh sen
v.v (Thời Lý, Trần thế kỷ XI, XIII); hoặc giả là hai con vật hai bên đối diện nhau cùng
chầu một mặt trời mà ta thường gặp ở những cửa điện, cửa cung v.v Con vật tượng
trưng cho uy quyền phong kiến đó sang đến thế kỷ này đã ít thấy nhe nanh giơ vuốt rồi,
nó đã trở thành một con vật thông thường hơn, tuy vẫn còn mang hình thức rồng. Đặc
biệt nữa là nó lại được thể hiện thành một mái rồng với đàn con rúc dưới cánh gà mẹ:
biểu hiện của sự sinh nở tốt lành dồi dào, thể hiện ước mơ mộc mạc của người nông dân
mong có một đời sống giản dị, bình yên, no ấm. Có khi rồng lại thể hiện cùng với thằn
lằn, với chó con v.v trong một bố cục hài hòa thoải mái (vì kèo đình Thổ Hà, Bắc
Ninh). Tất cả gợi lên một sự gần gũi ruột thịt với một ngành nghệ thuật độc đáo khác là
“nghệ thuật tranh dân gian” rất quen biết, đồng thời nó cũng lại như mang đậm hồi quang
của phong cách nghệ thuật đã đạt tới trình độ khá cao ngay từ buổi còn sơ khai của lịch
sử mà tiêu biểu là những chạm khắc của những trống đồng, thạp đồng đã nổi tiếng.
Tính hiện thực, giản dị, không trau chuốt, tính lạc quan hồn hậu, sự gắn bó cuộc
sống, tính trang trí nhịp nhàng trong một bao quát lực vững chãi, sự hài hòa tìm trong
những đối lập v.v tất cả những đức tính đó dường như những tơ ruột xe sợi chỉ hồng
truyền thống xuyên qua tất cả các ngành nghệ thuật tạo hình trong suốt quá trình lịch sử.
Tuy sợi chỉ đó có bị chùng đi, phai đi phần nào trong những giai đoạn có khi khá dài như
cả thời kỳ gần ngàn năm bị phong kiến Nam Hán đô hộ, nhưng nó không hè bị đứt bao
giờ. Trái lại sợi chỉ hồng ấy vẫn giữ được bền, được săn, mặc dầu phải trải qua sóng gió,
để đến khi giành lại được độc lập dân tộc, nhân dân lại được sống một cuộc đời tương đối
ổn định, tự do, tạo điều kiện thuận lợi cho nghệ thuật phát triển thì sợi chỉ hồng truyền
thống ấy lại càng săn chặt hơn, đậm đà hơn để lại ánh qua các sáng tác nghệ thuật một
màu sắc rực rỡ hơn.
Ngoài ngôi đình cổ điển ra, thì trong các di tích kiến trúc khác, chùa là nơi còn lưu

Cũng như sau cuộc chiến thắng quân Nguyên của Trần Quốc Tuấn (thế kỷ XIII), nghệ
thuật được thổi một luồng gió trong lành, hào hùng, tạo nên những sáng tác có nhiều vẻ
hiện thực cổ truyền mà lại lực lưỡng, đậm đà, phóng khoáng hơn so với phong cách thanh
tú, nhịp nhàng nhưng hơi gò bó của thế kỷ XI (triều Lý) thì đến sau cuộc chiến thắng
quân Minh của Lê Lợi, nền nghệ thuật Việt Nam lại biết thêm một thời kỳ cực thịnh và
phong phú hơn trước trong đó những ngôi đình độc đáo và phổ biến đã nói ở phần trên là
những chứng tích hùng hồn. Về nghệ thuật Phật giáo, tuy đến thời nay ảnh hưởng của tôn
giáo ấy đã không còn mạnh, rộng nữa, những chùa chiền mới xuất hiện thưa đi nhiều, hầu
như chỉ có những trùng tu đối với những công trình kiến trúc đã có là đáng kể. Tuy nhiên
về nhiều mặt khác, và đặc biệt là về nghệ thuật tạc tượng, nhất là tạc tượng gỗ, thì có thể
nói thế kỷ XVII, XVIII này là thời kỳ mà nền điêu khắc ấy đã đạt đến những đỉnh cao,
nhất là về phương diện hiện thực thì tiến triển nhiều hơn các thời trước. Những tượng
Phật, những chạm trổ trang trí, nhất là loại chạm gỗ xuất hiện trong suốt hai thế kỷ liền
ấy rất dồi dào và có nhiều sắc thái. Ngoài những di tích như lăng nhà Lê (Lam Sơn Thanh
Hóa) đến lăng Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành (Hoa Lư, Ninh Bình) nhà tiền đường
đền Cổ Loa (Hà Nội) v.v mà trong đó những họa tiết đã từng phổ biến như con rồng thì
đã khác xa, so với họa tiết cùng loại ở các thế kỷ XI, XIV. Những con rồng mình rắn,
chân chim mập này với những vây, vẩy những “tua” nét mác hay những “tua” ngọn lửa
uốn khúc mạnh mẽ hơn, phóng khoáng hơn, là những thể hiện rất rõ nét làm cho dễ phân
biệt phong cách của nghệ thuật Lê sơ với Trần hay Lý. Ngoài ra, ta còn gặp nhiều họa tiết
mới như những hoa văn, đường triện, những cành lá uốn cong, những sóng gợn hay mây
vẩy đã nói đến ở các ngôi đình. Về tượng nhân vật trong những chùa, còn lưu lại được
những tài liệu giá trị thì tiêu biểu và tương đối còn đầy đủ hơn cả phải kể tới chùa Tây
Phương (Sơn Tây) với những pho tượng Phật tuyệt diệu như Hiệp Tôn Giả (Bút Tháp),
Tuyết Sơn (chùa Tây Phương, chùa Mía, Sơn Tây) đặc biệt hơn nữa như tượng Quan Âm
nghìn mắt nghìn tay (Bút Tháp, Bắc Ninh; Tây Phương, Sơn Tây) hoặc kỳ thú như những
tượng La Hán, Kim Cương ( chùa Tây Phương, Sơn Tây).
Nếu như ở các ngôi đình đã nói trên, những gian phụ thường dành cho ta những thú
vị hồn hậu, mộc mạc hơn là những gian chính, thì ở các chùa chiền, tình hình cũng rất
giống như vậy. Tượng Phật tuy những pho đẹp, hoàn chỉnh, snág tác với một nghệ thuật

vị hơn cả là tượng gần với con người bình thường biết bao! Nhìn khổ người, dáng dấp,
nhất là diện mạo mặc dù là hai tai vẫn còn chảy dài đến vai như những tai Phật (có lẽ là
để mà nghe thấu được cả ngàn đời) của các La Hán ấy, chẳng hạn như ở La Hán Đa La
hay Phật Đà Nan Đề, hay Đề Đa Già người ta thấy như rất quen thuộc, đây là tượng mà
cũng là phản ánh những nét của những ông già thường gặp ở nông thôn, những nét mộc
mạc, chất phác và đều chứa một sức sống tiềm tàng mạnh mẽ!
Ngoài những bộ tượng như Kim Cương, La Hán ra, ở những ngôi chùa xưa, còn có
một bộ tượng nhỏ khác cũng mang nhiều giá trị tạo hình như những đồng tử, thị nữ, một
vài tượng cao tăng hay phật tử đắc đạo v.v những muông thú có quan hệ với thế giới
Phật, khá nhiều đồ thờ khác và đặc biệt là nặn bằng đất có tô màu mà người ta thường
thấy trong những cái “động” những mô hình thu nhỏ của thế giới nhà Phật, mà nhà chùa
xưa đều có . Trong số lượng nhỏ cũng vẫn gồm có chư Phật, Bồ Tát, thiên thần La Hán
v.v đáng kể là những tượng nặn chúng sinh, những người trầ ở hạ giới, hoặc bị rơi vào
địa ngục khi chết v.v Trong những tượng nhỏ này có một số đã biểu hiện thật giản dị
mà sâu sắc hoặc những nét quằn quại bi tráng vì bị cực hình của con người, hoặc những
nét thơ ngây trong sáng rất gần với con người bình dị, cho nên ngoài giá trị tạo hình của
chúng, chúng còn là những tài liệu quý cho việc tìm hiểu về phong tục tập quán, hay về
sinh hoạt y phục của con người bình dân thời trước.
Rất tiếc rằng, khá nhiều tượng nhỏ ấy đã hoặc bị nát vỡ hoặc bị phá hủy vì thiên tai
địch họa và nhất là những cuộc bắn phá của quân đội thực dân Pháp trong cuộc kháng
chiến trước đây và cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ vừa qua. Những cảnh
“động” kỳ thú như Mua chùa Long Đọi (Hà Nam), Yên Phụ (Hà Bắc) chỉ còn lại trong
ký ức. Trong số những động khác, còn lại tương đối toàn vẹn và có giá trị hơn cả, ngày
nay chỉ còn có thể kể đến cái động của chúa Mía (Sơn Tây).
Nhìn bao quát lại các tác phẩm chạm trổ xưa, chúng ta thấy tính chất dân gian rõ nét.
Hiện thực, lạc quan, lành mạnh, mộc mạc, chân thật và đầy đặn theo quan niệm “ăn
chắc mặc bền” của người nông dân cần cù những đức tính ấy đã biểu lộ trên tuyệt đại
bộ phận các sáng tác. Những nét khắc, nét chạm dù thô sơ hay điêu luyện cũng đều mang
vẻ thanh thoát tự nhiên. Trên những khối bia đá, trên những thớ gỗ mịn dẻo như gỗ mít
hay cứng rắn như sắt của gỗ lim v.v những nét chàng, nét đục của người nghệ nhân xưa

đã khuyết danh! Hiện tượng này đã khiến cho ngày nay, việc nghiên cứu về di sản nghệ
thuật do người xưa để lại đã gặp một trở ngại không khắc phục được cho việc tìm hiểu về
các tác giả, các nghệ sĩ cụ thể ở những đời đã qua. Những con người lao động bình
thường không lưu lại tên tuổi mình, nhưng chính lại là những con người đã kế tiếp gìn
giữ, phát huy và lưu truyền từ đời nọ sang đời kia những truyền thống quý báu của nghệ
thuật dân tộc. Những nghệ sĩ chân chính đã thể hiện được trong sáng những cảm xúc,
những lý tưởng thẩm mỹ của một dân tộc cần cù, lạc quan, yêu chân lý, yêu con người,
yêu thiên nhiên đất nước, những nghệ sĩ thực là của nhân dân , đã thể hiện được qua
những sáng tác nghệ thuật độc đáo và dồi dào sinh lực, mầm ước vọng và tin tưởng của
họ vào một cuộc sống tự do, hạnh phúc trong lao động sáng tạo.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status