HIỆU QUẢ CHI PHÍ VÀ MỨC ĐẦU VÀO TỐI ƯU CỦA MỘT SỐ MÔ HÌNH NUÔI THỦY SẢN VÙNG HẠ TRIỀU ĐẦM PHÁ TAM GIANG – CẦU HAI potx - Pdf 11



35

TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, tập 72B, số 3, năm 2012 HIỆU QUẢ CHI PHÍ VÀ MỨC ĐẦU VÀO TỐI ƯU
CỦA MỘT SỐ MÔ HÌNH NUÔI THỦY SẢN VÙNG HẠ TRIỀU
ĐẦM PHÁ TAM GIANG – CẦU HAI
Tôn Nữ Hải Âu
1
, Bùi Dũng Thể
1
, Võ Ánh Duẫn
2
1
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế
2
Đài Phát thanh - Truyền hình Quảng Trị

Tóm tắt. Nghiên cứu này sử dụng phương pháp màng bao dữ liệu, theo hướng đầu
vào, dưới sự biến đổi theo quy mô (input-oriented Veriable-Return-to-Scale Data
Envolopment Analysis) để ước lượng mức hiệu quả chi phí của các mô hình nuôi
trồng thủy sản và xác định mức yếu tố đầu vào tối ưu các mô hình nuôi trồng thủy
sản vùng hạ triều đầm phá Tam Giang. Kết quả ước lượng cho thấy mức hiệu quả
chi phí bình quân của mô hình nuôi xen tôm- cua- cá, tôm-cá và tôm độc canh lần
lượt là 0,64, 0,7 và 0,4. Nguyên nhân chính dẫn đến hiệu quả chi phí thấp là phi
hiệu quả phân phối. Để tiết kiệm chi phí sản xuất cũng như sử dụng các yếu tố đầu
vào một cách có hiệu quả, hầu hết các hộ nên giảm mật độ thủy sản thả nuôi và
lượng thức ăn tươi. Kết quả phân tích cũng cho thấy, các hộ nuôi xen tôm- cua- cá

Ràng buộc:
Trong đó,
i
w là Nx1 vectơ giá yếu tố đầu vào của hộ nuôi thứ i, mũ T cho biết
đây là ma trận chuyển vị. Với mức giá các yếu tố đầu vào cho trước
i
w và mức sản
phẩm đầu ra
i
y ,
*
i
x là vectơ yếu tố đầu vào cho phép tối thiểu hóa chi phí của cho hộ
nuôi thứ i được tính bằng chương trình tuyến tính. Vector  được xác định bởi mối quan
hệ tuyến tính giữa các hộ nuôi cùng nhóm với hộ nuôi thứ i. Y là vector đầu ra, X là
vector đầu vào. Và hiệu quả chi phí (CE) hay chính là hiệu quả kinh tế của hộ nuôi
trồng thủy sản thứ i được tính bẳng tỷ số giữa chi phí tối thiểu (minimum cost) và chi
phí thực tế (observed cost) theo công thức:
i
T
ii
T
i
xwxwCE /
*

Hiệu quả chi phí và hiệu quả phân phối cũng như hiệu quả kỹ thuật đều có giá trị

i
i
Xx
Yy
*
*, i
T
ixi
xwMin
37

bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp hộ nuôi trồng thủy sản ở vùng hạ triều đầm phá
Tam Giang – Cầu Hai thuộc các huyện Quảng Điền, Phú Vang và Phú Lộc. Mẫu điều tra
gồm 153 hộ nuôi thủy sản, bao gồm 73 hộ nuôi xen ghép tôm-cua-cá, 17 hộ nuôi xen
ghép tôm-cá và 53 hộ nuôi tôm độc canh.
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Hiệu quả chi phí
Bảng 1 cho thấy hiệu quả sử dụng chi phí bình quân của các mô hình nuôi tôm-
cua-cá cua, tôm-cá và tôm độc canh lần lượt là 0,64, 0,70 và 0,40. Điều này cho thấy
các mô hình nuôi đều chưa sử dụng đầu vào một cách tối ưu. Bình quân chi phí đầu tư
cho giống và thức ăn của một hộ nuôi xen tôm-cua- cá, tôm-cá và tôm độc canh cao hơn
so với những hộ nuôi tốt nhất (best pratice farm) lần lượt là 36%, 30% và 60%. Nguyên
nhân chính của phi hiệu quả chi phí là do các hộ nuôi đã lãng phí các yếu tố đầu vào
trong quá trình sản xuất, và phối hợp đầu vào theo giá chưa hợp lý. Kết quả ước lượng
hiệu quả kỹ thuật còn cho mức phi hiệu quả kỹ thuật bình quân của mô hình tôm độc
canh là 30%, mô hình tôm-cua-cá là 13% và mô hình tôm-cá là 8%. Hiệu quả phối hợp
hay hiệu quả về giá của cả ba mô hình đều khá thấp.

phí, 63 hộ còn lại không đạt hiệu quả chi phí (không nằm trên đường chi phí tối thiểu).
Các hộ này đã sử dụng các yếu tố đầu vào cao hơn mức hiệu quả (Bảng 2). Để tiết kiệm
chi phí sản xuất nhưng vẫn không làm giảm sút về mặt sản lượng đầu ra, các hộ nuôi
tôm xen cá cua cần giảm mật độ thủy sản nuôi, đặc biệt là mật độ cá thả nuôi. Lượng
thức ăn được sử dụng nhất là thức ăn tươi cũng nên giảm để tránh lãng phí.
3.3. Mức đầu vào hiệu quả của mô hình nuôi xen ghép tôm-cá
Đối với mô hình nuôi xen tôm-cua-cá, trong tổng số 17 hộ chỉ có 5 hộ đạt hiệu
quả chi phí. Để tối thiểu hóa chi phí sản xuất, các hộ nuôi tôm xen cá cũng nên giảm
mật độ nuôi, nhất là mật độ cá. Kết quả phân tích mức đầu vào tối ưu của mô hình này
còn cho thấy thức ăn tươi được sử dụng quá lãng phí, trong khi lại ít đầu tư cho thức ăn
công nghiệp (Bảng 3).
Bảng 3. Lượng đầu vào thực tế và tối ưu của các hộ nuôi xen tôm- cá
Hộ đạt hiệu quả
(n=5)
Hộ phi hiệu quả
(n=12)
Các yếu tố đầu vào
Thực tế (tối ưu) Thực tế Tối ưu
Tôm (vạn con/ha) 15 20 12
Cá (con/ha) 13854 21292 11632
Thức ăn tươi (kg/ha) 0 353 0
Thức ăn công nghiệp (kg/ha) 842 737 962
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2011).
3.4. Mức đầu vào hiệu quả của mô hình nuôi tôm độc canh
Bảng 4. Lượng đầu vào thực tế và tối ưu của các hộ nuôi tôm độc canh
Hộ đạt hiệu quả
(n=3)
Hộ phi hiệu quả
(n=60)
Các yếu tố đầu vào

Productivity Analysis, Second Edition, Springer: 172, 2005.
4. Trung tâm Khuyến ngư tỉnh Thừa Thiên Huế, Báo cáo kết quả thực hiện mô hình “Nuôi
Cá Dìa giống sinh sản nhân tạo (Siganus Guttatus) kết hợp với Rong Câu chỉ vàng
(Gracilaria Verrucosa) và tôm sú (Penaeus Monodon)”, 2007.

COST EFFICIENCY AND OPTIMAL INPUT LEVELS OF TYPICAL
AQUACULTURE MODELS IN LOW TIDE ZONE OF
TAM GIANG – CAU HAI LAGOON
Ton Nu Hai Au
1
, Bui Dung The
1
,Vo Anh Duan
2
1
College of Economics, Hue University
2
Quang Tri Radio and Television Station

Abstract. The present study used input-oriented Variable-Return-to-Scale Data
Envelopment Analysis method to estimate cost efficiency and determine the
optimal input levels of typical aquaculture models in the low-tide zone of Tam
Giang – Cau Hai lagoon. Mean cost efficiency of shrimp-crab-fish, shrimp-fish
inter-culture and shrimp mono-culture was 0,64, 0,7 and 0,4, respectively. The
primary cause of cost inefficiency was allocative inefficiency. To improve cost 40

efficiency, farmers should decrease the stocking density of aquatic animals and


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status