Ông Trời của người Việt nam qua ca dao, tục ngữ
1. Trời trong các đạo: Thần, Phật, Khổng, Lão, Ông Bà
2. Trời trong ca dao tục ngữ dân Việt
3. Trời trong đạo Thiên Chúa
1. Trời trong các đạo:
1- Thờ Thần
Người Việt nam thời xưa cũng như người Thượng (gốc người Việt) còn tới thời
nay, thờ nhiều thần. Mỗi sức mạnh của vũ trụ như mưa sấm sét, mỗi nghề nghiệp,
mỗi địa phương đều có những vị thần riêng. Đây là tính cách sơ khai về tín
ngưỡng. Thổ công, hiện còn được một số người VN tôn thờ để coi sóc gia đình.
Thần tài cũng còn được tôn kính.
Bởi đạo thờ Thần không Giáo chủ, không giáo sĩ, người dân nghe vị thần nào linh
thiêng là tin tưởng, cầu cúng. Với thời gian, lắm sự lầm lạc mê tín xen vào.
Họ không biết tới Đức Chúa Trời, nên không có xác tín rõ rệt, chỉ có những tư
tưởng chung chung như ca dao người Việt mô tả, sẽ đề cập dưới đây.
2- Thờ Phật
Ngoài phần lý thuyết trên, Phật tử còn phải giữ ngũ giới và lục độ. Ngũ giới (cấm
sát sinh, đạo tặc, dâm ô, vọng ngữ - ăn gian nói dối-, rượu chè,) - Lục độ tức 6
đường tu gồm: Bố thí, trì giới (giữ 5 điều nói trên) nhẫn nhục, tinh tiến, Thiền định
(suy niệm), bát nhã (học giáo lý cho thông)
Đối với Phật giáo thì giai đoạn sau cùng là Niết bàn (Nirvâna). Tới Niết bàn là
không còn đạo. Niết bàn do động từ Nirvâna có nghĩa là dập tắt đi để được mát mẻ
thảnh thơi. Niết bàn có thể xuất hiện ngay ở cõi trần, đó là 1 tình trạng trong đó ý
tưởng, cảm xúc không còn nữa và những dục vọng đã bị tiêu diệt.
Niết bàn chỉ là 1 trạng thái của linh hồn đã thoát cõi Vô minh mê lầm mà vào cõi
giác, chứ đó không phải là cõi hạnh phúc nào tích cực như cõi Thiên đường. Chính
Như Lai Phật Tổ đã nói với Râdha:"Tịch diệt ái dục là Niết bàn".
Nhận xét: Tự mình giải thoát mình khỏi "dục vọng". Hết dục là hết khổ. Hết dục là
Niết bàn. Phật giáo không nói gì đến Ông Trời, hay nhờ Trời mà được ơn này ơn
nọ…không nói tới thần thánh nào hết. Cũng không bảo thờ cúng ai hết. Phật giáo
đúng ra là con đường tự giải thoát. Không nhìn nhận Ông Trời.
Nhưng trên thực tế, có nhiều cái khổ không phải tự mình tham muốn, đúng ra là
không muốn, không tham. Nó đến từ bên ngoài như tai nạn thiên nhiên, hoặc từ
đâu đâu ập đến, người ta gọi là "tai bay vạ gió", biết giải thích sao, nếu không nhận
có một Ông Trời điều hành vũ trụ?Ai sẽ thưởng phạt công minh?
3. Thờ Khổng
Khổng Tử không sáng lập, nhưng đã phát huy đạo này, sau này, người ta quen gọi
là Đạo Khổng.
Khổng Tử sinh năm 551 trước Tây lịch. Ngài san định lại Ngũ kinh: Thi, Thư,
trời đất muôn vật muôn loài theo như luật tuần hoàn biến cải tự nhiên". . Bằng cớ
vào đâu để quả quyết từ nguyên lý vô hình vô sắc? theo lý luận hay theo khoa học?
Nói "Đạo" từ vô hình mà phát sinh, thì có hơn gì nói "không biết"?
Như vậy Lão tử không biết đến hay không nhìn nhận Ông Trời?
5- Thờ Ông Bà
Nói là đạo ông bà thì không đúng hẳn, vì không có Giáo hội, giáo chủ, giáo sĩ, đây
chỉ là chuyện gia đình, chuyện con cái tự thấy yêu mến, muốn đáp đền ơn cha mẹ,
ông bà, tổ tiên đã sinh dưỡng mình.
Khi qua đời, Ông bà được chôn trong vườn cạnh nhà, vong hồn ông bà được coi
như đang sống nơi tủ thờ, do đó con cái ăn lo sống sao cho đứng đắn kẻo mang chữ
bất hiếu. Từ việc tết nhất, cưới vợ gả chồng, từng bữa cơm, khi con cháu đau, ông
bà đều được nhớ đến, được khấn vái. Tùy gia đình giầu nghèo, bình thường hay
cấp bách: thường là mâm cơm, ít là cau trầu hoa quả, giữa đêm khuy một chén
nước lã với nén hương. Thời gian cúng là chờ cho tan một tuần hương, tức là bó
nhang cháy lụn, lúc đó là kể như thời gian ông bà hưởng dùng của lễ dâng. Sau đó
dọn xuống cho người nhà cùng nhau dùng.
Thói tục VN cữ tên ông bà, nếu đứa cháu lỡ đặt lầm tên ông bà thì phải kêu tên
khác với tên trong khai sinh.
Không có sách giáo lý dạy Đạo Ông Bà, nên không nói đến Ông Trời, nhưng thực
tế con cháu lại luôn cầu Trời như ca dao tục ngữ được trình bầy dưới đây.
2. Trời trong ca dao tục ngữ dân Việt
Qua phần trên, người ta thấy tại Việt Nam tuy có nhiều đạo …nhưng trên hết các
trái trên cây ai vo mà tròn?
* Trời trông coi, gìn giữ:
- Tin rằng Trời sinh ra con người, sinh ra rồi, Trời không bỏ mặc, nhưng Trời nuôi
sống:
"Trời sinh Trời dưỡng.
"Trời sinh voi, Trời sinh cỏ.
Ngày nay, tình trạng sinh sống nhân loại khác ngày xưa, không còn nhiều người
quan niệm như câu tục ngữ trên, vì người ta đã không còn tin tưởng mạnh mẽ ở
Trời cao như cha ông họ.
- Không những Trời sinh ra thân xác con người, qua cha mẹ, mà còn sinh cả tính
tình nữa:
"Cha mẹ sinh con, trời sinh tính
"Trời sinh ra ông tướng giặc,
cờ bạc xóc đĩa dông dài cả đêm,
canh trước tướng hãy còn tiền,
canh sau cố áo ngồi bên lọ hồ
Bấy giờ quan tướng thua ra,
áo quần cố hết, trở ra về trần,
về giữa sân vạch quần bắt rận,
vợ trong nhà giận chẳng nấu cơm.
Bấy giờ tướng cúi ổ rơm,
chẳng dám hạch nước hạch cơm hạch trầu.
- Gắng tập đức:
"Ở hiền thì lại gặp lành,
Những người nhân đức trời dành phước cho.
"Ở xởi lởi Trời cởi ra cho,
Ở so đo Trời co ro lại.
- Những biến cố của quốc gia, người ta cũng nói đến Trời xui khiến:
"Trời ơi sinh giặc làm chi,
cho chồng tôi phải ra đi chiến trường!
Người ta cầu xin cho cuộc chinh chiến thành công:
"Lạy Trời cho cả gió nồm,
cho thuyền chúa Nguyễn căng buồm tiến ra (phương Bắc đánh chúa Trịnh?)
- Sự giầu nghèo, bất công, chênh lệch trên đời cũng do tại Trời:
"Trời sao trời ở chẳng cân, \
người ăn không hết, kẻ lần không ra!
"Trời sao trời ở chẳng công,
người ba bốn vợ, người không vợ nào!
- Ngay cả việc cờ bạc họ cũng dám đùa bỡn đổ lỗi cho Trời:
"Trời sinh ra kiếp ăn chơi,
Dân cư giang khúc như hình con long,
nhờ Trời Hạ kế sang Đông,
làm nghề cầy cấy vun trồng tốt tươi,
vụ năm cho đến vụ mười,
trong làng kẻ gái người trai đua nghề,
trời ra: gắng, trời lặn: về,
ngày ngày tháng tháng nghiệp nghề truân chiên,
Dưới dân họ trên quan viên,
công bình giữ mực cầm quyền cho hay.
Họ biết lợi dụng cả trời nắng cũng như trời mưa:
"Trời nắng tốt dưa,
Trời mưa tốt lúa
Khi thời tiết thuận hòa cũng như khi gặp cảnh bão lụt mất mùa thường xảy ra trên
quê hương:
"Bây giờ gặp phải hội này,
khi trời hạn hán khi hay mưa dầm,
khi trời gió bão ầm ầm
- Người ta khiêm tốn ngửa mặt cầu xin:
"Nghiêng vai ngửa vái Ông Trời,
đương cơn hoạn nạn, độ người trần gian
* Người ta quan niệm rằng: Trời là Đấng Tối cao sinh ra con người, hằng quan
phòng và nắm quyền thưởng phạt, điều hành vũ trụ cách công minh uy quyền. Trời
quyền phép, công bằng, nhưng rất nhân từ: Trời là nguồn ơn và cũng là nguồn khổ.
"Ếch ngồi đáy giếng coi Trời bằng vung.
"Cứ trong nghĩa lý luân thường,
làm người phải giữ kỉ cương mới màu,
đừng cậy khỏe, chớ cậy giầu,
Trời kia còn ở trên đầu còn kinh.
- Đừng xảo trá:
"Tin nhau buôn bán cùng nhau,
Thiệt hơn hơn thiệt, trước sau như lời.
Hay gì lừa đảo kiếm lời,
Một nhà ăn uống, tội Trời riêng mang.
- Đừng hoang phí:
"Phí của Trời, mười đời chẳng có.
"Làm người nên biết tiện tằn,
đồ ăn thức mặc có ngần thì thôi,
những người đói rách rạc rời,
bởi phụ của Trời làm chẳng có ăn.
Coi chừng:
"Của trời trời lại lấy đi,
giương hai mắt ếch làm chi được Trời.
- Người ta thường nói:
"Gẫm hay muôn sự tại Trời".
* Trời phải được tôn thờ:
- Nhìn nhận Trời cao cả:
"Đèn trời trời sáng 4 phương,
đèn tôi tôi sáng đầu giường nhà tôi.
Người ta xin:
"Đêm đêm ra thắp đèn trời,
cầu cho cha mẹ sống đời với con.
Thái độ phó mặc:
"Trời mưa thì mặc trời mưa,
tôi không có nón trời chừa tôi ra
Tiến đến nhận biết chính xác hơn:
"Xưa kia chỉ biết kêu trời,
mà nay đã biết gọi Trời là Cha,
trần gian chẳng phải là nhà,
đi về vĩnh cửu gặp Cha trên trời.
Và người ta thờ Trời. Trời đây có người nghĩ là trời xanh, nhưng cũng có nghĩa là
Đấng Linh thiêng, Đấng Tối cao:
"Dù ai nói ngược nói xuôi,