Tài liệu Tiểu luận "Vấn đề cơ bản về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn" - Pdf 95

Trường
Khoa………………….

TIỂU LUẬN "Vấn đề cơ bản về công
nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp và nông thôn" 1
I. LỜI MỞ ĐẦU
Công nghiệp hoá nông nghiệp và nông thôn là quá trình vô cùng
quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, nhất là
những nước đang phát triển như nước ta hiện nay. Một đất nước bị

II. NỘI DUNG
A. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG NGHIỆP, HOÁ
HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG THÔN
1. Thế nào là công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn
Công nghiệp hoá hiện đại hoá và nông thôn được thế giới định
nghĩa theo nhiều cách khác nhau đó chính là một quá trình lâu dài cần
được tiến hành theo cách tuần tự không thể nóng vội, không thể tuỳ
tiện. Quá trình này được thực hiện không nhằm mục đích tự thân mà
phục vụ các mục tiêu kinh tế xã hội của nông thông cũng như của cả
nước. Nhưng đối với một nước khoa họ
c công nghệ, kinh tế Nhà nước
giữ vait rò chủ đạo thì Đảng và Nhà nước Việt Nam đã xác định: công
nghiệp hoá là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản
xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng sức lao
động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động
cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến hiện đại dựa
trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ tạo
ra năng suất lao động xã hội cao. Khái niệm công nghiệp hoá này được
Đảng ta xác định rộng hơn những quan niệm trước đó bao hàm cả về
hoạt động sản xuất kinh doanh, cả về dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội,
được sử dụng bằng các phương tiện và các phương pháp tiên tiến hiện
đại cùng với kỹ thu
ật và công nghệ cao. Như vậy công nghiệp hoá mới
teo tư tưởng mới không bó hẹp trong phạm vi trình độ các lực lượng
sản xuất đơn thuần kỹ thuật đơn thuần để chuyển lao động thủ công
thành lao động cơ khí như quan niệm trước đây.
Theo tinh thần của nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
VIII và Hội nghị Trung ương lần thứ VII công nghiệp hoá nông thôn là

3

hiện đại, trang thiết bị được quản lý tốt mà cơ sở vật chất nghèo không

4
phù hợp thì cũng không có hiệu quả. Vì vậy phải tạo ra hệ thống cơ sở
hạ tầng thích hợp với việc đưa máy móc thiết bị mới vào nông thôn.
Như vậy, công nghiệp hoá nông thôn không có nghĩa là chỉ phát
triển công nghiệp ở nông thôn mà bao gồm cả việc phát triển toàn bộ
các hoạt động, các lực lượng sản xuất dịch vụ và đời sống văn hoá tinh
thần ở nông thôn và cả
nước nói chung.
Công nghiệp hoá nông nghiệp là một bộ phận của công nghiệp
hoá nông thôn. Nội dung chủ yếu là đưa máy móc thiết bị, ứng dụng
các phương pháp sản xuất kiểu công nghiệp, các phương pháp và hình
thức tổ chức kiểu công nghiệp và các lĩnh vực của sản xuất nông
nghiệp. Công nghiệp hoá nông thôn còn bao hàm cả việc tạo ra sự gắn
bó chặt chẽ giữa sản xuất công nghiệp với sản xu
ất nông nghiệp nhằm
khai thác triệt để lợi thế của nông nghiệp, nâng cao hàm lượng chế biến
sản phẩm của nông nghiệp để tăng giá trị của chúng, mở rộng thị
trường cho chúng.
Hiện đại hoá là quá trình liên tục nâng cao trình độ khoa học, kỹ
thuật và công nghệ vào sản xuất và đời sống ở nông thôn, cải thiện tổ
chức sản xuất và hoàn thiện đời sống ở nông thôn, tạ
o ra một nền sản
xuất trình độ ngày càng cao, cuộc sống ngày càng văn minh, tiến bộ.
Hiện đại hoá nông thôn không chỉ bao gồm công nghiệp hoá, nâng cao
trình độ kỹ thuật - công nghệ và tổ chức trong các lĩnh vực khác của
sản xuất vật chất ở nông thôn mà con bao gồm cả việc không ngừng
nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng
xã hội hệ thống giáo d

đường lối công nghiệp hoá là nhiệm vụ trung tâm xuyên suốt thời gian
quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Công nghiệp hoá ở nước ta trước hết là
quá trình thực hiện mục tiêu xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Đó
là một quá trình thực hiện chiến l
ược phát triển kinh tế - xã hội nhằm
cải tiến một xã hội nông nghiệp thành một xã hội công nghiệp gắn với
việc hình thành từng bước quan hệ sản xuất tiến bộ, ngày càng thể hiện

6
đầy đủ hơn bản chất ưu việt của chế độ xã hội mới xã hội chủ nghĩa.
Nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội với xuất phát điểm là nền nông nghiệp
lạc hậu, bình quân ruộng đất thấp, 80% dân cư có mức thu nhập thấp,
nghèo đói, sức mua hạn chế nếu không muốn nói là không thể mua nối
hàng hoá cho tiêu dùng.Một đất nước sống dự
a chủ yếu vào nông
nghiệp lạchậu, canh tác trên ruộng đất nghèo nàn, cơ sở vật chất thô sơ,
tự chế tạo là chính. Đời sống phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, lại bị chiến
tranh và xã hội phong kiến tàn phá, Đảng và Nhà nước như bước lên từ
con số không. Vì vậy nhất thiết phải tiến hành công nghiệp hoá để tạo
ra những điều kiện vật chất kỹ thuậ
t cần thiết, thúc đẩy chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực.
Để không ngừng tăng năng suất lao động làm cho nền kinh tế
tăng trưởng nhanh, nâng cao đời sống vật chất và văn hoá cho nhân
dân, thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội, bảo vệ và cải thiện môi
trường sinh thái.
Nhân tố trung tâm của nền kinh tế xã hộ
i chủ nghĩa chính là
người lao động. Con người đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá con người sáng tạo ra máy móc,

Thành tựu công nghiệp hoá tạo ra tiền đề kinh tế cho sự phát triển đồng
bộ về
kinh tế - chính trị, văn hoá xã hội, quốc phòng và an ninh. Thành
công của sự nghiệp công nghiệp hoá nền kinh tế quốc dân là nhân tố
quyết định sự thắng lợi của con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng và
nhân dân ta đã lựa chọn. Chính vì vậy mà công nghiệp hoá kinh tế được
coi là nhiệm vụ trọng tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội.
3. Nội dung chủ yếu của công nghiệp hoá nông nghiệp nông
thôn nước ta
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp là quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá lớn, gắn

8
với công nghiệp chế biến và thị trường, thực tiễn cơ khí hoá, điện khí
hoá, thuỷ lợi hoá, ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ trước hết
là nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng hiệuq ủa, sức cạnh
tranh của nông sản hàng hoá trên thị trường. Ngoài ra công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nông nghiệp cũng chính là phát triển lực lượng sản xuất,
cơ sở vậ
t chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội.Trên cơ sở thực hiện cơ
khí hoá nền sản xuất xã hội và áp dụng những thành tựu khoa học công
nghệ hiện đại.
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá trước hết là quá trình cải
biến lao động thủ công lạchậu thành lao động sử dụng máy móc tức là
phải cơ khí hoá nền kinh tế quốc dân. Nền nông nghiệp với kỹ thuậ
t thủ
công, lao động chân tay thì không thể gọi là nền nông nghiệp phát triển
được, nhất là nền nông nghiệp đó lại phải gánh trên vai cả một nền kinh
tế. Nông nghiệp lạc hậu làm cho đời sống của nhân dân nghèo đói bởi

vị trí lao động của con người. Máy móc hi
ện đại làm tốn ít nhân lực
hơn, con người lao động cũng được giám bắt khối lượng công việc từ
đó tăng nhanh lực lượng lao động của các ngành công nghiệp và dịch
vụ.
Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, quy hoạch phát triển
nông thôn bảo vệ môi trường sinh thái, tổ chức lại sản xuất và xây dựng
quan hệ sản xuất phù hợp cũng là nội dung chính của công nghi
ệp hoá,
hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn. Nếu chỉ biết đưa máy móc thiết bị
hiện đại vào trong sản xuất nông nghiệp thì sẽ làm hỏng, lãng phí máy
móc khi cơ sở hạ tầng không phù hợp. Vì vậy song song với cải tiến
máy móc thiết bị là xây dựng cơ sở vật chất đầy đủ và hiện đại.Nhưng
phát triển nông thôn không chỉ là sự phát triển đại trà tất cả các vùng,
miền mà phải chọ
n ra từng khu vực trọng điểm. Những khu vực trọng
điểm phải phù hợp với từng ngành như nông, lâm, thuỷ sản từ đó có
những chiến lược phát triển những ưu điểm từng vùng để những ưu
điểm đó phát huy phát triển các ngành nghề. Các ngành nghề được ưu
tiên phát triển nhất là các ngành nghề thủ công gia truyền nhưng vấn đề

10
môi trường cũng lại được đặt ra cấp thiết. Một ví dụ đơn giản là làng
gồm Bát Tràng, là một làng nghề cổ truyền lâu đời, sản phẩm hàng hoá
được bán rộng rãi nhưng vài năm trước khi chưa áp dụng phương pháp
nung bằng gas mà nung gốm bằng than gây nên ô nhiễm cho cả một
vùng rộng lớn.Nếu biện pháp nung gốm bằng gas không kịp thời ra đời
thì cả làng nghề sẽ bị ô nhiễm b
ởi khói than và bụi gây nên căn bệnh về
phổi. Bởi vậy phát triển nông thôn bảo vệ làng nghề cũng phải song

nền kinh tế, các chính sách công
nghiệp hoá hầu như chưa quan tâm xử lý tổng thể và hợp lý mối quan
hệ giữa nông thôn và thành thị. Trong nhiều thập kỷ, chiến lược ưu tiên
phát triển công nghiệp nặng trên thực tế chưa có tác động tích cực cho
việc tăng cường mối liên kết giữa thành thị và nông thôn. Trong những
giải pháp tiến hành, chưa đặt đúng vai trò ngành nghề và công nghiệp
nông thôn như một khâu trung gian để qua đó th
ực hiện chuyển giao
công nghệ, một mặt công nghiệp tác động vào nông nghiệp, mặt khác
các hoạt động nông nghiệp hoặc mang tính nông nghiệp có thể chuyển
dần sang công nghiệp. Có thể nói đây chính là khuyết tật cơ cấu cả về
phương diện ngành lẫn lãnh thổ, là khâu ách tắc của quá trình công
nghiệp hoá. Có lẽ đây cũng là một nguyên nhân hạn chế khiến sau
nhiều thập kỷ tiến hành công nghiệp hoá đến nay về
cơ bản Việt Nam
vẫn còn là một nước nông nghiệp mang tính tự cung tự cấp. Nếu thời
gian tới thiếu những thể chế và giải pháp thiết thực thúc đẩy công
nghiệp hoá nông thôn phát triển, thì tăng trưởng kinh tế nông thôn và
kinh tế Việt Nam nói chung sẽ khó có sự phát triển bền vững.
Nghiên cứu nhiều vùng cụ thể ở nhiều vùng cũng cho thấy, công
nghiệp nông thôn ở Việt Nam có trình độ công nghệ và dịch v
ụ thấp
hơn rất nhiều so với thành phố.Trên thực tế công nghiệp được xây dựng
ở nông thôn hiện nay chủ yếu dùng công nghệ cũ được thải loại từ các
vùng đô thị mang vào.

12
Là một bộ phận của kinh tế nông thôn, hoạt động của công nghiệp
nông thôn chịu tác động của sản xuất nông nghiệp mang tính chu kỳ,
việc cung cấp nguyên liệu và sử dụng lao động trong năm có sự biến

13
nghiệp, ngoài ra còn một yếu tố vô cùng quan trọng nữa đó là giá thành
sản phẩm. Giá thành của một sản phẩm còn được coi là yếu tố cơ bản
nhất trong cạnh tranh giữa các công ty với nhau. Các doanh nghiệp khi
muốn tăng lợi nhuận kinh doanh, tăng khối lượng sản phẩm bán ra
nhưng khách hàng lại cực kỳ khó tính. Họ luôn muốn mua được những
hàng hoá rẻ nhất, chất lượng thì tốt nhất, vì vậ
y phá giá thành là đánh
đúng tâm lý của người tiêu dùng. Nhưng không phải cứ giảm thật mạnh
giá mà không quan tâm tới lợi nhuận của doanh nghiệp. Giảm giá quá
thấp thì chỉ bán được sản phẩm nhiều thì doanh nghiệp cũng không thể
có lãi. Đối với các doanh nghiệp ở nông tôn thì cách giảm giá duy nhất
chỉ có thể là cải tiến trong lĩnh vực sản xuất. Phân định rõ và kết hợp
hài hoà các tầng lớp công nghệ trong tổ chức sả
n xuất sẽ tạo thuận lợi
để xác định quy mô vùng nguyên liệu gắn liền với việc sơ chế và kinh
tế tập trung. Như vậy doanh nghiệp sẽ tiết kiệm một lượng chi phí dùng
cho vận chuyển hao mòn máy móc ngoài ra còn tạo được việc làm cho
số lao động nông thôn, đồng thời với nâng cao chất lượng và hạ giá
thành nông sản.
Một trong những tình trạng chung của công nghiệp nước ta hay
nói cách khác là những nước đang phát tri
ển đó là mới bước đầu đi vào
quá trình phát triển đất nước phát triển nền kinh tế nên quá trình phát
triển đó còn mang nặng tính tự phát, phân tán tuỳ tiện với quy mô thì
nhỏ bé. Vì vậy càng làm cho quá trình công nghiệp hoá nông thôn trở
nên khó khăn hơn. Do dân trí của con người nông thôn thấp, không
được đào tạo cụ thể để có những hiểu biết nhất định nên hậu quả tất yếu
là càng phát triển mạnh công nghiệp nông thôn thì mức độ ô nhi
ễm môi

Trong những thập kỷ gần đây Việt Nam đã có những bước
đi
quan trọng đưa nền kinh tế phát triển đi lên.Nhưng song hành cùng với
đó là những khó khăn, những sai lầm cần phải khắc phục. Vấn đề trọng

15
tâm là phải có một chính sách phù hợp để đưa đất nước phát triển đi lên
sánh tầm cùng với các nước trên thế giới.
Một số thành tựu to lớn của các nước trong khu vực đã cho Việt
Nam rất nhiều kinh nghiệm quý báu phục vụ đắc lực cho nền kinh tế
Việt Nam. Như Trung Quốc là một ví dụ điển hình bởi Trung Quốc là
quốc gia đất rộng, người đông như
ng họ lại có những thành tựu to lớn
về nông nghiệp trong thời kỳ cải cách. Đó là sự phát triển của công
nghiệp thành thị và công nghiệp nông thôn (còn gọi là các xí nghiệp
hương trốm). Trong thời kỳ cải cách, công nghiệp nông thôn mang đặc
thù Trung Quốc phát triển mạnh đã thu hút 100 triệu lao động nông
thôn, tạo ra giá trị sản phẩm công nghiệp nông thôn vượt giá trị sản
lượng nông nghiệp, làm cho nhiều làng quê trở nên giàu có trù phú nhờ
các xí nghiệp hươ
ng trốm. Từ đó ta có thể thấy rằng, trong điều kiện
đặc thù của các nước châu Á, nông nghiệp thực sự là điểm tựa của
công nghiệp hoá nông thôn. Để phát triển công nghiệp hoá nông thôn,
các nước như Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc và ngay cả Trung Quốc
đã đẩy mạnh cơ giới hoá hiện đại hoá nông nghiệp và đã thành công
trong lĩnh vực này họ đã sáng tạo ra thiết bị công nghệ thích hợ
p với
phương thức sản xuất lúa Châu Á và với quy mô trang trại gia đình nhỏ
bé. Các nước này đã đưa công nghiệp vào nông thôn, tăng thu nhập cho
nông dân tạo ra nguồn vốn đầu tư cho cơ giới hoá, các nước này còn

tiên phải phát triển toàn diện nông lâm ngư nghiệp, hình thành nên các
vùng tập trung chuyên canh có cơ cấu hợp lý về cây trồng, vật nuôi, có
sản phẩm hàng hoá nhiều về số lượng tốt về chất lượng, đảm bảo an
toàn về lương thực trong xã hội đáp ứng được yêu cầu của công nghệ
chế biến của thị trường trong và ngoài nước. Ngoài ra phải phát triển
công nghiệp chế biến nông lâm thuỷ sả
n, với công nghệ ngày càng cao
gắn với nguồn nguyên liệu và liên kết với công nghiệp ở đô thị. Bên
cạnh đó phải phát triển các ngành nghề, làng nghề truyền thống và các
ngành nghề mới bao gồm: tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp sản xuất
hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, công nghiệp khai thác và chế biến các
nguồn nguyên liệu phi nông nghiệp, các loại hình dịch vụ, phục vụ sản

17
xuất và đời sống nhân dân. Kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội cũng phải
được xây dựng, củng cố và đổi mới, từng bước hình thành nông thôn
mới văn minh và hiện đại.
Định hướng cuối cùng đó là hoàn thành cơ bản việc giao đất giao
rừng cho hộ nông dân. Có chính sách hợp lý trợ giúp, khuyến khích
nông dân giải quyết khó khăn về vốn, giá cả vật tư nông nghiệp, thị
trường tiêu th
ụ sản phẩm việc Đại hội Đảng lần thứ VIII đề ra định
hướng lớn có tính chất chiến lược và những nội dung cơ bản về công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nước ta trong thời gian phát triển
kinh tế xã hội đất nước, là một trong những tiền đề có ý nghĩa quyết
định đối với nước ta khi tiến vào thế kỷ XXI.
b. Giải pháp cơ bản để
tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá
nông nghiệp nông thôn nước ta hiện nay
Để hoàn thiện quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông

đầu lợi ích kinh tế giữa người sản xuất
nguyên liệu với các cơ sở thu mua chế biến kinh doanh nông lâm thuỷ
sản.
Phải xây dựng được mối quan hệ sản xuất phù hợp kinh tế hộ
nông dân và nền kinh tế nhiều thành phần tồn tại lâu dài trong quá trình
công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn. Mọi thành phần
kinh tế đều có vai trò quan trọng và đều được phát triển theo định
hướng xã hội chủ
nghĩa. Nhà nước cần tạo mọi điều kiện thuận lợi để
kinh tế hộ gia đình phát triển, quy mô sản xuất hàng hoá ngày càng lớn
và phát triển kinh tế trang trại. Khuyến khích hỗ trợ và tạo điều kiện
phát triển kinh tế hợp tác xã trên cơ sở liên kết hợp tác tự nguyện giữa
các hộ gia đình và các trang trại bằng nhiều hình thức, nhiều quy mô
nhiều cấp độ
đa dạng để nâng cao hiệu quả kinh tế hộ gia đình và kinh
tế xã hội nông thôn. Hợp tác xã phải tập trung tìm đầu vào và đầu ra
cho sản xuất nông nghiệp, tổ chức thực hiện tốt việc quy hoạch và
hướng dẫn nông dân ứng dụng khoa học công nghệ mới, chuyển đổi cơ
cấu sản xuất. Nhà nước hỗ trợ hợp tác xã đào tạo cán bộ và có chính

19
sách thúê phù hợp đối với các hoạt động dịch vụ. Phát triển quỹ tín
dụng nhân dân ở xã để phát triển nông nghiệp nông thôn.
Khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển sản xuất, kinh doanh các
ngành nghề truyền thống đa dạng và phong phú. Đây là lực lượng quan
trọng có khả năng thu hút được nhiều lao động, tăng năng lực chế biến
tiêu thụ nông sản, dịch vụ kỹ thuật và đời số
ng nông thôn. Cần có chính
sách phù hợp và bình đẳng với các thành phần kinh tế khác nhau, nhất
là các chính sách về đất đai, tài chính, tín dụng…

hoạch cơ sở hạ tầng và đô thị, quy hoạch bố trí lại dân cư, xây dựng
làng xã nhưng phải gắn với bảo vệ môi trường và giữ gìn bản sắc văn
hoá dân tộc. Nhiệm vụ của các cấp chính phủ được đặt ra hết sức nặng
nề khi phải làm tốt quy hoạch, định hướng phát triển, chuyển giao khoa
học công nghệ, đào tạo nhân lự
c, phát triển các dịch vụ công cộng đảm
bảo ổn định chính trị, an ninh trật tự xã hội, chỉ có như thế mới thu hút
được đầu tư vào các vùng ở nông thôn.
Nước ta là một nước có nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu, kinh phí
không đủ để theo đuổi các dự án nghiên cứu khoa học vì vậy phải đẩy
mạnh việc nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao khoa học công nghệ và
coi đây là khâu đột phá quan trọ
ng nhất để thúc đẩy phát triển nông
nghiệp và kinh tế nông thôn trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá nông nghiệp nông thôn. Đổi mới cơ chế quản lý khoa học, nhất là
cơ chế quản lý tài chính và nhân sự để nâng cao hiệu quả kinh tế. Nhà
nước phải có chính sách đầu tư thoả đáng cho nghiên cứu khoa học
nông nghiệp để sớm hiện đại hoá hệ thống sản xuất đáp ứng tốt yêu cầu
sản xu
ất hàng hoá lớn chất lượng cao, tạo điều kiện hình thành các
trung tâm nghiên cứu khoa học ứng dụng mạnh có đủ năng lực để đưa
ra những đột phá về khoa học công nghệ. Có chính sách khuyến khích
các thành phần kinh tế tham gia phát triển khoa học công nghệ. Nhà
nước dành phần kinh phí thoả đáng để nhập khẩu công nghệ tiến bộ của

21
nước ngoài,, nhất là các loại giống mới , máy móc thiết bị… phục vụ
kịp thời sản xuất.
Thực hiện một số chính sách liên quan trực tiếp đến phát triển
nông nghiệp nông thôn các chính sách về đất đai như Nhà nước tạo điều

nghèo từng bước xây dựng được cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại.
Nhưng bên cạnh đó cũng xuất hiện những khó khăn vất vả, những
vướng mắc yếu kém nhất định. Xác định đúng những tồn tại để khắc
phục tồn tại đ
ó dần dần hoàn thiện quá trình công nghiệp hoá nông
nghiệp nông thôn. Các chính sách được Chính phủ đưa ra càng củng cố
hơn quyết tâm xây dựng một nông thôn vững mạnh. Một nền nông
nghiệp cơ khí hoá, điện khí hoá, là điểm tựa vững chắc cho nền công
nghiệp hoá toàn đất nước phát triển đi lên. Dần dần đưa Việt Nam trở
thành một nước phát triển xứng tầm với các nước trong khu vực và trên
toàn thế gi
ới. Đó là mong muốn không chỉ của Đảng, Nhà nước mà là
của toàn dân tộc.

23
MỤC LỤC
I. Lời mở đầu 1
II. Nội dung 2
A. Một số vấn đề lý luận cơ bản về công nghiệp hoá, hiện đại
hoá nông nghiệp và nông thôn 2
1. Thế nào là công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn 2
2. Tại sao phải tiến hành công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn5
3. Nội dung chủ yếu của công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn
nứơc ta 7
B. Thực trạng và định hướng giải pháp 10
1. Thực trạng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn nước ta
hiện nay 10
2. Định hướng và các giải pháp cơ bản để tiến hành công nghiệp
hoá nông thôn 15
a. Định hướng tiến hành công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status