SỰ LINH BIẾN CỦA NGHỆ THUẬT ĐIÊU KHẮC MỸ THUẬT VIỆT NAM potx - Pdf 11



SỰ LINH BIẾN CỦA NGHỆ THUẬT ĐIÊU KHẮC
MỸ THUẬT VIỆT NAM
Chúng ta đã có những học giả thật sự uyên bác, bỏ công cả đời người nghiên cứu
trên mảnh đất điêu khắc truyền thống còn nhiều bí ẩn như học giả Nguyễn Đỗ
Cung, Công Văn Trung Nhưng tất cả chỉ là mở đầu. Tiếp theo hai ông là một thế
hệ học trò năng nổ, say mê với nghề nghiệp, tuổi trẻ dong xe đi khắp miền Bắc để
đo đạc, in dập bản khắc, mô tả tỷ mỷ, chụp ảnh lấy tư liệu mà chúng ta có thể kể
tên các nhà nghiên cứu: Trần Mạnh Phú, Chu Quang Trứ, Nguyễn Bích, Nguyễn
Du Chi, Nguyễn Đỗ Bảo Nhưng tất cả vẫn loay hoay trong cái vòng khai phá của
các bậc thầy.
Trong bài này tôi không dám hy vọng làm cái việc qua mặt các bậc thầy, những
mong thu hẹp phạm vi nghiên cứu trong sự phân tích mối quan hệ linh biến, tài hoa
của ông cha ta khi xử lý ba yếu tố: hình thể - hình khối - không gian trong các công
trình nghệ thuật. Ta hãy xem cái điều linh biến đó thật phong phú và huyền diệu
như thế nào?
Nghệ thuật điêu khắc truyền thống Việt Nam đã trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, mỗi
thời kỳ mang một sắc thái riêng biệt mà chúng ta không thể hòa trộn vào nhau
được: nghệ thuật thời Lý với nghệ thuật thời Trần, nghệ thuật thời Trần với nghệ
thuật thời Lê, nghệ thuật thời Lê với nghệ thuật thời Nguyễn ví như nghệ thuật
thời Lý pho tượng Đức Phật Adi đà chùa Phật Tích là sự cân bằng các yếu tố hình
thể - hình khối - không gian. Sự cân bằng các yếu tố của pho tượng Đức Phật Adi
Đà đến kỳ lạ khiến pho tượng có một thế ngồi tĩnh lặng, nhưng không giống như
một cái xác chết vô hồn bởi vì những nếp áo của Đức phật luôn chuyển động từ

cũng không nhấn mạnh khối như thời Trần. ở đây không gian rất phát triển, ví như
hệ thống điêu khắc chùa Bút Tháp. Đối với pho tượng nghìn tay nghìn mắt, yếu tố
thứ nhất là không gian - Không gian phát triển của những bàn tay gắn trên hình lá
đề và những cánh tay tua tủa giơ ra sau đó ta mới thấy khối chờm ra của những
cánh tay và cuối cùng một hình thể Phật rất hợp lý. Điện thờ Phật không nằm ở
gian giữa thượng điện mà chiếm toàn bộ nhà thượng điện được phát triển ra theo
chiều ngang - Nghệ thuật điêu khắc còn lan ra cả ngoài hành lang bao gồm cả cầu
đá và tháp sư cao vút.
Nghệ thuật điêu khắc chùa Tây Phương khác với nghệ thuật điêu khắc chùa Bút
Tháp. Trong ba yếu tố: hình thể - hình khối - không gian, hình thể là yếu tố thứ
nhất rồi mới đến hình khối và không gian. Trật tự các yếu tố: hình thể - hình khối -
không gian hoàn toàn khác cách xử lý nghệ thuật Đức phật A di đà chùa Phật Tích
hay chùa Bút Tháp (Bắc Ninh). Đây không phải là một trò chơi nghệ thuật, sự thay
đổi ngẫu hứng mà là một yêu cầu để phù hợp khi thể hiện một hình tượng cụ thể
hài hòa với kiến trúc ngôi chùa.
Để thấy rõ yếu tố hình thể là trật tự thứ nhất của điêu khắc chùa Tây Phương ta hãy
xem vài pho tượng thì rõ. Pho tượng Tuyết Sơn hình thể gầy kiệt xác đẩy hình khối
và không gian xuống vị trí thứ hai thứ ba, để rồi từ đấy toát lên một sức sống mãnh
liệt của hình tượng nghệ thuật.
Nghệ thuật được xử lý rất đắt, từ chỗ nhấn mạnh các khối xương đến chỗ gây
tương phản các thể chất khác nhau như chất vải mềm mại với chất xương thô
cứng Sự tương phản của hình thể tiều tụy và tinh thần tạo ra đầy sức thuyết phục.
Toàn bộ như trong trạng thái nhập định, ngoại cảnh không thể khuấy động, nội tâm
đã hoàn toàn vắng lặng. Cái vật chất của gỗ, của sơn đã hóa thành tinh thần tỏa
sáng nhưng lại trầm tĩnh lạ thường.
Một pho tượng đẹp, đẹp ngay trong cái kiệt quệ của cơ thể rồi truyền cảm tới người
xem một tinh thần mạnh mẽ.
Pho tượng La Hầu La Da thì cho ta một cái nhìn hình thể ở một khía cạnh khác. La
Hầu La Da là con một trưởng giả ở nước Ca Tỳ La. Khi sư phụ còn sống có giao
cho ông chức thị giả, khi đó ông đã bị quần chúng phản đối. Ông rèn luyện bằng

Những bức chạm khắc đình làng kéo cả tiên trên trời vào hội (đình Thổ Hà, đình
Diềm (Bắc Ninh), đình Hương Canh (Vĩnh Phúc), đình Tây Đằng (Hà Tây) Nghệ
thuật dân gian đình làng có không gian mở rộng, không bó hẹp ở cửa võng mà lan
tỏa ra cả đình, lan từ cửa võng ra các gian các chái, các bảy hiên, thậm chí từ trên
thượng cung kéo xuống tận sàn đình. Có hai loại đình (chúng tôi tạm gọi) một là
đình chợ như đình Thổ Hà không gian rộng mở từ cửa đình ra tới tận bãi sông tiếp
cận thuyền bè buôn bán lên xuống tấp nập, giữa cửa đình và chợ đình, bến sông
không có không gian khép kín cách biệt, tất cả là một không gian mở. Một loại
đình nữa là đình lễ hội như đình Diềm. Loại đình này không có không gian rộng
mở như đình chợ Thổ Hà. Đình Thổ Hà và đình Diềm là một hợp thể phong cách
kiến trúc tiêu biểu cho xứ Bắc. Tuy vậy giữa hai đình vẫn bộc lộ nét khác biệt.
Không gian đình Diềm lộng lẫy uy nghi và được xếp bằng chín tầng giật cấp chạy
theo hình vòm cầu từ thượng lương xuống tận sàn đình. Ngoài ra, việc tạo thành
các lớp rồng của cửa võng có độ phối cảnh sâu thẳm làm thành hai chuyển động
ngược chiều nhau bằng chín lớp rồng chạy vào, chín đầu rồng chạy ra, cách phối
cảnh mang tính xếp đặt này rất thuận tiện cho không gian làm lễ hội. ở đình Thổ
Hà, gian thờ chỉ có nhiều nhất năm tầng giật cấp, ít có độ cong như cửa võng đình
Diềm, trong đó có hai tầng cửa võng, hai tầng hương án và một tầng đèn thất tinh.
Phối cảnh tạo độ sâu ở ba cửa võng đình Thổ Hà không sâu bằng đình Diềm, tạo
không gian mở nhiều hơn. Đình Thổ Hà là một không gian mở, còn đình Diềm là
không gian vừa mở ra ngoài nhưng lại vừa tạo không gian cuốn hút vào cửa võng
vì đình chủ yếu tạo không gian lễ hội. Như thế do yêu cầu khác nhau, không gian
và nghệ thuật điêu khắc của đình Thổ Hà và đình Diềm cũng khác nhau.
Nghệ thuật chạm khắc ở đây, thường có bốn kiểu chạm: chạm nông, chạm sâu,
chạm lộng, chạm thủng. Chạm nông hình khối dịu dàng không gay gắt thường
dùng cho trang trí kiến trúc. Chạm sâu biểu hiện hình khối rõ ràng, có khả năng bắt
sáng mạnh. Chạm lộng thể hiện các lớp lang và sự chuyển động của hình khối trọn
vẹn, mạch lạc, khúc chiết. Chạm thủng dùng cho trang trí kiến trúc mục đích giải
quyết không gian như cửa võng đình làng, kiến trúc chùa. Chạm nông, chạm sâu,
chạm lộng, chạm thủng ta thường bắt gặp ở nhiều phù điêu xưa.

hàng chục héc ta ở trên một trục giao thông, trên một đỉnh núi hay ở một quảng
trường rộng lớn ví như công trình tượng đài trên núi An Phụ (Hải Dương), công
trình tượng đài vua Lê (Thanh Hóa), công trình tượng đài ở ngã ba Đồng Lộc (Hà
Tĩnh)
Những công trình tượng đài là sự cố gắng của các nhà điêu khắc làm cho tiếng nói
của hình thể, hình khối hài hòa trong một không gian rộng lớn. Mong muốn là vậy,
nhưng thực tế còn nhiều điều bất cập. Nghệ thuật tượng đài của chúng ta còn non
trẻ, cách làm còn lúng túng trong khuôn mẫu cũ, ít có sự linh biến, thiếu mối quan
hệ hài hòa giữa hình thể - hình khối - không gian. Mặt khác cơ chế còn nhiều điều
không hợp lý, cản trở sức sáng tạo của nghệ sĩ. Mặc dù vậy, nghệ thuật tượng đài
vẫn có sức vươn tới và khẳng định sự cần thiết của nó trong cuộc sống, đó cũng là
lẽ tự nhiên.
Nghệ thuật điêu khắc Việt Nam tuy mỗi thời mỗi khác, nhưng nó liên tục phát
triển, cái sau kế thừa cái trước, nó luôn mở rộng mà không khép kín. Từ cái mạch
dân tộc, điêu khắc Việt Nam đã tiếp thu sáng tạo, tạo thành một bản sắc riêng
không thể lẫn được với các nền nghệ thuật lân bang. Ví như nghệ thuật thời Lý ít
nhiều chịu ảnh hưởng của nghệ thuật Chăm pa (con chim thân kim na ri) nhưng
hình thái Lý vẫn thanh thoát, uyển chuyển. Nghệ thuật điêu khắc thời Trần cũng
thoáng thấy ảnh hưởng nghệ thuật Chăm pa (chùa Thái Lạc) nhưng vẫn thể hiện
sắc thái Trần với những hình khối khỏe. Nghệ thuật điêu khắc thời Lê ít nhiều chịu
ảnh hưởng của nghệ thuật điêu khắc Trung Quốc qua việc thể hiện uy quyền phong
kiến dữ dằn, diêm dúa, có phần cầu kỳ mà không đơn giản, khỏe mạnh như nghệ
thuật Trần. Nghệ thuật chạm khắc thời Lê (TK XVI-XVIII) thật là đặc biệt như
trên chúng ta đã nói về đình làng.
Nghệ thuật Việt Nam từ cái bản sắc dân tộc mà sáng tạo, hòa nhập, đổi mới và phát
triển. Tiếp thu có chọn lọc là sức mạnh của bản sắc dân tộc. Đó là bài học quý giá
của nghệ thuật để phát triển tới đỉnh cao. Khương Huân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status