Ngăn ngừa và xử lý nợ quá hạn tại agribank hà nội - Pdf 11


1
LỜI MỞ ĐẦU
Ngân hàng thương mại (NHTM) là một sản phẩm được hình thành và phát triển
cùng với sự phát triển của xã hội loài người, nhưng không giống với nhiều sản
phẩm khác, xét về bản chất các hành vi mà nó ứng xử, người ta coi NHTM như
là một sản phẩm xã hội một ngành công nghiệp dịch vụ với tính cộng đồng và
tính nhân văn rất cao, chằng chịt vô số các mối liên hệ v
ới đông đảo công
chúng, không chỉ trải rộng phạm vi toàn quốc gia mà còn lan tỏa trong phạm vi
quốc tế. Cũng không giống như các tổ chức khác, NHTM một định chế tài
chính trung gian luôn phải kinh doanh bằng tiền của người khác. Do vậy, vấn
đề quan trọng đặt ra là hiệu quả hoạt động của các NHTM. Hoạt động tín dụng
ở mọi thời kì luôn chiếm vị trí quan trọng bậc nhất trong việc đóng góp vào
phầ
n lợi nhuận của ngân hàng. Nhưng lợi nhuận càng cao thì rủi ro càng lớn,
hoạt động tín dụng của ngân hàng luôn phải đối mặt với hàng loạt các khó khăn,
trong đó phải kể đến rủi ro nợ quá hạn.
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác phòng ngừa rủi ro trong hoạt động
tín dụng ngân hàng mà chủ yếu là hạn chế rủi ro nợ quá hạn, do vậy mà em đã
lựa chọn đề
tài:
“Ngăn ngừa và xử lí nợ quá hạn tại Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển
Nông Thôn Hà Nội”
Nợ quá hạn thường xảy ra trong hoạt động cho vay bảo lãnh song trong pham vi
đề tài, em xin chỉ đi sâu nghiên cứu nợ quá hạn trong hoạt động cho vay.
BỐ CỤC CHUYÊN ĐỀ GỒM
:

2
- Lời mở đầu

n cho mình. Điều đó được thể
hiện thông qua một số hoạt động cơ bản của ngân hàng:
- Huy động vốn: đây được coi là hoạt động đầu vào cho việc kinh doanh của
các NHTM. Nó đóng vai trò rất quan trọng đối với tất cả lĩnh vực trong nền
kinh tế thông qua việc cung cấp các điều kiện thuận lợi cho việc gửi tiền nhàn
rỗi của dân cư vào tổ ch
ức kinh tế. Theo luật các tổ chức tín dụng, hoạt động
huy động vốn bao gồm việc nhận tiền gửi, phát hành các giấy tờ có giá, vay vốn
giữa các tổ chức tín dụng và vay vốn của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) dưới
hình thức tái cấp vốn theo quy định tại điều 30 luật NHNN.
- Cho vay: là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, NHTM không chỉ đi huy động
vốn mà còn phải sử dụng vốn huy độ
ng được để cho vay và đầu tư các tài sản
có tính sinh lời
Các NHTM được cấp tín dụng cho các tổ chức cá nhân dưới hình thức cho vay
chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá bảo lãnh, cho thuê tài chính và
các hình thức khác theo quy định của nhà nước. Hoạt động tín dụng của các
NHTM cũng được đa dạng hóa từ hình thức đầu tư đến các loại vốn cho vay
với thời hạn và điều kiện khác nhau nhằm thu lợi nhu
ận tối đa trên cơ sở đảm

4
bảo khả năng thanh khoản của ngân hàng với mục đích cuối cùng là an toàn và
sinh lời.
- Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ: để đảm bảo chi phí lưu thông và tăng độ an
toàn, thuận tiện cho các doanh nghiệp trong quan hệ kinh doanh, ngân hàng
thực hiện dịch vụ thu chi hộ và thực hiện các dịch vụ thanh toán khác do Ngân
hàng nhà nước (NHNN) quy định. Ngoài ra ngân hàng còn thực hiện các dịch
vụ ngân quỹ là dịch vụ thu phát tiền mặt cho khách hàng, đồng thời tổ ch
ức và

kinh tế, trong một số trường hợp còn thực hiện cho vay đối với ngân sách nhà
nước thông qua việc mua trái phiếu, cổ phiếu
- Thúc đẩy và kiểm soát hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp:
Việc thoả mãn một phần hay toàn bộ nhu cầu vốn của doanh nghiệp đã tạo điều
kiện giúp cho doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất, đổi mới công ngh
ệ, đầu
tư xây dựng cơ bản…. từ đó góp phần thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh
phát triển. Đồng thời việc đưa ra quyết định cho vay cũng đồng nghĩa với việc
ngân hàng tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp để đảm bảo các khoản vay được sử dụng đúng mục đích và có
hiệu quả. Ngoài ra đó cũng là cách để ngân hàng giúp Nhà n
ước quản lý tình
hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Nâng cao tăng cường hệ thống kinh doanh:
Khác với việc sử dụng vốn ngân sách nhà nước, các doanh nghiệp sử dụng vốn
tín dụng phải có nghĩa vụ hoàn trả cả gốc và lãi của khoản vay đến khi hết hạn.
Do đó yêu cầu yêu cầu đặt ra đối với doanh nghiệp là phải quan tâm đến hiệu
quả sử dụ
ng vốn, tránh tình trạng trì trệ, các doanh nghiệp phải tự chủ kinh

6
doanh, tức là phải nắm bắt được tình hình thị trường, đánh giá, phân tích những
biến động và xu hướng phát triển của thị trường để từ đó tìm ra hướng đi cho
mình
3- Các nguyên tắc của tín dụng ngân hàng:

Hoạt động tín dụng giữ vai trò rất quan trọng trong các hoạt động của ngân
hàng thương mại. Chất lượng của hoạt động tín dụng có ý nghĩa sống còn đối
với NHTM. Do vậy hoạt động tín dụng cần tuân theo nguyên tắc nhất định
nhằm hạn chế rủi ro có thể xảy ra:

năng trả nợ thì số nợ đến hạn phải chuyển sang nợ quá hạn và khách hàng
phải chịu lãi suất nợ quá hạn đối với số tiền trả chậm”.

Tổng số tiền quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn (%) = -------------------------- x 100
Tổng dư nợ

Công thức này phản ánh, nếu tỉ lệ NQH của ngân hàng ở mức cao thì chứng tỏ
hoạt động kinh doanh của ngân hàng chưa được hiệu quả,chất lượng tín dụng
chưa được tốt và ngược lại.
Việc phân loại nợ quá hạn sẽ giúp chúng ta đánh giá chất lượng tín d
ụng của
ngân hàng theo các tiêu thức khác nhau.
2-Phân loại nợ quá hạn

Nợ quá hạn được phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau để làm căn cứ xây
kế hoạch thu hồi vốn trong từng trường hợp cụ thể. Dưới đây là một số phương
pháp phân chia thường được áp dụng nhất:
*Căn cứ vào thời gian quá hạn:
- Nợ quá hạn dưới 180 ngày
- Nợ quá hạn từ 180 ngày đến 360 ngày
- Nợ quá hạn trên 360 ngaỳ
*Căn cứ theo thành phần kinh tế:
- Nợ quá h
ạn của các doanh nghiệp nhà nước
- Nợ quá hạn của các doanh nghiệp tư nhân
- Nợ quá hạn của các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn
- Nợ quá hạn của các hộ sản xuất cá thể
*Căn cứ theo khả năng thu hồi:


xuyên về nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng làm cho hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp diễn ra hết sức khó khăn, có thể dẫn đến sự đình đốn,

9
phá sản của doanh nghiệp làm ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của doanh
nghiệp.
- Môi trường pháp lý chưa hoàn chỉnh, cơ chế chính sách thường xuyên thay
đổi, hệ thống pháp luật không đồng bộ: Đây là vấn đề tất yếu của một đất nước
đang trong quá trình kiến thiết và phát triển. Tuy nhiên điều này đôi khi cũng
làm ảnh hưởng tới hoạt động của ngân hàng.
- S
ự biến động kinh tế chính trị trong khu vực và thế giới càng làm tăng hưởng
đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong thời kỳ đẩy mạnh
quy trình hội nhập hôm nay. Đồng thời sự biến động ấy có thể dẫn đến sự thay
đổi chính sách, làm ảnh hưởng đến chất lượng của các khoản tín dụng.
- Thiên tai địch hoạ là rủi ro bất khả kháng của ngân hàngvà khách hàng khi
th
ực hiện một hợp đồng vay. Khi rủi ro xảy ra có thể ảnh hưởng đến hoạt động
sản xuất kinh doanh của khách hàng. Nếu rủi ro xảy ra lớn đòi hỏi phải có thời
gian ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh mới có khả năng trả nợ thậm chí
mới khắc phục được.
b)Nguyên nhân chủ quan:
*Từ phía khách hàng:
- Kinh doanh thua lỗ do trình độ, năng lực quản lý kinh doanh củ
a doanh
nghiệp còn yếu kém. Nhiều doanh nghiệp tham gia kinh doanh quá nhiều mặt
hàng, vay vốn mở rộng sản xuất kinh doanh vượt khả năng quản lý dẫn đến ứ
đọng hàng hoá, kinh doanh thua lỗ, vốn bị thất thoát. Ngoài ra việc thẩm định
dự án đầu tư không đúng cũng dẫn đến tình trạng thua lỗ, nợ không trả được.
- Sử dụng vốn sai mục đích xin vay đã nêu trong phương án vay vốn và trong

- Định kỳ trả nợ chư
a thích hợp với vòng luân chuyển vốn: kỳ hạn trả nợ được
hiểu là một khoảng thời gian trong thời hạn cho vay đã được thoả thuận giữa tổ
chức tín dụng và khách hàng mà tại cuối mỗi khoảng thời gian đó khách hàng
phải trả một phần hoặc toàn bộ tiền vay cho tổ chức tín dụng. Do vậy, kỳ hạn
trả nợ phải được phải xác định d
ựa trên chu kỳ sản xuất, kế hoạch bán hàng và
doanh thu.
- Tư tưởng chạy theo thành tích, tăng dư nợ một cách không căn cứ vượt lên
trên nhu cầu phát triển kinh tế và nhu cầu vốn cần thiết hợp lý của doanh
nghiệp và cả khả năng quản lý hiện có của các doanh nghiệp.
4- Ảnh hưởng của nợ quá hạn11
Nợ quá hạn ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của một ngân hàng và. Tuy nhiên
ảnh hưởng của nợ quá hạn không chỉ dừng lại trong phạm vi ngân hàng. Sở dĩ
người ta phải quan tâm nhiều đến vấn đề nợ quá hạn của ngân hàng bởi nó có
ảnh hưởng sâu rộng tới các doanh nghiệp và cả nền kinh tế. Sau đây ta sẽ ngiên
cứu ảnh hưởng của nợ quá hạn:
*
Ảnh hưởng của nợ quá hạn đối với nền kinh tế:
- Sức ép lạm phát: NQH ở mức độ cao sẽ dẫn đến sự khan hiếm vốn một cách
giả tạo. Một khối lượng vốn tồn đọng trong các khoản nợ quá hạn dẫn đến tiền
trong lưu thông giảm sút gây sức ép tăng cùng tiền mà hậu quả là lạm phát.
- Đình chỉ sản xuất: NQH còn
ảnh hưởng đến việc lưu thông tín dụng khiến vốn
ùn tắc không đến được nơi cần vốn để phát triển hoạt động sản xuất kinh
doanh, gây đình đốn ảnh hưởng xấu đến sự phát triển kinh tế.
-Khủng hoảng hệ thống tài chính ngân hàng, khủng hoảng kinh tế: ngân hàng

- Giảm uy tín của ngân hàng: do hoạt động kinh doanh chủ yếu bằng tiền của
người khác nên khi tỷ lệ NQH của ngân hàng cao tức là chất lượng tín dụng của
ngân hàng càng thấp có ảnh h
ưởng đến khả năng thanh toán của ngân hàng, sẽ
làm cho khách hàng không còn tin tưởng vào hiệu quả hoạt động kinh doanh
của ngân hàng dẫn đến việc làm giảm đáng kể các quan hệ giao dịch của ngân
hàng
- Nguy cơ phá sản: đây là ảnh hưởng nghiêm trọng nhất của NQH đối với hoạt
động ngân hàng. Nếu NQH ở mức cao không sớm được hạn chế sẽ dẫn tới hàng
loạt các ảnh hưởng xấu nh
ư đã kể trên và cuối cùng là sự phá sản của ngân
hàng.
*Ảnh hưởng đối với khách hàng:
- Giảm tốc độ chu chuyển vốn : trong nền kinh tế hiện đại, hầu hết các hoạt
động thanh toán giao dịch của khách hàng đều được thực hiện thông qua ngân
hàng và hoạt động kinh doanh của khách hàng cũng chủ yếu dựa vào vốn vay
ngân hàng. Do vậy, tình trạng Nợ quá hạn dây dưa khó đòi của khách hàng sẽ
làm ả
nh hưởng trực tiếp đến quan hệ của khách hàng với ngân hàng, làm giảm
tốc độ chu chuyển vốn của khách hàng.
- Tăng chi phí hoạt động: Lãi suất ngân hàng được quy định cao hơn mức lãi
suất trần. Như vậy nếu một doanh nghiệp phát sinh NQH sẽ làm tăng Chi phí
hoạt động lên và càng làm tăng gánh nặng trả nợ ngân hàng.

13
- Giảm uy tín: Việc phát sinh NQH sẽ làm khách hàng bị mất uy tín đối với
ngân hàng. Vậy mà trong hoạt động của mình, khách hàng có rất nhiều mối
quan hệ với ngân hàng. NQH phát sinh là vật cản lớn gây ra khó khăn cho
khách hàng trong quan hệ với ngân hàng. Sẽ không có một ngân hàng nào
muốn duy trì quan hệ lâu dài với doanh nghiệp có tỷ lệ nợ quá hạn cao bởi đây

6 - Các biện pháp phòng ngừa phát sinh Nợ quá hạn:

Các ngân hàng thương mại hiện nay rất quan tâm đến các biện pháp phòng
ngừa có thể áp dụng để hạn chế những thiệt hại trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của mình:
*Đối với các khoản cho vay mới cần:
- Nghiên cứu khách hàng:
Tìm hiểu nắm bắt khách hàng là một trong những yếu tố tạo nên thành công của
ngân hàng. Vì vậy trước khi thiết lập quan hệ tín dụng, ngân hàng phải nghiên
cứu rõ về khách hàng của mình. Trên cơ
sở đó ngân hàng đánh giá khả năng chi
trả của khách hàng.
- Thiết lập hệ thống thông tin khách hàng:
Đây là một công cụ đắc lực giúp cho cả ngân hàng và khách hàng cùng phát
triển. Họat động tín dụng của ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ với hoạt động
khách hàng. Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển không thể thiếu ngân
hàng. Ngân hàng là nhà quản lý ngân quỹ giúp các doanh nghiệp, cung cấp các
khoản tín dụng cho doanh nghiệp hoạt động vào những th
ời điểm khó khăn và
thực hiện dịch vụ thanh tóan giữa các doanh nghiệp. Đồng thời, sự phát triển
của các doanh nghiệp có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của ngân hàng.
Với dịch vụ này, ngân hàng có thể tạo ra một thị trường mới, tăng thêm lợi
nhuận đồng thời giảm được rủi ro.
- Phân tán rủi ro:
Để tránh được rủi ro, ngân hàng cần đa d
ạng hoá đối với tượng cho vay, tránh
chỉ dồn vốn vào một số ngành nghề nhất định trong nền kinh tế, thực hiện đồng
tài trợ với các khoản vay lớn mà ngân hàng không thể kiểm soát nổi. Ngoài ra
ngân hàng có thể tham gia bảo hiểm để tránh rủi ro.
- Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ tín dụng:

cho cả 2 bên. Ngân hàng ít muốn đòi nợ và quả thực có thể ở vào vị trí tốt hơn
để xếp loại khoản vay dễ trả nợ hơn. Dĩ nhiên nó cũng sẽ có lợi cho ngân hàng
vì tình hình tài chính của nó sẽ được tăng lên.
- Cơ cấu lại khoản nợ: Ngân hàng có thể cơ cấu lại kho
ản cho vay bằng việc
kéo dài kỳ hạn và rút bớt mức chi trả hàng tháng hay thậm chí huỷ bỏ sự trả
vốn gốc trong một thời gian. Ngân hàng cũng có thể giới thiệu một người cho
vay dài hạn hơn hay cộng tác với một người cho vay khác và như vậy giảm bớt
rủi ro.

16
7- Xử lý nợ quá hạn:

Bất kỳ một ngân hàng nào dù có áp dụng biện pháp phòng ngừa tốt thì cũng
không thể tránh khỏi tình trạng nợ quá hạn của cáckhoản vay. Do vậy để hạn
chế nợ quá hạn thì ngoài việc phòng ngừa cần có những biện pháp xử lý đối với
các khoản nợ quá hạn phát sinh
7.1 Căn cứ lựa chọn các xử lý
Việc quyết định lựa chọn giải pháp xử lí NQH nào thường bị chi phố
i bởi quan
điểm về “đạo đức tín dụng” và chiến lược kinh doanh, chiến lược khách hàng
của người điều hành ngân hàng thương mại, trong đó phải kể đến các yếu tố
chính sau:
- Tình hình thu ngân và tổn thất có thể xảy ra đối với các khoản vay.
- Sự thật thà và thái độ của người vay đối với các khoản nợ
- Sức mạnh tài chính và khả năng chi trả của người vay
- Thái độ c
ủa các chủ nợ khác của khách hàng
7.2- Các biện pháp xử lý chủ yếu:
a.Biện pháp khai thác:

tíêp thêm “sinh khí” cho khách hàng.
- Ngân hàng cần nắm giữ phần chủ động, thậm chí điều hành hoạt động kinh
doanh đến khi đảm bảo rằng khoản vay sẽ được chi trả: Điều này được thực
hiệ
n khi giám đốc đương nhiệm không có khả năng, có bằng chứng về tính gian
dối, và phương pháp này có vẻ là giải pháp hợp lý cho một tình huống xấu.
- Chuyển tín dụng ngân hàng thành vốn cổ phần của doanh nghiệp: Đây là biện
pháp : Với uy tín, kinh nghiệm của mình sự góp mặt của ngân hàng với tư cách
là cổ đông của doanh nghiệp sẽ thúc đẩy hoạt động của doanh nghiệp.
b. Biện pháp thanh lý:
Các biện pháp thanh lý th
ường được áp dụng:
- Ngân hàng thuyết phục doanh nghiệp tự bán tài sản thế chấp: Đây là một
cách giải quyết có lợi cho khách hàng và ngân hàng. Việc khách hàng tự bán tài
sản thường được đánh giá cao hơn là buộc phải phát mại, đồng thời tránh cho
khách hàng khỏi bị giảm uy tín trên thương trường. Mặt khác ngân hàng cũng
tránh được chi phí phát mại và thủ tục pháp lý gắn với sở hữu và phát mại tài
sản tài chính.

18
- Ngân hàng bán tài sản tài chính để thu nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng:
Đây là cách giải quyết không dễ dàng bởi đây không phải là nhiệm vụ của ngân
hàng. Hơn nữa việc bán tài sản tài chính để thu nợ, doanh nghiệp có thể sử
dụng tài sản tài chính làm tài sản sở hữu của mình làm trụ sở, bán trả góp cho
cán bộ công nhân viên…theo hợp đồng bán có điều kiện
- Gán nợ: Trong trường hợp khách hàng không có khả năng tr
ả nợ, không có
nguồn thu nhập nào khác và có uỷ quyền cho ngân hàng toàn quyền đinh đoạt
trong việc bán tài sản tài chính để thu hồi nợ..
- Sử dụng biện pháp lý để thu hồi nợ vay: Ngân hàng có thể nhờ công an địa

thành phố,huyện ngoại thành của thủ
đô Hà Nội được tách chuyển về các tỉnh
khác nên qui mô và phạm vi hoạt động của NHNoHN bị thu hẹp. Đứng trước
tình hình đó kết hợp với định hướng mở rộng mạng lưới kinh doanh,NHNNo đã
chuyển hướng kinh doanh tập trung khai thác địa bàn nội thành Hà Nội bằng
cách thành lập thêm 8 ngân hàng quận nội thành nhằm khai thác hết nguồn vốn
còn đang nhàn rỗi trong dân cư, cho vay, cung cấp cac dịch vụ phát triển kinh tế
thủ
đô đồng thời làm nhiệm vụ của ngân hàng phục vụ người nghèo trên địa
bàn theo mô hình ngân hàng phục vụ người nghèo.
Với tên gọi:Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn thành phố Hà Nội.
Tên giao dịch quốc tế:The branch for Agriculture and Rural Development Bank
of Ha Noi.
Trụ sở đặt tại:Số 77-Lạc Trung-Hai Bà Trưng-Hà Nội
NHNoHN là ngân hàng cấp thành phố, có địa bàn hoạt động rộng.Hà Nội là
trung tâm kinh té xã hội của cả nước, tập trung nhiều quan hệ kinh tế buôn bán
lớn, nhi
ều doanh nghiệp hoạt động.Do vậy hoạt động của NHNoHN tuân theo
luật ngân hàng.Các hoạt động chủ yếu của NHNoHN :
- Nhận tiền gửi bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ.
- Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn bằng đồng Việt nam và ngoại tệ cho
mọi thành phần kinh tế.
- Cho vay uỷ thác theo các chương trình của chính phủ trong và ngoài nước
- Thực hiện nghiệp vụ thanh toán trong và ngoài nước,mua bán ngoại tệ,tài
trợ ngo
ại thương,bảo lãnh và tái bảo lãnh.

20
- Thực hiện dịch vụ thanh toán chuyển tiền nhanh qua mạng vi tính trong phạm
vi toàn quốc và qua hệ thống mạng Swift trên toàn thế giới.

chính

Phòng

Kế

toán Phòng

Vi

tính

Phòng

Kế

hoạch

Phòng

Kinh

doanh Phòng


cấp
hai
PHÓ GIÁM ĐỐC I PHÓ GIÁM ĐỐC II
GIÁM ĐỐC

21
2. 2 Chức năng , nhiệm vụ của các phòng ban
Banh lãnh đạo: gồm 1 Giám đốc và 2 Phó giám đốc. Giám đốc là người
trực tiếp điều hành mọi hoạt động của Ngân hàng, chịu trách nhiệm trước
pháp luật và Tổng giám đốc NHN
0
&PTNT Việt Nam. Quyền và nghĩa vụ
của Giám đốc được thể hiện trong quyết định 169/QĐ/HĐQUá TRìNH của
Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam. Giúp việc cho Giám đốc là các Phó
Giám đốc trong chỉ đạo điều hành, tham gia chỉ đạo một số nghiệp vụ do
Giám đốc phân công và thay mặt Giám đốc khi được uỷ quyền.
Phòng Kế hoạch: Đây là phòng có vai trò rất quan trọng trong việc nghiên
cứu xây dựng các kế hoạch, hỗ trợ
đắc lực cho ban lãnh đạo Ngân hàng
trong việc ra các quyết định kinh doanh chiến lược của Ngân hàng Nhiệm
vụ phòng ban:
- Nghiên cứu và đề xuất chiến lược khách hàng, chiến lược huy động vốn
trên địa bàn thành phố Hà Nội.
- Xây dựng kế hoạch kinh doanh theo định hướng kinh doanh của Ngân
hàng Nông nghiệp Việt Nam.
- Tổng hợp, theo dõi các chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh và quyết toán kế
hoạch đến các chi nhánh NHN
0
&PTNT trên địa bàn này, xây dựng các báo
cáo trình giám đốc.

- áp dụng công nghệ thanh toán hiện đại
Phòng kế toán có nhiệm vụ:
- Ghi chép thống kê các giao dịch, hạch toán kế toán, thanh toán.
- Lập các báo cáo, xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch tài chính, quyết toán kế
hoạch thu, chi tài chính.

23
- Tổng hợp, lưu trữ hồ sơ tài liệu về hạch toán, kế toán, quyết toán và các
báo cáo theo quy định.
- Thực hiện nghiệp vụ thanh toán trong nước, bao gồm các bộ phận thanh
toán qua Ngân hàng bằng nội tệ, thanh toán bù trừ, thanh toán liên ngân
hàng.
- Quản lý và sử dụng các thiết bị thông tin, điện toán phục vụ nghiệp vụ kinh
doanh theo quy định chung.
Phòng ngân quỹ có nhiệm vụ:
- Chuyển tiền theo lệnh của các phòng ban khác cho khách hàng, lưu tiền
m
ặt trong kho để đáp ứng nhu cầu chi trả, cho vay đối với khách hàng của
Ngân hàng.
- Quản lý và sử dụng các quỹ chuyên dùng theo quy định của Ngân hàng
Nông nghiệp Việt Nam.
- Chấp hành các quy định về an toàn kho quỹ và định mức kho theo quy
định.
Phòng tổ chức cán bộ và đào tạo: được tách ra từ phòng hành chính nhân
sự (cũ) do yêu cầu thay đổi cho phù hợp với thực tế kinh doanh tại Ngân
hàng .
Nhiệm vụ của phòng:
- Xây dựng quy định lề
lối làm việc trong đơn vị và mối quan hệ với tổ chức
Đảng, Công đoàn, chi nhánh trực thuộc địa bàn.

của Ban lãnh đạo.
- Chăm lo đời sống vật chất, văn hoá tinh thần cho cán bộ công nhân viên
trong ngân hàng.

25
- Chăm lo đời sống vật chất, văn hoá tình thần cho các cán bộ công nhân
viên trong ngân hàng.
Phòng vi tính: được thành lập vào tháng 12 năm 2001 xuất phát từ yêu cầu
hội nhập, và nhanh chóng hiện đại hoá công nghệ trong ngân hàng.
Nhiệm vụ của phòng:
- Tổng hợp thống kê và lưu trữ số liệu thông tin liên quan đến hoạt động của
chi nhánh.
- Xử lý các nghiệp vụ phát sinh liên quan đến hạch toán kế toán, kế toán
thống kê, hạch toán nghiệp vụ và tín dụng các ho
ạt động khác phục vụ cho
hoạt động kinh doanh.
- Chấp hành chế độ báo cáo, thống kê và cung cấp số liệu thông tin cho quy
định.
- Quản lý, bảo dưỡng và sửa chữa máy móc thiết bị tin học.
- Làm dịch vụ tin học.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác được giao.
Phòng kiểm tra, kiểm soát nội bộ có nhiệm vụ:
- Kiểm tra công tác điều hành của chi nhánh và các đơn vị trực thuộc trên
địa bàn.
- Kiểm tra, giám sát việ
c chấp hành quy trình nghiệp vụ kinh doanh, độ
chính xác của báo cáo tài chính và việc tuân thủ các nguyên tắc chế độ về tài
chính kế toán theo quy định của Nhà nước và ngành ngân hàng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status