Báo cáo nghiên cứu khoa học " HIỆU GIÁ KHÁNG THỂ ANTIHBs SAU CHỦNG NGỪA HEPAVAX-GENE " - Pdf 14



33

HIỆU GIÁ KHÁNG THỂ ANTIHBs
SAU CHỦNG NGỪA HEPAVAX-GENE
Trần Thị Minh Diễm và cs
Trường Đại học Y khoa, Đại học Huế
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ những năm 80, vắc xin viêm gan siêu vi B (VGSVB) đầu tiên có mặt
trên thị trường thế giới. Các vắc xin VGSVB đã sử dụng kháng nguyên bề mặt
của siêu vi B (HBsAg) có độ tinh khiết cao. Cho đến nay, đã có ba thế hệ vắc xin
VGSVB tùy theo tính chất kháng nguyên của HBsAg. Thế hệ thứ nhất điều chế
HBsAg từ huyết tương người nhiễm siêu vi viêm gan B (gồm có HBsAg, pre-S1,
pre-S2, DNA của siêu vi); thế hệ thứ hai gọi là vắc xin tái tổ hợp sử dụng đoạn
gen mã hoá HBsAg biểu thị từ E. coli hoặc từ nấm men (HBsAg, Pre-S) hoặc
thế hệ ba từ tế bào buồng trứng chuột (HBsAg, pre-S1, pre-S2). Ngoài ra, còn có
các vắc xin DNA sử dụng các siêu vi lành tính tổng hợp kháng nguyên trong cơ
thể, vắc xin peptit tổng hợp (đang nghiên cứu). Sự phát triển của các vắc xin
nhằm mục đích tăng cường đáp ứng tạo kháng thể với nồng độ cao, bảo đảm an
toàn, ngăn chặn những trường hợp không đáp ứng sau tiêm chủng và bảo vệ
tránh những đột biến về HBsAg. [1,2,9] 34

Hiệu quả của đáp ứng miễn dịch giao động rất lớn giữa các cá nhân và hiệu
lực bảo vệ của kháng thể anti-HBs trên các đối tượng chủng ngừa VGSVB có
liên quan tuổi, giới, cân nặng. Ngoài ra, thời gian tồn tại của kháng thể bảo vệ
Anti-HBs sau khi tiêm chủng là khác nhau, tùy thuộc vào loại văc xin, đối tượng
tiêm, lứa tuổi, liều tiêm và mức độ tiếp xúc với siêu vi viêm gan B của người

( 10 mIU/ml)
78 45,35 94 54,75 172 80,00
Âm tính 22 51,16 21 48,84 43 20,00 36

(<10 mIU/ml)
(P>0,05)
Tỷ lệ anti-HBsAg (+) sau chủng ngừa là 80%, trong đó nam chiếm tỷ lệ là
78%, nữ là 81,74%. Sự khác biệt về đáp ứng sinh kháng thể giữa nam và nữ là
không có ý nghĩa thống kê (P>0,05)
Bảng 3.2: Tỷ lệ anti HBs (+) phân bố theo nhóm tuổi
Nam Nữ Tổng cộng
(+) (-) (+) (-) (+)
Tuổi

n % n % n % n % n %
 5
9 11,5
4
4 18,18 2 2,12 0 0,00 11 6,39
 10
15 19,2
3
2 9,09 8 8,51 4 19,05 23 13,3
7
 20
26
33,3

2
= 3,87 và p < 0,05)
Tỷ lệ HBsAg (+) ở nam nhóm tuổi 11-20 là 33,33% nhưng sự khác biệt so
với các nhóm còn lại là không có ý nghĩa thống kê (
2
= 0,63 và p > 0,05)
Tỷ lệ HBsAg (+) ở nữ nhóm tuổi 11-20 tuổi là 26,59%, nhưng sự khác
biệt so với các nhóm còn lại là không có ý nghĩa thống kê (
2
= 0,20 và p > 0,05) 38

Bảng 3.3: Tỷ lệ antiHBs (+) phân bố theo nơi cư trú
Nơi cư trú antiHBs (+) antiHBs(-) Tổng cộng P
TP. Huế 117 80,68% 28 19,32% 145 (68,72%)

Nông thôn 43 76,78% 13 23,22% 56 (26,54%)
Tỉnh khác 9 90% 1 10% 10 (4,73%)
Tổng cộng 169 42 211 (100%)

2
=1,03
p = 0,59
Thành phố Huế có tỷ lệ anti -HBs chiếm cao nhất là 69,23%. Sự khác biệt
không có ý nghĩa thống kê (
2
=1,03, p > 0,05)
Bảng 3.4: Hiệu giá anti HBs theo các mức độ dương tính


40

Vân, Viện Vệ sinh Dịch tễ học Hà Nội) [5,8]. Số người đạt được nồng độ trên là
172/215, chiếm tỷ lệ là 80%; còn lại < 10mIU/ml (âm tính) là 20%. Không có sự
khác biệt giữa nam và nữ (p>0,05). So sánh với kết quả của một số tác giả đã
nghiên cứu trước đây với vắc xin viêm gan thế hệ I, tác giả Lê Văn Hiệp thì tỷ lệ
anti-HBs  10mIU/ml là 79,73%. Tuy nhiên, chúng ta cần tham khảo những
nghiên cứu về tỷ lệ anti - HBs ở những người có tự nhiên không do chủng ngừa;
ví dụ theo tác giả Đào Đình Đức là 50%, Viên Chinh Chiến là 52,4%[3,4]; để từ
đó đặt ra vấn đề giá trị kinh tế chủng ngừa trong khuynh hướng thiết lập một khả
năng tiêm chủng phù hợp và có hiệu quả ở một đất nước có tình trạng lây nhiễm
cao như ở Việt Nam. Theo nghiên cứu của một số tác giả nước ngoài (Chang M.
H, Lemon S.M), thời gian bảo vệ dài hay ngắn phụ thuộc vào nồng độ anti-HBs
trong máu; mặc dầu đáp ứng miễn dịch chống siêu vi viêm gan B là vai trò của
miễn dịch qua trung gian tế bào nhưng anti-HBs vẫn là kháng thể dịch thể bảo vệ
duy nhất, có được sau chủng ngừa. Cũng theo các tác giả này thì khoảng 90%
người được tiêm chủng sẽ còn anti-HBs và trong đó chừng 80% có nồng độ
>10mIU/ml sau 5 năm chủng ngừa. Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi được
làm xét nghiệm sau mũi tiêm cuối cùng xa nhất là 6 tháng, do đó kết quả trên đặt
ra yêu cầu kiểm tra hiệu giá kháng thể sau chủng ngừa là một việc hết sức cần
thiết bởi vì có thể một liều tiêm nhắc lại là thuận lợi cho việc thúc đẩy trí nhớ
miễn dịch (tác giả Nguyễn Hữu Chí). Thật vậy, theo dõi trong nhóm có nồng độ
anti-HBs thấp (10-100mIU/ml), chúng tôi có 4 trường hợp tiêm nhắc lại mũi thứ
4 thì nồng độ anti-HBs đã cao vọt > 1.000 mIU/ml sau khi nhắc lại 1-2 tháng. Có
nhiều nguyên nhân làm cho không đáp ứng tiêm chủng hoặc giảm nồng độ anti-
HBs trong đó cần lưu ý khả năng phát hiện HBsAg đột biến chưa thực hiện được
với các kit chẩn đoán thông thường hiện nay. Ngoài ra khả năng đáp ứng miễn
dịch còn tùy thuộc vào cơ địa của mỗi người do sự tiếp nhận kháng nguyên và sự
hoạt hóa đặc hiệu của hệ thống miễn dịch của mỗi cơ thể cá thể; do đó vẫn có tỷ

mIU/ml chỉ là 12,56% và không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi so sánh
nhóm có nồng độ 101-500mIU/ml. Làm thế nào để có thể tăng cường hiệu giá 42

kháng thể ở mức > 100 mIU/ml sau khi chủng ngừa và thậm chí phải >1000
mIU/ml thì mới có thể yên tâm cho hiệu quả của đáp ứng miễn dịch lâu dài?
Muốn được như vậy đòi hỏi phải xét nghiệm định lượng kháng thể sau mũi tiêm
thứ ba (ít nhất là một tháng) để có thể tiêm nhắc lại mũi thứ tư nếu xét thấy cần
thiết để kích thích tạo miễn dịch mạnh và bền vững hơn. Cần thiết vận động
tuyên truyền người dân biết thực hiện lịch tiêm chủng đúng quy định về thời gian
và làm xét nghiệm kiểm tra hiệu giá kháng thể sau chủng ngừa.
IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Nghiên cứu ở 215 người đã xét nghiệm HBsAg âm tính trước khi chủng
ngừa vắc xin viêm gan siêu vi B thế hệ II với liều 0:1:2; chúng tôi tiến hành xét
nghiệm anti HBs sau khi chủng ngừa mũi cuối cùng từ 1 - 6 tháng. Các kết luận
có được như sau:
1. Tỷ lệ người có nồng độ anti-HBs  10mIU/ml là 80%.
2. Tỷ lệ anti-HBs (+) cao nhất ở nhóm 11-20 tuổi
3. Nồng độ anti-HBs trong khoảng >100 mIU/ml chiếm tỷ lệ 44,65%. Tỷ lệ
nồng độ anti-HBs >1.000mIU/ml chiếm tỷ lệ 12,56%.
4. Định lượng nồng độ anti-HBs sau tiêm chủng đủ liều vắc xin HBsAg là
cần thiết kể cả các đối tượng trẻ em sau khi tiêm chủng mở rộng. Nên tiêm
nhắc lại mũi 4 để tăng cường đáp ứng miễn dịch. 43

4. Tiếp tục nghiên cứu diễn tiến của nồng độ anti-HBs ở nhóm đối tượng có

TÓM TẮT
Nghiên cứu ở 215 người đã xét nghiệm HBsAg âm tính trước khi chủng
ngừa vắc xin viêm gan siêu vi B thế hệ II với liều 0:1:2; chúng tôi tiến hành xét
nghiệm anti HBs sau khi chủng ngừa mũi cuối cùng từ 1 - 6 tháng. Các kết luận
có được như sau:
1. Tỷ lệ người có nồng độ anti-HBs

10mIU/ml là 80%. Không có sự
khác biệt giữa nam và nữ có ý nghĩa thống kê.
2. Nồng độ anti-HBs trong khoảng >100 -1000mIU/ml chiếm tỷ lệ 44,65%.
Tỷ lệ nồng độ anti-HBs > 1.000mIU/ml chiếm tỷ lệ 12,56%. Không có
sự khác biệt giữa nam và nữ có ý nghĩa thống kê. 45

Do vậy việc định lượng anti-HBs sau chủng ngừa đủ liều vắc xin là cần
thiết, có thể tiêm nhắc lại mũi thứ tư để thúc đẩy trí nhớ miễn dịch trong trường
hợp anti-HBs

10 -100mIU/ml.
POST HAPAVAX-GENE VACCINATION EFFICIENCY
OF THE ANTIBODY HBS
Tran Thi Minh Diem
College of Medicine, Hue University
SUMMARY
The study was carried out on 215 people who had negative HBsAg before
being vaccinated with the 2nd generation HBV-vaccine.The schedule of
vaccination was the consecutive innoculations every month for three months
(0:1:2). We measured the anti-HBs from the 4


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status