giải pháp phát huy lợi thế so sánh quốc gia của việt nam trong lĩnh vực dệt may - Pdf 11


w
TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC
NGOẠI
THƯƠNG
KHOA
KINH
TẾ
VÀ KINH
DOANH
QUỐC
TẾ
CHUYÊN
NGÀNH
KINH TÊ
ĐÔI
NGOẠI
KHÓA
LUẬN TỐT
NGHIÊP
Đề
tài:
GIẢI PHÁP PHÁT HUY
LỢI
THẾ so SÁNH
QUỐC
GIA
CỦA VIỆT NAM TRONG LĨNH vực DỆT MAY
(THƯ

tháng
5
năm
2010
-Ế
MỤC
LỤC
LỜI
MỞ
ĐÀU
Ì
CHƯƠNG
ì:

THUYÉT

LỢI
THỂ so
SÁNH
QUỐC
GIA, NĂNG
Lực
CẠNH TRANH VÀ
KHÁI QUÁT VỀ NGÀNH DỆT
MAY
VIỆT
NAM
4
ì.


của
nguyên
tắc lợi thế so
sánh
6
4.
Lợi
thế so
sánh
về giá
yếu
tố
đầu vào
7
li.

THUYẾT
VÈ NĂNG Lực
CẠNH TRANH
QUÓC GIA
7
HI.
KHÁI QUÁT VỀ NGÀNH DỆT
MAY
VIỆT
NAM 9
/.
Quá
trình hình thành


DỆT MAY
TRONG
THỜI
GIAN
QUA 14
1.
Thực
trạng
sản
xuất
của
các
(loanh nghiệp
14
1.1.
Thực
trạng
nguồn
vốn
đầu tư
14
Ì .2.
Thực
trạng
thiết
bị.
công
nghệ
16
1.3.

21
2.
ỉ. ì.
Tại
thị
trường trong
nưc
22
2.1.2.
Tại
thị
trường
nưc
ngoài
23
2.2.
Mầu mã
24
2.2.1.
Tại
thị
trường trong
nưc
25
2.2.2.
Tại
thị
trường
nưc
ngoài

CỦA
NGÀNH DỆT
MAY
VIỆT
NAM
.28
1.
Nhân công
33
2.

sở
vật
chất,
và nguyên
vật
liệu
38
3.
Chính
sách
của Chính
phủ
43
4.
Vốn đầu

46
5.
Thương

cầu hóa
và hội
nhập
kinh
tế
quốc
tế
55
2.
Hiệp
định
về
hàng
dệt
may
ATC.
59
3.
Đối
thủ
cạnh
tranh
61
3.1.
Trung
Quôc
61
3.2.
Các nước
ASEAN

NGÀNH
DỆT
MAY
VIỆT
NAM 67
/.
Giải
pháp từ
phía
doanh
nghiệp
67
1.1.
Phát
triển
nguồn
nhãn
lực
67
1.2.
Cung ứng nguyên
vật
liệu
và cơ
sở vật
chất
71
1.3.
Vốn
đu tư

ngạch
83
2.
Giải
pháp từ phía
Nhà
nước và Hiệp hội dệt
may
Việt
Nam 86
2.
Ì.
Từ
phía Nhà
nước
86
2.1.1. Cải cách thù tục
hành
chính
86
2.1.2.
Các
biện
pháp
về tài chính
86
2.1.3. Biện
pháp hỗ
trợ xuất
nhập

LỜI
MỎ ĐẦU
Xu
thế
quốc
tể hóa
diễn
ra ngày càng
mạnh
mẽ. phân công
lao
động ngày
càng sâu
sắc,
hầu
hết
các
quốc
gia
đều mờ cửa nền
kinh tế
để
tận
dụng
triệt
đê
lợi
thế
so sánh của
nuớc

trường
trong
nước,
ngành
dệt
may
Việt
Nam
đã vươn
ra thị
trường
quốc
tế,
và ngày càng
thể hiện
được vị trí của mình
trong
nền
kinh
tế
quốc
dân. Sàn phẩm cùa ngành ngày càng đa
dạng,
phong
phú. khả năng
cạnh
tranh
cao trên
thị
trường,

những
quy định
tạo
thuận
lợi
cho sản
xuất
hàng
dệt
may
xuất
khẩu,
cụ
thể

chiến
lược phát
triển
kinh tế
theo
hướng
thị
trường mờ,
chuyển
đổi
cơ cấu
kinh
tế và đẩy
mạnh
công

nhưng
cũng
đủ để
chịng
tỏ
là một ngành
kinh tế
mũi
nhọn
của
đất
nước. Mặc
dù ảnh hường của
cuộc
suy thoái
kinh tế
toàn cầu đã làm cho sịc mua
tại
hầu hết
các
thị
trường
lớn
cùa ngành
dệt
may như Mỹ, EU,
Nhật
sụt
giảm
nghiêm

2009.
mặc dù còn gặp
nhiều
khó khăn do tác động của
khủng
hoàng
kinh tế, tuy
nhiên điều đáng
mừng

hiệu
quà
kinh
doanh
các
doanh
nghiệp
vẫn
khá
tốt.
Trong
9 tháng đầu năm
2009,
về cơ bản sàn
xuất
tương
đối
ổn định,
công nhân đủ
việc

mặt"
ngành dầu
khí.
Với
xu
hướng
phát
triển
không ngùng cùa ngành
dệt
may
Việt
Nam
trong
môi trường
kinh tế

nhiều
biến
động
thì
đây chính

một sự
kiện
đáng
mừng
của
ngành.
Trước

thế
so sánh của ngành
dệt
may
Việt
Nam. xu
hướng
của
thị
trường
dệt
may
thế
giới,
đánh giá các
thuận
lợi
và khó khăn của
ngành,
từ
đó đề
ra
các
biện
pháp phát huy
những
lợi
thế
của
ngành

động
của các chính sách
quậc
gia
và môi trường
quậc
tế,
đặt
ngành
dệt
may
Việt
Nam
trong
xu
thế
toàn
cầu
hóa.
Với
phương pháp duy
vật biện
chứng,
so
sánh,
tổng
họp phân
tích,
kết
hợp

hệ
thậng

khẳng
định các
kết
quả nghiên
cứu.
Khóa
tuân
tốt
nghiệp
gồm ba chương:
Chương
ì:

thuyết
về
lọi
thế
so sánh
quậc
gia,
năng
lực
cạnh
tranh

khái quát về ngành
dệt

vai
trò của
ngành
trong
nền
kinh tế
quậc
dân.
Chương
li:
Thực
trạng
hoạt
động của ngành
dệt
may
Việt
Nam và
lọi
thế
so sánh của ngành
Chương này
sẽ
phân tích
thực
trạng
sản
xuất
của
các

lọi
thế
so sánh của ngành
dệt
may
Việt
Nam
trong
thời
gian
tói
Qua
việc
đánh giá sơ bộ về xu hướng
chuyển
dịch
sản
xuất
dệt may
trong
khu
vực và
thế
giới,
nhu cầu
hội
nhập
của ngành
dệt
may

trong
quá trình công
nghiệp
hóa-hiện
đại
hóa
đất
nước.
Cuối
cùng em
xin
chân thành cảm ơn các
thầy,
cô giáo trường
Đại
học
Ngoại
Thương,
những
người
đã
truyền đạt rất
nhiều
kiến
thức

tạo
điều
kiện
thuận

hoàn thành khóa
luận
tốt
nghiệp
này.
3
CHƯƠNG
ì:

THUYẾT
VẺ
LỢI THẾ
so
SÁNH
QUỐC
GIA,
NĂNG Lực
CẠNH TRANH VÀ
KHÁI QUÁT
VỀ
NGÀNH
DỆT
MAY
VIỆT
NAM
ì. LÝ THUYẾT VÈ LỢI THỂ so SÁNH QUỐC GIA
Lợi thế
so sánh là một lý
thuyết trong kinh tế
học phát

đối

hiạu
quả hơn các
nước
khác); cũng
như
thế.
mỗi
quốc
gia
sẽ được
lợi
nếu nó
nhập
khẩu
những
hàng
hóa

minh

thể
sàn
xuất
với chi
phí tương
đối
cao
(hay

hiạu
quả
bằng
các nước khác
trong viạc
sản
xuất
mọi hàng
hóa.
Nguyên
tắc
lợi
thế
so
sảnh

khái
niạm
trọng
yếu
trong
nghiên cứu thương mại
quốc
tế.
Nhà
kinh tế
học
được
giải
thường

lợi thể
so
sánh
đêu
phái
trả
một
cái giá rất đắt
bảng
mức
sống
và tăng
trưởng
kinh tế
cùa
chinh mình."
1.
Phân tích của
Ricardo
về
lợi
thế
so
sánh
Năm
1817.
nhà
kinh tế
học
người

sau:
Bảng
Ì
-
Chi
phí
về
lao
động đế
sản
xuất
Sản
phẩm
Tại
Anh
(giờ
công)
Tại
Bồ
Đào Nha
(giờ
công)
1
đơn
vị
lúa
mỹ
15 10
1
đơn

xuất
rượu
vang

gấp
1.5
lần
trong
sản
xuất
lúa
mỹ.
Theo
suy
nghĩ
thông
4
thường,
trong
trường họp này Bồ Đào Nha sẽ không nên
nhập
khâu mặt hàng nào từ
Anh cả.
Thế nhưng phân tích của
Ricardo
đã dẫn đến
kết luận
hoàn toàn khác:
Ì đơn vị rượu
vang

vang chỉ
mất
chi
phí tương đương
với chi
phí để sản
xuất
1,5 đơn vị lúa
mở
(hay
chi
phí cơ
hội
để sản
xuất
Ì đơn vị rượu
vang
là 1,5 đơn vị lúa mở). Vì
thế
ở Bồ Đào Nha sàn
suất
rượu
vang
rè hơn tương
đối
so
với
ờ Anh.
Tương
tự

còn Anh có
lợi
thế
so sánh về sàn
xuất
lúa mở. Đê
thấy
được cả
hai
nước sẽ cùng có
lợi
nếu chì
tập
trung
vào sàn
xuất
hàng hoa mà mình có
lợi
thế
so
sánh: Bồ Đào Nha
chi
sản
xuất
rượu
vang
còn Anh
chi
sản
xuất

cả
hai
hàng hoa và
theo
chi
phí
tại
Bảng Ì thì
kết
quả là số lượng sản phẩm được sản
xuất
ra
như sau:
Bảng
ĩ - Trước khi có thương mại
Quốc
gia Số đơn
vị
lúa mỹ Số đon vị rượu vang
Anh
8 5
Bô Đào Nha
9
6
Tổng
cộng
17
li
Nếu Bô Đào Nha chì sản
xuất

12
5
Rõ ràng sau
khi
có thương mại và mỗi nước
chi tập
truna
vào sàn
xuất
hàng
hoa
mà mình có
lợi
thế
so sánh,
tổng
số lượng sàn phẩm của lúa mỹ và rượu
vang
của
cả
hai
nước đều tăng hơn so
với
trước
khi
có thương mại (là lúc
hai
nước cùng
phải
phân bổ

thay đổi theo
quy mô.
> Chi có
hai
nước sản
xuất hai
loại
sản phẩm.
> Những hàng hoa
trao
đổi giống hệt
nhau.
> Các nhân
tố
sản
xuất
chuyển
dẫch
một cách hoàn hảo.
> Không có
thuế
quan
và rào cản thương mại.
> Thông
tin
hoàn hảo dẫn đến cả
người
bán và
người
mua đều

quốc
gia
thì
lợi
thế
so sánh của
từng
hàng hoa sẽ được sắp xếp
theo thứ tự
ưu tiên từ hàng hoa

lợi
thế
so sánh cao
nhất
đến hàng hoa có
lợi
thế
so sánh
thấp nhất
và mỗi nước sẽ
tập trung
vào sản
xuất
những
mặt hàng có
lợi
thế
so sánh
từ

nước
gọi

phần
còn
lại
cùa
thế
giới

những
phân tích trên vẫn
giữ
nguyên
tính đúng đắn của nó. Lợi thế so sánh không
những
áp dụng
trong
trường hợp
thương mại
quốc
tế mà còn có
thể
áp dụng cho các vùng
trong
một
quốc
gia
một
cách hoàn toàn tương

trên
thực tế
không được như
vậy.
Những
người
sản
xuất
rượu
vang
của Anh có
thể
không dể dàng tìm được
việc
làm
(chuyển
sang
sàn
xuất
lúa mỹ)
khi
nước Anh
không sản
xuất
rượu
vang
nữa và sẽ
thất
nghiệp.
Nền

tỷ
lệ
các nhân
tố
sàn
xuất thay
đổi,
lợi
suất
giảm
dân
khi
quy

tăng


nền tàng
của
thương mại
tự
do nhưng
những
hạn chê như

dụ vẫa nêu
lại

lập luận
để bào vệ

vị
khác
nhau.
Xét trên góc độ giá
yếu
tố
đầu vào
cũng
dẫn đèn
lợi
thê
so
sánh
với
nền
tảng
công
nghệ
như
nhau:
Các nước phát
triển

cung
yếu
tố
đầu vào về tư bàn
nhiều
hơn các nước
đang phát

giá
thuê nhân
công;
ngược
lại

các nước đang phát
triển
giá thuê nhân công
lại
rẻ
hơn
tương
đối
so
với
giá thuê tư
bàn.
Nói một cách
khác,
các nước phát
triển

lợi
thế
so
sánh về giá thuê tư bản còn các nước đang phát
triển

lợi

lợi
thế
so
sánh về
những
hàng hóa này.
Điều
này lý
giải
vì sao
Việt
Nam
lại
xuất
khẩu
nhiều
sản
phẩm thô
(dầu
thô.
than
đá )
hoặc
hàng hóa có hàm
lượng
nhân công
cao
như
dệt
mav, giày

gia.
năng
lực
cạnh
tranh
doanh
nghiệp

năng
lực
cạnh
tranh
của sàn phẩm.
dịch
vụ.
Một nền
kinh
tế

năng
lực
cạnh
tranh
cao
phải

nhiều
doanh
nghiệp


thu
hút đầu tư
tốt,
bảo
đảm
ổn định
kinh
tế -

hội.
nâng cao
7
đời
sống
nhân dân.
Diễn
đàn Kinh tế thế
giới
(WEF) SỪ
dụne
8 nhóm tiêu chí sau
đây đê đánh giá năng lực
cạnh
tranh
quốc
gia:
- Mức độ mờ cùa cùa nền kinh tế. WEF sử
dụng
các tiêu chí đánh giá mức
độ hội

- Vai trò cùa các thị trường tài chính
trong
nỗ lực hỗ trợ phát
triển
và tiêu
dùng; hiệu quả cùa các tổ
chức
trung
gian
tài chính
trong
việc
chuyển
tiết
kiệm
thành vốn đầu tư; mức độ rủi ro tài chính và phân
loại
tín
dụng
quốc
gia; đầu tư ;
- Môi trường công nghệ. thể hiện qua tinh hình nghiên cứu và ứng
dụng
(R&D),
trình độ công
nghệ

kiến
thức
tích lũy được ;

của thị trường lao động. thể hiện qua các chỉ số
về tay
nghề
và năng
suất.
chất
lượng
nguồn
nhân lực, đào tạo
nahề:
tính linh
hoạt
trong
quy chế điều
tiết.
hiệu quả của các chương trình xã hội; các
quan
hệ
nghề
nghiệp
(bãi công. sức
mạnh
đàm phán của tập thể lao động );
- Môi trường pháp lý bao gồm tinh đúng đắn của các quy định pháp lý; tính
đồng bộ và hiệu quả của hệ
thống
luật pháp,
nhất
là các chỉ số đánh giá về chính
sách

tranh
quốc
gia.
8
Trong
thực
tế, việc
xếp
hạng
năng
lực cạnh
tranh
của các quôc
gia
được nhiêu tô
chức
nghiên cứu
thực
hiện,
theo
phương pháp
luận
tương tự như
nhau
trong
cơ sở
dữ
liệu

trong

của
một nước ờ vào một
thời
điểm
nào đó không chì phờ
thuộc
vào nỗ
lực
của
từng
nước
mà còn
phản
ánh tương
quan
so sánh nỗ
lực
đó
với
cài cách của các nước khác
được
xếp
hạng.

vậy,

thể
một nước có
tiến
bộ nhưng vẫn bị

của
Việt
Nam được các
tổ chức quốc
tế
bắt
đầu
xếp
hạng từ
năm 1997
khi
họ có được
những
số
liệu

tỷ
lệ
trả
lời tối
thiểu
cùa các
doanh
nghiệp
được
phỏng vấn.
Năm
2005,
xếp
hạng

doanh
về
thời
gian

tiền
bạc và các chỉ tiêu về
khoa
học
công
nghệ
được đánh giá
thấp
và chậm có
cải
tiến
trong
thực tế.
Các nghiên cứu về năng
lực cạnh
tranh
của các sản phẩm và
dịch
vờ
cũng
như về năng
lực
cạnh
tranh
cùa các

lượng đào
tạo
còn
thấp

thiếu
những lao
động có trình độ
chuyên môn
cao.
Các sản phàm và
dịch
vờ của
Việt
Nam đang bị
cạnh
tranh
rất
gay
gắt.
đòi
hỏi

những
nỗ
lực lớn
ờ cả tầm vĩ mô và
vi
mô để
giữ

đó chính là thành quà đáng tự hào của quá trình hình thành và phát
triển
từ
thời
xa
xưa của ngành này trên
thế
giới.
Mốc
lịch
sử đánh dấu sự phát
triển
mạnh
mẽ của
ngành
dệt
may là vào
the
kỷ 18
khi
máy
dệt
ra
đời
ở nước Anh và từ đó sức lao
9
động
đã được
thay thế
bàng máy móc nên năng

giới.
Kinh
tế đời
sống

hội
ngày càng phát
triển
thì nhu cầu ăn mặc không chỉ
dừng
lại
ở chỗ
chi
phục
vụ cho
việc
bào vệ cơ
thể.
sức
khỏe
con
người
mà còn đê
làm đẹp cho
cuộc
sống.

Việt
Nam. mặc dù là một nước đang phát
triển,

hình
thức
đơn
giản
thô sơ nhưng mang tính kỹ
thuốt
tinh
xảo và có giá
trị
cao.
Sau
đó,
ươm tơ
dệt
vài đã
trờ
thành một
nghề
truyền
thống
của
Việt
Nam được
truyền
từ đời
này
sang
đời
khác nhờ vào đôi bàn
tay

được.
Ngành
dệt
may
Việt
Nam
bắt
đầu phát
triển
từ
những
năm 1958 ở
miền
Bắc
và đến năm 1970 ờ
miền
Nam. nhưng mãi đến năm
1975,
sau
khi
đất nước
thong
nhất
thì ngành
dệt
may mới đi vào ổn
định.
Nhà máy được hình thành ở ba
miền,
thu

với đất
nước.
Lúc đầu. các nhà máv
chi
sản
xuất
hàng hóa
phục
vụ nhu cầu
trong
nước.
Sản
lượng sản
xuất ra
không
nhiều
vì lúc đó máy móc,
thiết
bị còn
lạc hốu,
chủ yếu
là máy móc cũ
nhốp
từ
các nước xã
hội
chủ
nghĩa,
hơn nữa trình độ
quản

ra
của sản
xuất
được
cung
ứng
theo
chỉ tiêu
của
Nhà
nước,
việc
sàn
xuất

quản

theo
ngành khép kín và hướng vào nhu cầu
tiêu dùng
nội
địa là chính, còn
xuất
khẩu
chỉ
thực
hiện trong
khuôn khổ
Hiệp
định

sản phẩm các
loại.
80%
xuất
sang
Liên Xô còn
lại
là Đông Âu và khu vực
li.
Đen
cuối
năm
1990. khi
hệ
thống
các nước xã
hội
chù
nghĩa
bị
tan rã,
nước
ta
rơi vào
thế
bị cô
lập
so
với nhiều
nước

khổi
tình
trạng
này.
Cùng
thời
gian đó.
Đàng và Nhà nước
ta bắt
đầu chính sách
đổi
mới nền
kinh
tế,
chuyển
đổi
từ
kinh tế
bao cấp
sang
cơ chế quàn lý tự
hạch
toán
kinh
doanh

hội
chù
nghĩa.
Thời

biện
pháp đề duy trì
sản xuất,
đảm bảo
cung
cấp sản phẩm cho
thị
trường
nội địa,
đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng,
đồng
thời
tự lo
vốn
đổi
mới
thiết
bị,
áp
dụng
khoa
học kỹ
thuật hiện đại,
hoàn
thiện
dần hệ
thống tổ
chức
quàn lý.

xuất
khẩu
đạt 350
triệu
USD và đến
cuối
năm 2007
xuất
khẩu
đạt 1.35 tỷ USD.
Không
dừng
lại
ờ con số này. ngành
dệt
may
Việt
Nam đã
trở
thành một
trong mười
ngành
xuất
khẩu
mũi
nhọn
của
Việt
Nam
trong chiến

trong thập
kỳ qua nhờ có
chính sách đầu tư hồ
trợ.
khuyến
khích phát
triển
hoạt
động sản
xuất kinh
doanh
như được hường ưu đãi về tín
dụng
đầu
tư,
được ngân hàng đầu tư và phát
triển,
các
Ngân hàng thương mại
quốc
doanh
bảo lãnh cho vay tín
dụng
xuất
khẩu,
cho vay
đầu
tư mở
rộng
sản xuât

những
dấu
hiệu
tích
li
cực
và có
những
bước
tiến
xa trên
bảng
xếp
hạng
thế
giới.
Việt
Nam
hiện
đứna
thứ
36
trong
bàng
xếp
hạng
giá
trị
gia
tăng mà ngành

sau
Trung
Quừc. BMI
(Business Monitor
International)
thừng
kê kim
ngạch
xuất
khẩu
hàng
dệt
may cùa
Việt
Nam năm
2008
đã
vượt
qua con sừ 10
tỉ
đôla Mỹ. Tuy
nhiên,
những
con sừ này chì

trên
giấy tờ.
còn
thực tế thì
ngành

của
giới
bảo vệ
nền
sản
xuất
trong
nước
tại
thị
trường nước
ngoài.
BMI cho
rằng
ngành
dệt
may
Việt
Nam sẽ gặp
nhiều
rào cản mới nhưng đến năm
2011
sẽ có
nhiều "bứt
phá" và
một
tương
lai
sáng
lạn.

may đã
trờ
thành ngành công
nghiệp
mũi
nhọn
cùa nền
kinh
tế
quừc
dân.
đã có
những
tiến
bộ
vượt
bậc,
vươn lên
vị trí
đứng đầu về
kim
ngạch
xuất
khẩu.
Mặt hàng
dệt
may đã
trờ
thành một
trong

triển
ban đầu cùa
nền
kinh
tế
và đóng
vai
trò chù đạo
trong
quá trình công
nghiệp
hoa ờ
nhiều
nước.
Ngành công
nghệ
dệt
may có
khả
năng
tạo nhiều
việc
làm cho
người
lao
động,
tăng
thu
lợi
nhuận

thời
góp
phần
chuyển
dịch

cấu
kinh
tế theo
hướng công
nghiệp hóa-
hiện
đại
hóa.
Công
nghệ
dệt
may có liên
quan
chặt
chẽ
tới
sự phát
triển
của các ngành
công
nghiệp
khác.
Khi dệt
may

công
nghiệp
12
dệt
lớn
mạnh
sẽ là động
lực
để công
nghiệp
may và các ngành khác sử
dụng
sản
phẩm
dệt
làm nguyên
liệu
phát
triển
theo.
Vai
trò của ngành
dệt
may đặc
biệt
to lớn đối với
kinh
tế
của
nhiều

hiện

trong lịch
sử phát
triển
kinh
tế
của
các nước như
Anh, Nhật. NICs. Trung
Quốc, Nam Á và Đông Nam Á.
Ờ các nước đang phát
triển
hiện
nay,
công
nghệ dệt
may đang góp
phần
phát
triển
nông
nghiệp
và nòng thôn thông qua tăng trưầng sản
xuất
bông. đay, tơ tàm và
là phương
tiện
để
chuyển dịch

ứng
nhu cầu ngày càng
cao.
đa
dạng
của
ngưầi
tiêu dùng.
Dệt
may là ngành
xuất
khẩu
chủ
lực
của nền
kinh tế.
luôn
chiếm tỷ
trọng
lớn
trong
kim
ngạch
xuất
khẩu
của
Việt
Nam. Kết quả
kinh
doanh

đoái, ngành
dệt
may
năm 2010 được dự báo có khá năng tăng trưầng tương
đối
tốt
so
với
năm
2009.
Hiện
nay
nhiều
doanh
nghiệp
ngành dệt may đã ký được hợp đồng đến hết quý
III/2010,
thậm
chí có
doanh
nghiệp
ký hợp đồng đến
hết
quý
IV/2010.
Từ
đó,

thể thấy
ngành

xuất
khẩu
hàng hóa nói riêng và tăng trưởng
kinh tế
nói
chung

Việt
Nam.
13
CHƯƠNG
li:
THỰC TRẠNG
HOẠT
ĐỘNG
CỦA
NGÀNH
DỆT
MAY
VIỆT
NAM

LỢI
THẾ so
SÁNH
CỦA
NGÀNH
ì. ĐÁNH
GIÁ HOẠT
ĐỘNG

4,38
tỷ
USD,
tổng
doanh
thu
tiêu
thụ nội
địa đạt
1,18
tỷ
USD. Như
vậy
tổng
kim
ngạch
mà ngành
dệt
may đem
lại
trong
năm
2004
(cả nội
địa

xuất
khẩu)
đạt
trên 5.56

USD
(tăng
31% so
với
năm
2006).
vưủt
qua cả dầu
thô.
Năm
2008,
kim
ngạch
xuất
khẩu
ngành
dệt
may
Việt
Nam

9,5
tỷ
USD; 9
tháng đầu
năm
2009,
kim
ngạch
xuất

may
vào
năm
2010
sẽ đạt
7,7
tỷ
USD;
tổng
doanh
thu
tiêu
thụ nội
địa sẽ
đạt
3.53
tỷ
USD.
Ông Lê Quốc
Ân.
Chủ
tịch
Hiệp
hội dệt
may
Việt
Nam
cho ràng
những con
số

tiêu
phát
triên
thì
ngành
dệt
may
cần
phải

những nguồn vốn tài
chính đầu

rất lớn,
lên
tới
hàng
tỷ
USD.
Theo
Hiệp
hội
Dệt
may
Việt
Nam,
tổng
nhu cầu vốn đầu tư cho ngành
may,
dệt

tỷ
USD.
đầu tư cho
lĩnh
vực kéo
sủi

600
triệu
USD.
đầu tư cho
lĩnh
vực sủi
nhân
tạo

150
triệu
USD
và đầu tư
cho
cán bông

46
triệu
USD.
14
Ông Ân cho
biết.
trong

quyết
như
thế
nào? Câu
trả
lời
chắc chan
ràng
phải
đa
dạng
nauôn vốn đầu tư
và không
thế chi
dựa vào một
nguồn
vốn duy
nhất
nào cả.
về
quan
điừm
đầu
tư.
giữa
nguồn
vốn sờ hữu và vốn vay
phải
càn
đối.

Cho nên đừ phát
triừn
bền
vững
thì
nguồn
vốn
tự
có của chủ đầu tư
phải
đạt từ 40-50%
ở mỗi dự án.
Vậy nguồn
vốn tự có
lấy
ờ đàu? Câu trà
lời lại

phải
đa
dạng nguồn
vốn tự
có.
Đó có
thừ

vốn cùa chủ dự
án.
hay là vốn kêu
gọi

Nam
Đối
với
vốn
vay,
phải
tìm được
những tổ chức
tài
trợ.
nhữna
ngân hàng cho
vay
thời
gian
hợp lý. Đây là yếu
tố
rất
quan
trọng,
bởi
vi
với
ngành mav
thời
gian
vay

thừ
là 5-7 năm. Nhưng

này thì khó có
hiệu
quà. Bởi vậy
phải
tìm được
nguồn
vốn có lãi
suất
hợp lý hơn. Đây
cũng
là một yêu cẩu bức xúc
đang
đặt ra
cho sự phát
triừn
bền
vững
của ngành.
Còn vấn đề
thế
châp đẽ vay vốn
thi
cách
tốt
nhất hiện
nav là
chi
dùng tài sàn
vốn
vay đừ

của dự án
rồi
thì
chi
dùng
chính tài sản hình thành từ dự án đó để
thế
chấp
vay vòn là hợp
lý.
Thậm
chí nêu
thấy
dự án có
hiệu
quả thì có
thể
cho vay tín
chấp
cả
phần
vốn lưu
động.
1.2.
Thực
trạng thiết
bị,
công nghệ
Thiết
bị công

này làm cho năng
lực
sản
xuất
của ngành Dệt may còn
nhiều
hạn
chế.
Máy móc
thiết
bị ngành Dệt
phần
lớn
là cũ
kỹ, lạc
hậu và có
xuất
xứ
từ
nhiều
nước.
Ngành Dệt có gần 50%
thiết
bị đã sử
dụng
trên 25 năm nên hư
hỏng
nhiều,
mất tính năng vận hành tự động nên năng
suất thấp, chất

lương công
nghệ,
đa
dang
hoa sản phẩm. Hàng ngàn máy
dệt
không
thoi.

thoi
khố
rộng
đã
được
nhập
về, nhiều
bộ đồ mắc
mới,
hiện
đại
đã được
trang
bị
thay thế
cho
những
thiết
bị quá cũ.
Tuy
ngành may đã có

loại
để sàn
xuất
các mặt hàng sơ
mi,
jacket,
đồ bảo hộ
lao
động.
áo phông
các
loại
cải
thiện
một bước
chất
lượng
hàng may
xuất
khẩu

nội địa.
Ngành
may liên
tục
đầu tư mứ
rộng
sàn
xuất


nghiệp.
Một số
doanh
nghiệp
đã đầu tư dây
chuyền
đồng bộ. sử
dụng
nhiều
máy chuyên dùng sản
xuất
một mặt hàng như dây
chuyền
may sơ mi của May
lo,
dây
chuyền
may
quần
đứng có
thao
tác bộ
phận
tự động
theo
chương trình, dây
chuyền
sản
xuất
quần

Đét may đã
thu
hút hơn 2
triệu
lao
động
(chiếm
25%
tổng
lao
động toàn ngành công
nghiệp):
eóp
phần
đáng kê
trong việc
giải
quyết
khó khăn về
việc
làm cho
người lao
động. Tuy răng
lao
động
Việt
Nam có đôi bàn
tay
khéo léo,
tiếp

Nam được phân
loại
như
sau:
> Trình độ vãn hóa cấp
ì:
chiếm
21%
> Trình độ văn hóa cấp
li:
chiếm
61%
> Trình độ vãn hóa cấp
ni:
chiếm
14%
>
Tốt
nghiệp
cấp
IU:
chiếm
4%
Do trình độ vãn hóa còn
thấp
nên
việc
tiếp
thu khoa
hặc kỹ

điều
kiện
làm
việc
chuyên môn hoa cao nên cường độ làm
việc
câng
thẳng
trong khi
tiền
lương nói
chung
còn
thấp
và có sự chênh
lệch lớn
giữa
các
doanh
nghiệp
nên có
nhiều
biến
động
lớn
trong
đội
ngũ
lao
động ngành.

việc.
Ngược
lại

những doanh
nghiệp
làm ăn kém
hiệu
quả,
sàn
xuất
đình
trệ,
thiếu
việc
làm,
thu nhập
thấp
sẽ nảy
sinh
tinh
trạng
"đất
không lành,
chim
không
đậu",
công
nhân lành
nghề,

lý chủ
chốt
trong
các
doanh
nghiệp
Dệt
may đều có trình độ
đại
hặc
hoặc
cao
đắng.
chuyên môn khá nhưng trình độ
quản

theo
phong
cánh công
nghiệp
còn
yếu,
tiếp
cận
với
phương
thức
quản

hiện

thuật
chủ yếu trường thành từ công nhân bậc cao nên
chi
giỏi

chuyên môn của nhưng sản phẩm cụ
thể
con như
việc
sáng tác mẫu.
tạo
dáng sản
phàm còn
rỹt
kém. Các
doanh
nghiệp rỹt
cần
những
kỹ sư có bàng
cỹp.
công nhân kĩ
thuật
và các nhà
quản
lý-
những
người
có khả năng nam
bắt

có trình độ chuyên môn
thỹp.
Nhìn
chung
tăng
trưởng
nhanh
trong khi
những
cán bộ kĩ
thuật

quản
lý được đào tạo
tại
các
trường
có xu hướng
giảm
dần nên dẫn đến tình
trạng
thiếu
đội
ngũ công nhàn lành
nghề
và cán bộ
khoa
học cho ngành Dệt may.
1.4.
Thực

khẩu

nước.
Nhưng
hiện
nay gần như
hoàn toàn phụ
thuộc
vào nước ngoài: 70% nguyên phụ
liệu
dệt
may VN
phải
nhập
khẩu.
Giá
trị
thu
về
từ xuỹt
khẩu
dệt
may là
rỹt thỹp. bời dệt
may VN chù yếu là
gia
công cho nhà
nhập
khẩu
nước ngoài.

Các
loại
nguyên
liệu
khác như
len
đan. tơ
tầm.

liber
khác,
nylon,
acrylic,
các
loại
hóa
chỹt
cơ bản và
thuốc
nhuộm. Ngành may
Việt
Nam sử
dụng
các
loại
nguyên
liệu
như
vải
thành

phần
chủ yếu vẫn
phải
nhập
khẩu
từ nước ngoài. Cũng cần nói
thêm
rằng.
chỹt
lượng bông cùa
Việt
Nam chưa đáp ứng được yêu cầu của công
nghệ
kéo
sợi.
nên
chi
được sử
dụna
phụ thêm
với
tỷ
lệ
nhò
(khoảng
10%).
Chính
18
việc
nhập

Hiện
nay.
Việt
Nam chỉ có thể sàn
xuất
hơn 3.000 tân
bông/năm, đáp ứng được 5% nhu cầu cộa ngành Dệt
trong
nước.
Sợi
tông hợp
phải
nhập
khẩu
hoàn toàn và
sợi
bông cho sản
xuất
hàng
dệt
kim
cũng
phái
nhập
khâu
với
số lượng
lớn
hàng năm. Hơn
nữa.

tổ
chức
thực hiện
còn lúng
túng.

tới
95% nguyên
liệu
chính(bông)
phải
nhập
khẩu
với
giá không ồn
định.
Hiện
tại
các
doanh
nghiệp
Dệt
vẫn phải
chạy
theo thị
trường mua bông
theo kiểu
mớ món, giá cả
thất
thường làm

rất
bị động, thường không đồng
bộ.
Các sản
phẩm Dệt thường không
đạt
tiêu
chuẩn
về
chất
lượng và có tính
chất
đơn
điệu.
Vải
sợi
sản
xuất trong
nước
phần
lòn được sử
dụng
ở các
doanh
nghiệp
địa phương để
sản xuất
quần
áo cho nông thôn và vùng
xa,

phải
nhập
khẩu.
Thậm
chí các
doanh
nghiêp may
thuộc
Tổng
công
ty
Dệt may
cũng
không sử
dụng
vải
do các công
ty trong
nước sản
xuất,

tới
90% nguyên
vật
liệu
để sản
xuất
hàng may mặc
xuất
khẩu

mà vẫn
phải
nhập
khẩu
từ
nước ngoài.
Trong
ngành dệt may
Việt
Nam, xu hướng đầu tư
trong
thời
gian
qua chộ
yếu
vào khâu kéo
sợi

dệt. trong khi
công
đoạn
in
nhuộm và hoàn
tất
vốn liên
19
quan
nhiều
đến
chất

70-80%.
thấp
hơn
nhiều
so
với
mức
95-98%
cùa các xưởng nhuộm ờ
Trung
Quốc.
Hằng Kông Những
người
am
hiểu
về ngành
dệt
Việt
Nam cho
rằng:
ti
lệ
vải
trong
nước

chất
lượng đáp ứng được yêu cầu
của
ngành may

khẩu
cùa
Việt
Nam
chủ yếu là
may
gia
công
chiếm
90%,
nguyên
liệu
hoàn toàn do nước ngoài
cung
cấp.
Chính
vì thế
mặc dù
khả
năng
xuất
khẩu
của
ngành
dệt
may
Việt
Nam
đạt gần
1.9

kim
ngạch.
Theo số
liệu
thống
kê,
kim
ngạch
nhập
khẩu
nguyên phụ
liệu
dệt,
may,
da,
giày
của
Việt
Nam 3 tháng đầu
năm 2010
đạt
507,5
triệu
USD. tâng
27,2%
so
với
cùng
kỳ,
chiếm

triệu
USD (tăng
57%),
Hàn Quốc
là 91,6
triệu
USD (tăng
17,5% so với
cùng kỳ năm
2009).
Hiện nay,
nhu cầu về nguyên
liệu
nhập
khẩu
để bào đảm sản
xuất
cần đến
95%

bông,
70%
sợi tổng hợp.
40%
sợi

ngắn,
40%
vài dệt kim
và 60%

ngoài,

lợi
nhuận
thấp. Bởi
khi
gia
công,
đối
tác
sẽ
cung
ứng
kịp
thời,
đầy đủ nguyên phụ
liệu.
Còn
sản xuất theo
dạng
FOB (mua
đứt,
bán
đoạn),
lợi
nhuận
cao hơn.
nhưng bù
lại
phải

lực
của ngành kém, không đủ sức sàn
xuất.
về cơ
bản,
phụ
liệu
nội
địa có
thể
đáp
ứng
đù và nguyên
liệu
nội địa

thể
đáp ứng đến 70% nhu cầu sàn
xuất;
nhưng do
20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status