Đề tài:
“Kinh nghiệm công nghiệp hóa hiện đại hóa của
Hàn Quốc”
Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC MÔ HÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ
Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
1.1.1. Khái niệm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá
1.1.1.1. Các quan niệm về công nghiệp hoá
Ngày nay, công nghiệp hoá, hiện đại hoá mang tính tất yếu trong quá
trình phát triển kinh tế của các quốc gia. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy công
nghiệp hoá, hiện đại hoá là con đường để biến một nền kinh tế nông nghiệp
lạc hậu thành một nền kinh tế hiện đại, mà công nghiệp có vai tròđặc biệt
quan trọng. Với cách tiếp cận khác nhau thì quan niệm về công nghiệp hoá,
hiện đại hoá cũng có những điểm không hoàn toàn giống nhau và tất nhiên sẽ
dẫn đến những chính sách và giải pháp thực thi cũng khác nhauđối với từng
nước, thậm chíđối với một quốc gia trong những thời kỳ lịch sử khác nhau.
của quá trình công nghiệp hoá. Do vậy, quan niệm này được vận dụng rất hạn
chế trong thực tiễn.
Quan niệm phổ biến ở Liên Xô trước đây cho rằng "công nghiệp hoá là
quá trình xây dựng nền đại công nghiệp cơ khí có khả năng cải tạo cả nông
nghiệp". Đó là sự phát triển các ngành công nghiệp nặng mà cốt lõi là ngành
chế tạo cơ khí, do đó tỷ trọng công nghiệp trong tổng sản phẩm xãhội ngày
càng lớn. Quan niệm trên xuất phát từ thực tiễn của Liên Xô khi triển khai
công nghiệp hoá. Liên Xôđã có một số tiền để ban đầu là công nghiệp đã phát
triển triển đến trình độ nhất định dưới chủ nghĩa tư bản trước đây, dù trong
thời kỳ nội chiến (1918-1920) công nghiệp có bị tàn phá nặng nề. Bên cạnh
đó, trong thời kỳ tiến hành công hoá (1926-1940), Liên Xô bị chủ nghĩa đế quốc bao vây toàn diện nên sự trợ giúp từ bên ngoài hầu như không có. Trong
bối cảnh ấy, để tồn tại và phát triển Liên Xô phải tiến hành công nghiệp hoá
với nhịp độ nhanh, phải tập trung cao độ phát triển công nghiệp nặng, phải
hướng các ngành công nghiệp vào phục vụ nông nghiệp nhằm bảo đảm các
nhu cầu trong nước, đồng thời góp phần tăng nhanh tiềm lực quốc phòng.
Quan niệm này, nhiều năm trước đây được coi là hợp lý vàđược áp dụng ở
một số nước XHCN và các nước đang phát triển nhằm xây dựng nền kinh
tếđộc lập tự chủ. Thực tế, việc sao chép một cách máy móc mô hình công
nghiệp hoá của Liên Xôđã không đem lại kết quả như mong muốn ở những
nước này.
Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hợp quocó (UNIDO) đãđưa ra
định nghĩa sau đây (vào năm 1963): "Công nghiệp hoá là một quá trình phát
triển kinh tế, trong quá trình này một bộ phận ngày càng tăng các nguồn của
cải quốc dân được động viên để phát triển cơ cấu kinh tế nhiều ngành ở trong
nước với kỹ thuật hiện đại. Đặc điểm của cơ cấu kinh tế này là có một bộ
phận chế biến luôn thay đổi để sản xuất ra những tư liệu sản xuất và hàng tiêu
dùng, có khả năng bảo đảm cho toàn bộ nền kinh tế phát triển với nhịp độ cao,
tăng trưởng chậm lên sản xuất lớn, kỹ thuật hiện đại có năng suất cao và tăng
trưởng nhanh.
Thứ ba, công nghiệp hoá phải được đặt trong bối cảnh phát triển kinh
tế- xã hội nói chung. Đó là cách đểđạt được tăng trưởng, phát triển nhanh và
bền vững.
Tuy công nghiệp hoá có thể phát sinh những hậu quả tiêu cực nhất định
về xã hội (thất nghiệp và các hậu quả của thất nnghiệp), về môi trường (ô
nhiễm) và về văn hóa (bào mòn các giá trị truyền thống), nhưng, công nghiệp
hoá với cách hiểu trên vẫn luôn luôn là cách thức phát triển mà các quốc gia
từmột nền kinh tế lạc hậu, chủ yếu là nông nghiệp, muốn nhanh chóng vươn
lên một trình độ phát triển cao đều nhất thiết phải trải qua. Vấn đềđặt ra không phải là có nên công nghiệp hoá hay không, mà chính là tiến hành công
nghiệp hoá như thế nào? hay nói một cách khác làm thế nào để thực hiện công
nghiệp hoá một cách có hiệu quả.
1.1.1.2. "Công nghiệp hoá" và "hiện đại hoá"
Công nghiệp hoá là quá trình trang bị công nghệ và thiết bị cơ khí hoá
cho tất cả các ngành kinh tế quốc dân, trước hết là các ngành chiếm vị trí
quan trọng. Công nghiệp hoáđã làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất
với kỹ thuật, công nghệ và tổ chức sản xuất truyền thống. Hiện đại hoá là quá
trình thường xuyên cập nhật và nâng cấp những công nghệ hiện đại nhất, mới
nhất trong quá trình công nghiệp hoá. Đa số các ý kiến của các nhà nghiên
cứu cho rằng hiện đại hoá là quá trình liên tục hiện đại nền kinh tế, thay đổi
công nghệ cũ bằng công nghệ mới tiên tiến hơn. Thực chất, hiện đại hoá là cái
đích cần vươn tới trong quá trình công nghiệp hoá. Cái đích này không cốđịnh
hay duy nhất đối với một quốc gia hay một ngành nghề mà nó luôn thay đổi
theo sự phát triển của khoa học kỹ thuật và trình độ văn minh chung của nhân
loại. Nó còn phụ thuộc cả và loại ngành nghề, từng khu vực khác nhau ngay
trong một nước. Xu thế chung của thế giới ngày nay là thực hiện đổi mới
1.1.2. Bản chất của công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Trong điều kiện ngày nay, quan niệm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá
dù trên góc độ nào đó cũng có phần khác với quá trình phát triển công nghiệp.
tuy quá trình công nghiệp hoá có những đặc điểm riêng đối với từng nước,
nhưng đó chỉ là sự vận dụng một quá trình có tính phổ biến cho phù hợp với
điều kiện cụ thể của từng nước. Công nghiệp hoá, là quá trình có tác động
rộng lớn và phức tạp, bản chất của quá trình này bao hàm trên các mặt sau
đây:
Thứ nhất, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một phương thức có tính
chất phổ biến để thực hiện mục tiêu trong phát triển của hầu hết các quốc gia
trên thế giới. Mỗi nước vì có hệ thống mục tiêu riêng của mình mà lựa chọn phương thức công nghiệp hoá phù hợp. Nhưng mục tiêu chung nhất của mọi
quốc gia là nhằm tăng nhanh phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật
chất mọi mặt của mọi tầng lớp dân cư thông qua việc tạo ra cơ sở vật chất kỹ
thuật ngày càng hiện đại, huy động và sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực
của đất nước.
Thứ hai, công nghiệp hoá phải gắn liền với hiện đại hoá. Trong lịch sử
công nghiệp hoáđã diễn ra hàng trăm năm ở các nước trên thế giới, công
nghiệp hoá và hiện đại hoá luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Vì hiện
đại hoáđểđạt tới trình độ kỹ thuật hiện đại nhất là một yêu cầu cơ bản của quá
trình công nghiệp hoá. Thực tễ kỹ thuật hiện đại nhất đối với mỗi giai đoạn
lịch sử có giới hạn nhất định và luôn luôn thay đổi theo thời gian. Chính vì
vậy, hiện đại hoá không phải là một quá trình độc lập mà là một hoạt động có
tính liên tục của công nghiệp hoá gắn liền với sự tiến bộ của khoa học kỹ
thuật, hay là một quá trình kế tiếp đểđạt được mục tiêu của công nghiệp hoá.
Vào thế kỷ 18-19 ở Anh và Tây Âu thì hiện đại hoá là việc áp dụng máy móc
với hệ thống động lực máy hơi nước thay thế cho lao động cơ bắp. Đến thế kỷ
20 cóđiện năng thì hiện đại hoá chính là dựa trên điện khí hoá như khẩu hiệu
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
- Hoạt động dịch vụ cả phục vụ sản xuất và phục vụđời sống làđiều kiện
không thể thiếu để phát triển kinh tế và nâng cao đời sống dân cư. Không thể
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhanh trên cơ sở hệ thống dịch vụ và kết cấu hạ
tầng kinh tế - xã hội yếu kém. Để tạo tiền đề cho công nghiệp hoá, hiện đại
hoá cần chú trọng đầu tư thoảđáng phát triển dịch vụ kết cấu hạ tầng để phát
triển sản xuất và thu hút nguồn lực từ bên ngoài. Trong các giai đoạn của quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, vị trí của khu vực dịch vụ sẽ có sự thay
đổi căn bản trong cơ cấu kinh tế quốc dân. Hiện nay ở các nước phát triển như
Mỹ, Nhật, Tây Âu, khu vực dịch vụ chiếm trên 60% trong GDP [103]. Thứ tư, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là sự kết hợp chặt chẽ của các
quá trình kinh tế - kỹ thuật - xã hội - môi trường. Quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá là sẽđe lại cho đất nước trình độ kỹ thuật công nghệ ngày càng
hiện đại, kinh tế ngày càng vững mạnh. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng
nâng cao dân trí, mức sống dân cư và phát triển xã hội ngày càng văn minh.
Như vậy, trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá, quá trình kinh tế - kỹ thuật xây
dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho việc thực hiện mục tiêu của quá trình kinh
tế- xã hội. Trong khi đó, quá trình kinh tế - xã hội mang lại động lực quan
trọng cho thực hiện mục tiêu của quá trình kinh tế - kỹ thuật.
Thứnăm, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá còn là quá trình mở
rộng quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế. Ngày nay, mở rộng phân công lao động
quốc tế và xu thế toàn cầu hoá kinh tếđang diễn ra như một tất yếu. Mỗi quốc
gia là một bộ phận của hệ thống kinh tế thế giới, chịu ảnh hưởng của biến
động kinh tế thế giới và có tác động ở mức độ khác nhau đến kinh tế của các
nước khác. Vì vậy, việc xác định mục tiêu, phương thức công nghiệp hoá,
hiện đại hoáở mỗi nước cần dựa trên cơ sở phân tích và dự báo những biến
động kinh tế - xã hội chung của khu vực và toàn cầu. Việc xây dựng hệ thống
kinh tế quốc gia mở và tăng cường hợp tác kinh tế và phân công lao động
Giữa công nghiệp hoáở các nước đi theo con đường TBCN vàở nước ta
và các nước theo con đường XHCN có những khác nhau về nhiều mặt, quan
trọng nhất là về bản chất xã hội [4, tr516]. Tuy cùng mục đích là biến một nền
kinh tế nông nghiệp thành nền kinh tế công nghiệp, nhưng do chếđộ chính trị-
xã hội nên mục tiêu của công nghiệp hoá của các nước khác nhau căn bản.
Công nghiệp hoáở các nước TBCN nhằm thay đổi vàđưa đến thắng lợi của
phương thức sản xuất TBCN mang lại lợi ích cho giai cấp tư sản, công nghiệp
hoáở nước ta nhằm mục tiêu nâng cao phúc lợi xã hội, đời sống mọi mặt của
nhân dân giữ bền vững môi trường. Công nghiệp hoáở các nước TBCN đem
lại phương tiện ngày càng tinh vi để giai cấp tư sản bóc lột nhân dân lao động và càng gây thêm phân hoá giàu nghèo, bất bình đẳng và mâu thuẫn sâu sắc
trong xã hội; còn ở nước ta nó sẽ tạo ra tiền đề cơ sở vật chất ngày càng hiện
đại trong một nền kinh tế mà người chủđích thực là nhân dân lao động, nó gắn
liền với công bằng xã hội và tiến bộ xã hội. Vì vậy, công nghiệp hoá, hiện đại
hoáở nước ta có thể tham khảo và vận dụng sáng tạo các kinh nghiệm về lựa
chọn chiến lược, các giải pháp huy động vốn, giải pháp khoa học công nghệ,
giải pháp kinh tế xã hội… của các nước đi trước nhằm mục tiêu hiện đại hoá
nhanh và giữ vững bản chất xã hội của công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo
định hưỡng XHCN.
1.1.3. Các mô hình công nghiệp hoá, hiện đại hoáở các nước đang
phát triển
Trong lịch sử công nghiệp hoá, hiện đại hoá diễn ra trên thế giới hàng
trăm năm qua có sựđa dạng về mô hình. Luận án chỉ tập trung nghiên cứu mô
hình công nghiệp hoá, hiện đại hoáở các nước đang phát triển trong những
thập kỷ gần đây. Đó là những nước trước đây vốn là thuộc địa hoặc nửa thuộc
địa của chủ nghĩa đế quốc, thực dân, đã giành được độc lập dân tộc, nền kinh
tế trong tình trạng thấp kém. Do điều kiện kinh tế - xã hội như vậy, các nước
có những điểm tương đồng với nước ta về xuất phát điểm trong tiến trình
hiện đại hoá theo chiến lược thay thế nhập khẩu, do điều kiện kinh tế - xã hội
của mình và những tác động khách quan của điều kiện kinh tế quốc tế, nên
việc xác định mục tiêu cụ thể trong chiến lược này có những điểm khác nhau.
Tuy vậy, về cơ bản các mục tiêu của mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập
khẩu có thểđược khái quát như sau:
- Khai thác nguồn lực tại chỗđểđáp ứng nhu cầu cơ bản, cấp bách của
thị trường trong nước;
- Giảm thiểu ngoại tệ chi tiêu cho nhập hàng hoá từ nước ngoài;
- Khai thác thị trường nội địa để phát triển các ngành nghề sẵn có;
- Tạo nhiều việc làm, giảm bớt lạm phát và thất nghiệp. Thực chất mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu là mỗi nước cần
phát triển mạnh mẽ việc sản xuất hàng tiêu dùng để thay thế các hàng hoá vẫn
phải nhập khẩu từ các nước tư bản. Sự phát triển như vậy sẽ mang lại tác
dụng nhiều mặt: khai thác các nguồn lực sẵn cóđể thoả mãn các nhu cầu cơ
bản và cấp thiết trong nước, mở rộng thị trường nội địa, phát triển sản xuất
hàng hoá, tạo thêm việc làm, góp phần giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc
và tiết kiệm ngoại tệ.
Chính sách và biện pháp triển khai mô hình công nghiệp hoá thay thế
nhập khẩu
Xuất phát từ mục tiêu trên, nội dung cơ bản của chiến lược công nghiệp
hoá thay thế nhập khẩu nhằm xác định được tổng cầu mỗi loại hàng hoá trong
nước qua phân tích và tính toán lượng hàng hoá thực tế phải nhập khẩu trước
đây, dựa vào tổng số và cơ cấu dân cư, mức sống. Nhìn chung, chiến lược
hướng nội lấy trọng tâm là thị trường trong nước để phát triển sản xuất và lưu
thông hàng hoá. Thực tế, chiến lược này về cơ bản không đồng nghĩa với việc
bế quan toả cảng" hay "đóng cửa" nền kinh tế, mà các quan hệ kinh tếđối
ngoại vẫn được chúý, đặc biệt là nhập khẩu các tư liệu sản xuất để sản xuất
hàng thay thế hàng nhập khẩu hay kêu gọi đầu tư nước ngoài vào các mục tiêu
còn khuyến khích các nhàđầu tư nước ngoài tham gia vào sản xuất hoặc cung
cấp công nghệ, vốn, kỹ năng quản lý. Trong quá trình ấy, những chính sách
như cốđịnh tỷ giáđồng nội tệ thường được giữở mức cao để khuyến khích
thay thế nhập khẩu; mức lãi suất rất thấp và bao cấp rộng rãi cho các doanh
nghiệp nhà nước; nhà nước kiểm soát giá cả và thương mại, đặc biệt là ngoại
thương chặt chẽ.
Nhìn chung, hầu hết các nước khi theo đuổi mô hình công nghiệp hoá
thay thế nhập khẩu đều chú trọng nhiều đến việc xây dựng hệ thống các
doanh nghiệp nhà nước. Do vậy, trong thời kỳ công nghiệp theo hướng thay thế nhập khẩu, khu vực kinh tế quốc doanh đã phát triển mạnh mẽở nhiều
nước đang phát triển [16].
Từ thực tế các nước đang phát triển vào thập kỷ 50, 60 cho thấy, chính
sách bảo hộ sản xuất và thị trường trong nước tiến triển qua ba giai đoạn: thứ
nhất, bảo hộ với cường độ cao để khuyến khích sản xuất và tiêu dùng trong
nước; thứ hai, giảm dần mức độ bảo hộ, yêu cầu các doanh nghiệp trong nước
vươn lên hạ giá thành, nâng cao chất lượng hàng hoá; thứ ba, các doanh
nghiệp trong nước khống chếđược thị trường trong nước và vươn ra thâm
nhập thị trường quốc tế.
Kết quả và hạn chế của mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu
Việc thực hiện chiến lược thay thế nhập khẩu đãđem lại sự mở mang
nhất định các cơ sở sản xuất, giải quyết công ăn việc làm, quá trình đô thị hóa
bắt đầu. Chính sách khuyến khích công nghiệp trong nước có tác dụng mở
rộng và tăng cường phát triển các doanh nghiệp cũng nhưđội ngũ doanh nhân
dân tộc trong công thương nghiệp.
Tuy vậy, thực tế cho thấy nếu dừng lại quá lâu ở giai đoạn chiến lược
thay thế nhập khẩu sẽ vấp phải những trở ngại rất lớn. Trong xu hướng quốc
tế hoá và khu vực hoá kinh tế ngày càng tăng lên dẫn đến sự liên hệ và tuỳ
thuộc tất yếu giữa các quốc gia trong quá trình sản xuất và trao đổi hàng hoá.
Thực tế cho thấy, xét về lợi ích quốc gia chiến lược này có nhiều bất lợi.
Thứ ba, mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu có tác dụng
không tốt đối với việc xuất khẩu các sản phẩm truyền thống. Để khuyến khích
sản xuất trong nước qua việc nhập khẩu hàng tư liệu sản xuất và sản phẩm
trung gian, nên tỷ giá hối đoái thường bị "nâng giá" giả tạo. Tác động của việc
này là làm giáhàng xuất khẩu tăng và giá hàng nhập khẩu giảm theo giáđồng
nội tệ. Như vậy vượt ra ngoài chủđịnh của chiến lược, các phương pháp sản
xuất cần nhiều vốn cóđiều kiện phát triển và tác động tiêu cực đến khu vực
sản xuất hàng sơ chế truyền thống do giá nông phẩm và nguyên liệu trong nước trở nên kém cạnh tranh trên thị trường thế giới. Như vậy, bảo hộ công
nghiệp không có tác dụng khuyến khích xuất khẩu hàng nông phẩm. Các
chính sách trong mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu thực tếđã làm
trầm trọng thêm bất bình đẳng về phân phối thu nhập trong nước do ưu đãi
khu vực thành thị và nhóm người có thu nhập cao, trong khi đó lại phân biệt
đối xửđối với khu vực nông thôn và nhóm người có thu nhập thấp.
Thứ tư, chiến lược thay thế hàng nhập khẩu có khi còn gây tiêu cực với
công nghiệp trong nước. Nhiều ngành "công nghiệp non trẻ" chẳng bao giờ
mạnh lên vì họ bằng lòng nấp đằng sau hàng rào thuế quan bảo hộ. Trong
thực tế, chính phủ các nước đang phát triển thường vận hành các ngành công
nghiệp được bảo hộ theo kiểu các doanh nghiệp nhà nước. Hơn nữa, bằng
việc tăng chi phíđầu vào cho các ngành công nghiệp có liên hệ với bên ngoài
trong tương lai và bằng việc mua sản phẩm đầu vào của mình từ các nguồn
cung ứng nước ngài mà không thông qua mối quan hệ cóđi có lại với các nhà
cung ứng trong nước. Thực tế các doanh nghiệp sản xuất hàng thay thế nhập
khẩu kém hiệu quảđã làm mất đi khả năng về quá trình công nghiệp hoá
hướng nội. Vì thực hiện mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu nói
chung thường được bảo hộ bằng thuế quan và tăng cường các biện pháp hành
chính. Điều đó làm cho các doanh nghiệp thiếu cơ hội tìm kiếm ưu thế cạnh
nhanh xuất khẩu. Nhân tố then chốt trong toàn bộ quá trình này là chính phủ
sở tại tạo những điều kiện tốt nhất để hấp dẫn đầu tư trực tiếp của tư bản nước
ngoài, đồng thời tiến hành những cải cách kinh tế trong nước tạo môi trường
thuận lợi cho vốn đầu tưđược sử dụng có hiệu quả hơn;
- Thực hiện mở cửa nền kinh tế hướng ra thị trường nước ngoài nhằm
khai thác lợi thế so sánh trong trật tự phân công lao động quốc tế;
- Đa dạng hoá trong sản xuất, kinh doanh trên cơ sở khai thác tối đa
nguồn lực để tăng nhanh xuất khẩu; Vai trò vốn nước ngoài và các công ty
ngoại quốc được nhấn mạnh hơn. Như vậy, trong thời kỳ công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu, ảnh
hưởng của tư bản nước ngoài với thị trường địa phương làđáng kể. Các nước
chủ nhà thực sự mở cửa tiếp cận với các lực lượng thị trường tự do cạnh tranh
quốc tế. Chính tự do cạnh tranh là yếu tố quan tọng để thúc đẩy sự phát triển.
Cho nên, với các chủđầu tư thì chiến lược này thực chất là dựa vào các quan
hệ kinh tế quốc tếđể xây dựng những nền tảng kinh tế và các lực lượng xã hội
ở các nước sở tại. Đây cũng làcơ hội thuận lợi cho các nước tiếp nhận đầu tư
thu hút được vốn, công nghệ và kinh nghiệm tổ chức, quản lý, kinh doanh
hiện đại nhằm tăng nhanh nhịp độ công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước.
Chính sách và biện pháp triển khai chiến lược công nghiệp hoá hướng
về xuất khẩu
Công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu không phải chỉ thuần tuý là xây
dựng các ngành công nghiệp xuất khẩu, mà nội dung quan trọng hơn của nó là
xây dựng cơ cấu công nghiệp mới theo hướng hiện đại hơn, cóđủ sức chuyển
đổi cơ cấu nền kinh tế và thúc đẩy xuất khẩu, dựa trên cơ sở kết hợp những
nhân tố thuận lợi bên ngoài với phát huy các lợi thế trong nước. Ngoại thương
đã trở thành động lực quan trọng trong phát triển kinh tế tạo ra mối quan hệ
chặt chẽ giữa thị trường nội địa và bên ngoài nhằm tạo ra mô hình tăng trưởng
rút ngắn.
khoản chi cho nghiên cứu và triển khai được tính như là số vốn giữ lại để chi
phí vận hành sản xuất; (2) Đơn giản đến mức tối đa thủ tục cấp giấy phép
nhập công nghệ nếu thời gian sử dụng công nghệđó dưới một mức quy định
(ví dụở các NICs châu Á là dưới 10 năm) và quy định mức thuê nhượng công
nghệ dưới giá mức giá trị bán ra thuần tuý (ở các NICs châu Á là dưới 10%);
(3) Các giấy phép nhập công nghệ nước ngoài có thểđược giải quyết một cách
đơn giản là báo cáo với bộ chủ quản vàđảm bảo không làm sai chất lượng mà
nhà nước xuất khẩu công nghệ quy định. - Nới lỏng những quy định về tỷ lệđầu tư, hồi hương vốn và lợi nhuận,
tái đầu tư, gồm: (1) Thủ tục và quy định xét duyệt đầu tưđược nới lỏng theo
hướng đơn giản hoá, tạo điều kiện khuyến khích tối đa việc đầu tư (ở một
sốnước NICs cho phép vốn của nước ngài có thể chiếm từ 50% đến 100%,
thay cho việc giới hạn tỷ lệđầu tư của nước ngoài tối đa là 50% vốn cốđịnh
tuỳ theo thứ tựưu tiên trong ngành công nghiệp). Đối với những dựán mà vốn
của nước ngoài chỉ chiếm dưới 50% thìđơn xin phép sẽđược tựđộng phê
chuẩn ngay sau khi nộp. Dựán nào có số vốn pháp định của nước ngoài trên
50% thì cũng chỉ cần bộ chủ quản hữu quan xem xét; (2) Công bằng trong đối
xử giữa các doanh nghiệp nước ngoài với các doanh nghiệp trong nước; (3)
Cho phép hồi hương vốn và lợi nhuận về nước bất kỳ lúc nào. Ở các nước
châu Áđã xoá bỏ quy định về thời hạn 2 năm cho việc hồi hương sau khi đầu
tư; (4) Xoá bỏ những quy định hạn chế phạm vi tái đầu tư của tư bản nước
ngoài, cho phép tái đầu tư không chỉ thực hiện trong khuôn khổ công ty đã có
vốn gốc mà có thểđầu tư vào dựán hoàn toàn mới; (5) Nếu các chủđầu tư
muốn thay đổi những hạng mục vàđiều kiện đầu tư không nằm trong danh
mục phải xin phép chính phủ thì chỉ cần báo cáo vắn tắt với bộ chủ quản làđủ;
(6) Giảm dần danh mục các ngành công nghiệp thuộc loại cấm hoặc hạn
chếđối với các nhàđầu tư nước ngoài (như ngành dịch vụ công cộng vốn
thuộc địa bàn hoạt động của chính phủ nước sở tại và tư bản địa phương, hoặc
những hoạt động tiếp thịđể tìm thị trường bên ngoài cho các cơ sở xuất
khẩu… Những nỗ lực này luôn luôn là vấn đềđược nhà nước sở tại quan tâm.
- Thu hút công nghiệp nước ngoài và phát triển khoa học - kỹ thuật
phục vụ cho xuất khẩu. Thực tế kết quả của chiến lược hướng ngoại phụ
thuộc rất lớn vào khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới. Giải pháp có
tính chất then chốt là làm chủđược công nghệ mới để vừa hạ thấp chi phí sản
xuất, vừa nâng cao chất lượng sản phẩm và tạo cơ sở chế tạo nhiều mẫu mã
mới. Những lợi thế vốn có như lao động dồi dào và giá rẻ, hay nguồn tài
nguyên thiên nhiên phong phú, ngày càng mất đi lợi thế. Về vấn đề này, các nước và lãnh thổ theo đuổi mô hình công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu đãý
thức được điều đó.
Do vậy, việc nắm bắt vàđuổi kịp các nước phát triển cần có sựđóng góp
quyết định của khoa học công nghệ. Thời kỳđầu, ở mức độ kỹ thuật thấp và
trung bình, các nước hướng về xuất khẩu chỉ thuần tuý nhập dây chuyền công
nghệ của nước ngoài để lắp ráp hoặc gia công sản phẩm cho các công ty nước
ngoài. Việc nghiên cứu và triển khai công nghệđược duy trìở mức hạn chế về
vốn cũng như quy mô hoạt động. Về sau này, khi họ bắt đầu đổi mới cơ cấu
ngành chuyển trọng tâm từ nông nghiệp sang công nghiệp, cơ cấu thành phẩm
từ dung lượng kỹ thuật thấp và lao động cao sang thành phẩm có hàm lượng
vốn lớn, kỹ thuật và trình độ tay nghề cao hơn thì tất cả những nhà hoạch định
chính sách đều hiểu rõ tầm quan trọng sống còn của cải tiến kỹ thuật, đổi mới
công nghệ. Do vậy, các chương trình nghiên cứu và triển khai công nghệđã
trở thành mối quan tâm nhiều hơn của không chỉ nhà nước mà của cả các
doanh nghiệp.
Nguồn lực kỹ thuật được chuyển vò và hấp thụ thông qua chuyển giao
công nghệ dưới dạng đầu tư trực tiếp, mua hoặc thuê giấy phép công nghệ,
mua thiết bị toàn bộ, thuê chuyên gia nước ngoài, gửi người đi đào tạo nước
ngoài. Công nghệ mới được du nhập vào các nước công nghiệp hoá hướng về
nghệ tiên tiến để rút ngắn khoảng cách với các nước công nghiệp phát triển.
* Kết hợp giữa xuất khẩu và nhập khẩu
Công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu là chiến lược đòi hỏi sự kết hợp
của cả bảo hộ sản xuất trong nước với trợ cấp xuất khẩu như trợ cấp tín dụng
xuất khẩu, miễn hoặc giảm thuếđối với các ngành sản xuất hàng xuất khẩu
hoặc liên quan đến xuất khẩu, cho phép sử dụng những khoản thu được nhờ
xuất khẩu để nhập khẩu, miễn hoặc giảm thuế nhập khẩu những hàng hoá và
dịch vụ có liên quan tới xuất khẩu, tìm hiểu thị trường nước ngoài cho các nhà
sản xuất hàng xuất khẩu.