15
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 62, 2010 HIỆU QUẢ KỸ THUẬT CỦA MÔ HÌNH NUÔI XEN TÔM SÚ – CÁ KÌNH
Ở PHÁ TAM GIANG
Tôn Nữ Hải Âu, Bùi Dũng Thể
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huê
TÓM TẮT
Nuôi tôm ở phá Tam Giang - Cầu Hai đang đương đầu với nhiều rủi ro, tôm bị dịch
bệnh, mất mùa và thua lỗ do môi trường nước bị ô nhiễm. Quy hoạch lại nuôi trồng thuỷ sản cả
về không gian nuôi và hình thức nuôi là giải pháp quan trọng cho tình hình trên. Nuôi xen canh
tôm sú với cá kình được áp dụng ngày càng nhiều hơn. Nghiên cứu này sử dụng phương pháp
màng bao dữ liệu theo hướng đầu vào dưới sự biến đổi theo quy mô (input-oriented Veriable-
Return-to-Scale Data Envolope Nalayis) để ước lượng và phân tích tính hiệu quả kỹ thuật sử
dụng các yếu tố đầu vào của các hộ nuôi xen tôm sú – cá kình ở phá Tam Giang. Kết quả cho
thấy chỉ số hiệu quả kỹ thuật khá cao, bình quân là 0,91. Nguyên nhân chính của phi hiệu quả
là do quy mô không hợp lý. Nhóm hộ nuôi trong vùng quy hoạch sản xuất có hiệu quả hơn nhóm
hộ nuôi ngoài vùng quy hoạch.
1. Đặt vấn đề
Hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai ở tỉnh Thừa Thiên Huế là hệ đầm phá lớn nhất
Đông Nam Á và tiêu biểu nhất trong số 12 đầm phá ven bờ Việt Nam. Từ năm 1994,
tỉnh Thừa Thiên Huế đã xác định nuôi trồng thuỷ sản như một ngành kinh tế mũi nhọn
của vùng [6]. Phát triển nuôi trồng thuỷ sản, đặc biệt là hoạt động nuôi tôm đã mang lại
diện mạo mới cho vùng đầm phá. Tuy nhiên việc quản lý và sử dụng tài nguyên đầm
phá chưa hợp lý và sự phát triển nuôi trồng thuỷ sản thiếu quy hoạch đã làm môi trường
nước bị ô nhiễm, tôm bị dịch bệnh, nuôi tôm bị mất mùa, thua lỗ trong những năm gần
đây [9,10].
quan đến phương pháp lập trình toán học (mathematical programming) để ước lượng
hiệu quả xuất. So với phương pháp SPF, DEA có ưu điểm là có thể áp dụng được cho cả
trường hợp đa đầu ra. Hơn nữa, DEA là phương pháp phi tham số (non-parametric),
không cần phải xây dựng trước những giả thiết về một dạng hàm sản xuất cụ thể và giả
thiết về phân phối của sai số ngẫu nhiên như trong SPF.
Xét trường hợp có n hộ nuôi xen tôm sú – cá kình. Mỗi hộ sử dụng K yếu tố đầu
vào để sản xuất ra M loại thuỷ sản khác nhau. K yếu tố đầu vào trong nghiên cứu này là
tổng chi phí giống, lao động và lượng thức ăn đầu tư cho vụ nuôi xen tôm sú – cá kình
năm 2008. M đầu ra là tôm sú, cá kình và sản phẩm khác (chủ yếu là cua) thu hoạch
trong năm. Vector đầu vào và đầu ra cho hộ thứ i lần lượt là x
it
và y
it
. Dữ liệu của tất cả
các hộ nuôi được ký hiệu bởi KxN ma trận đầu vào (X) và MxN - ma trận đầu ra (Y).
Mô hình màng bao dữ liệu theo hướng đầu vào, biến đổi theo quy mô đầu tư (input-
oriented VRS DEA) có dạng như sau:
0
1
yY
Subject to
min
1
,
cá kình và cua của ao nuôi nằm trong vùng chưa quy hoạch cao hơn ao nuôi ở vùng quy
hoạch (Bảng 1).
Bảng 1. Mức đầu vào và đầu ra tính bình quân trên một hecta ao nuôi
Cả hai vùng Vùng quy hoạch
Vùng chưa quy
hoạch
Mean S.D Mean S.D Mean S.D
Đầu vào
Giống (1000đ/ha) 6567,9 3049,1 3357,0 1805,2 6059,6 3738,3
Thức ăn (kg/ha) 1102,9 930,7 444,3 206,1 1020,6 923,6
Lao động (giờ/ha) 1531,4 739,3 1193,8 457,2 1037,8 295,9
Đầu ra
Tôm sú (kg/ha) 273,5 259,6 270,0 240,1 191,7 241,3
Cá kình (kg/ha) 189,0 129,5 118,0 85,9 169,6 168,9
Khác (kg/ha) 38,7 36,1 21,0 22,8 38,9 43,7
Nguồn: Số liệu điều tra năm 2009
Ghi chú: Mean = Giá trị trung bình
S.D = Độ lệch chuẩn
Kết quả phân tích ở Bảng 2 cho thấy tính chung cho cả hai vùng chỉ số hiệu quả
kỹ thuật trung bình là 0,91 nếu hàm sản xuất nuôi xen tôm sú – cá kình có hệ số co giãn
của sản lượng thay đổi theo quy mô đầu tư. Nếu hàm sản xuất có hệ số co giãn bằng 1 18
(không thay đổi theo quy mô đầu tư) thì chỉ số hiệu quả kỹ thuật trung bình là 0,77. Sở
dĩ có sự chênh lệch giữa VRSTE và CRSTE như vậy là do sự phi hiệu quả về mặt quy
mô (SCALE). Chỉ có 14 hộ đạt hiệu quả về mặt quy mô đầu tư. Mức đầu tư yếu tố đầu
vào của các hộ khác là chưa hợp lý.
Bảng 2. Chỉ số hiệu quả kỹ thuật
TE =1 của vùng quy hoạch cũng cao hơn nhiều so với vùng không quy hoạch. Điều này
cho thấy việc quy hoạch ao nuôi hợp lý đã tạo điều kiện để sử dụng các yếu tố đầu vào
có hiệu quả hơn. 19
0
5
10
15
20
25
30
35
40
45
0-0.1 0.1-0.2 0.2-0.3 0.3-0.4 0.4-0.5 0.5-0.6 0.6-0.7 0.7-0.8 0.8-0.9 0.9-1 1
Hiệu quả kỹ thuật
%
CRSTE VRSTE SCALE
Biểu đồ 1. Tần suất phân phối của các hộ đạt hiệu quả kỹ thuật
Biểu đồ 1 cho thấy số hộ có VRSTE, CRSTE và SCALE bằng 1 chiếm tỷ lệ lớn
nhất, từ 32% - 40% tổng số hộ điều tra. Chỉ khoảng 5% số hộ có VRSTE từ 0,5–0,6.
Hầu như không có hộ nào có VRSTE nhỏ hơn 50%. Khoảng từ 7%-12% tổng số hộ điều
tra có CRSTE và SCALE không quá 50%.
Kết quả phân tích chi tiết ở Bảng 3 còn cho thấy phần lớn (khoảng 29 hộ chiếm
65,9%) các hộ điều tra có thể tăng hiệu quả bằng cách tăng quy mô đầu tư. Điều này có
nghĩa là gần 66% số hộ nên tăng quy mô đầu tư để cải thiện năng suất nuôi. Khoảng
32% số hộ đạt hiệu quả về mặt quy mô. Trong số 44 hộ nuôi xen canh tôm sú – cá kình,
Số liệu sơ cấp sử dụng trong nghiên cứu được thu thập thông qua phỏng vấn 44
hộ nuôi ở ba xã: Quảng An, Quảng Thành và Hương Phong. Nhìn chung, hiệu quả kỹ
thuật ước lượng bình quân đạt gần 0,9. Kết quả này tương đương với kết quả của hoạt
động nuôi trồng thuỷ sản của các nước khác như Nigeria (88-89%) [5], Bangladesh
(85%)[1], Thái Lan (72-91%) [4], và Đài Loan (84%) [2]. Tuy nhiên lại tương đối cao
hơn so với các nghiên cứu khác về hiệu quả kỹ thuật của hoạt động nuôi trồng thuỷ sản
của Việt Nam như nghiên cứu của Den (2007) [3] cho mô hình tôm sú độc canh ở vùng
Đồng bằng Sông Cửu Long, của Dey (2005) [4] cho mô hình xen canh cá nước ngọt của
các nước Châu Á [3,4].
Kết quả phân tích cũng cho thấy nguyên nhân chính của phi hiệu kỹ thuật của
các hộ điều tra là phi hiệu quả về mặt quy mô đầu tư các yếu tố đầu vào. Hầu hết các hộ
nên tăng mức đầu tư sản xuất để cải thiện hiệu quả. Các hộ nuôi trong vùng đã được quy
hoạch hiệu quả hơn các hộ ngoài vùng quy hoạch. Điều này chứng tỏ quy hoạch vùng
nuôi hợp lý là một biện pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu
vào.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Alam, M. F. and K. Murshed-e-Jahan, Resource allocaltion efficiency of the prawn-
carp farmers of Bangladesh, Aquaculture Economics & Management, 2008.
[2]. Chiang, F S., C H. Sun, et al., Technical efficiency analysis of milkfish (Chanos
chanos) production in Taiwan - an applicantion of the stochastic frontier production
function, Aquaculture, 2004.
[3]. Den, D. T., T. Ancev, et al., Technical Efficiency of Prawn Farms in the Mekong Delta,
Vietnam, 2007.
[4]. Dey, M. M., F. J. Paraguas, et al., Technical efficiency of freshwater pond polyculture
production in selected Asian countries: Estimation and implication, Aquaculture
Economics & Management, 9(1), (2005), 39-63.
[5]. Kareem, R. O., A. O. Dipeolu, et al., Economic efficiency in fish farming: hope for 21
outside the planned zone.