Quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ - Thực trạng và giải pháp
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA -
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNGTheo Điều 3 của Nghị định 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001, doanh nghiệp
nhỏ và vừa (DNNVV) là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập có đăng ký kinh doanh
theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động
trung bình hàng năm không quá 300 người. Các DNNVV bao gồm các doanh nghiệp
thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp nhà nước và
Luật Hợp tác xã, hoạt động theo nhiều loại hình doanh nghiệp, như doanh nghiệp
Nhà nuớc, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, hợp
tác xã, công ty hợp danh.
Sự hình thành và phát triển DNNVV ngày càng tăng về số lượng bởi lẽ
DNNVV có nhiều lợi thế trong hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường.
Nhưng lợi thế của DNNVV có thể kể đến như DNNVV cần vốn ít, lao động không
nhiều, dễ quản lý nên dễ dàng khởi sự; có thể tận dụng dễ dàng mọi nguồn lực trong
xã hội cho yêu cầu phát triển; dễ linh hoạt về thời gian giao hàng và giá cả nên dễ
giao dịch; có tính linh động, có tính phản ứng nhanh trước sự chuyển biến mạnh về
sản phẩm, dịch vụ, quy trình sản xuất và thị trường.
Chính vì vậy, DNNVV đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của
một quốc gia, tạo việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, góp phần ổn định xã hội. Ở các
nước phát triển, số lượng DNNVV thường chiếm từ 90 - 95% tổng số doanh nghiệp
trong nền kinh tế và giải quyết việc làm cho khoảng 2/3 lực lượng lao động. Chẳng
hạn các DNNVV của Thụy Điển đã tạo việc làm cho hơn 60% người lao động, tỷ lệ
này ở Nhật là 66,9%, Đài loan là 78%, Chi Lê là 70,3%. Tác dụng tạo việc làm của
các DNNVV trong thời kỳ kinh tế suy thoái tựa như một "chiếc van an toàn" để điều
chỉnh kinh tế vĩ mô nền kinh tế, hạn chế những tác động tiêu cực của các cuộc khủng
hoảng kinh tế. Ở Việt Nam hiện nay có khoảng 140.000 DNNVV, chiếm trên 90%
tổng số doanh nghiệp, đóng góp khoảng 26-27% GDP, 31% sản lượng công nghiệp,
67% nguồn thu ngân sách từ thuế và việc làm cho 26% tổng số lao động cả nước.
giảm giá thành, xây dựng thương hiệu, phát triển hệ thống phân phối, phát triển
nguồn nhân lực...
Thực hiện các nhiệm vụ trên, các DNNVV phải chủ động, phát huy mọi khả
năng của mình, đồng thời Nhà nước cần thực hiện tốt các công tác quản lý nhà nước
đối với DNNVV, cụ thể là:
- Hoàn chỉnh hệ thống thể chế, chính sách, đẩy mạnh cải cách hành chính,
hướng về doanh nghiệp, phục vụ cho doanh nghiệp tốt hơn.
+ Trước hết về thể chế chính sách: Nhà nước nên coi trọng việc xây dựng
và ban hành thể chế, chính sách phải bảo đảm quán triệt tư duy đổi mới, không để
chen vào trong đó những quy định gây khó khăn cho DNNVV và cần chống lại việc
tùy tiện đặt ra các điều kiện hạn chế quyền tự do kinh doanh hợp pháp, nhưng phải
đảm bảo tăng cường kiểm tra, kiểm soát nhằm bảo đảm cho doanh nghiệp nói chung
và DNNVV nó riêng kinh doanh đúng pháp luật, ngăn chặn tình trạng lạm dụng
quyền tự do kinh doanh để kiếm lời bất chính.
+ Củng cố cơ quan đăng ký kinh doanh thành hệ thống đủ mạnh để tạo
thuận lợi cho việc đăng ký kinh doanh, giải quyết những vấn đề phát sinh trước khi
bắt đầu khởi sự doanh nghiệp . Bên cạnh việc tạo thuận lợi cho sự thành lập doanh
nghiệp mới, Nhà nước cần tạo môi trường thuận lợi bình đẳng cho doanh nghiệp hoạt
động trong suốt quá trình kinh doanh. Trong thời gian qua, môi trường kinh doanh
đã được cải thiện một bước đáng kể, nhưng vẫn còn những trở ngại từ phía các cơ
quan chức năng đang lạm dụng các biện pháp hành chính gây nhũng nhiễu, khó
khăn cho doanh nghiệp, làm tăng chi phí kinh doanh, hạn chế khả năng cạnh tranh
của doanh nghiệp. Trong thời gian tới, chúng ta phải thực hiện việc công khai, minh
bạch các thủ tục hành chính để loại trừ những cản trở hoạt động làm ăn chính đáng
của dân và của doanh nghiệp, góp phần chống tham nhũng.
- Nhà nước cần tạo môi trường thuận lợi cho DNNVV phát triển hoạt động sản
xuất kinh doanh, cụ thể là:
+ Duy trì ổn định kinh tế vĩ mô thông qua việc tạo lập cân đối gia tăng tiết
kiệm để đầu tư cho phát triển; duy trì sự cân đối giữa thu và chi ngân sách Nhà nước
nhằm giữ lạm phát ở mức có thể kiểm soát được; duy trì sự cân đối giữa tích lũy và
trạng dân nông thôn đổ về thành thị làm phát sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp.
Tăng cường công tác quản lý Nhà nước đối với DNNVV, thiết nghĩ đây là vấn
đề cấp thiết cần được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện nhằm khơi dậy tinh
thần kinh doanh trong dân ta, khuyến khích các nhà đầu tư bỏ vốn, trí tuệ, tài năng
ra kinh doanh vì sự phồn vinh của đất nước, nhằm thực hiện thắng lợi chiến lược
quốc gia về phát triển doanh nghiệp, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện
đời sống nhân dân.
Tiến sĩ. Lê Thị Khuyên - Ban Tuyên giáo Tỉnh Ủy
Chủ nhiệm đề tài: T.S Trần Tiến Cường - Trưởng ban Ban Nghiên cứu cải cách và phát triển
doanh nghiệp
Email: [email protected]
Đề tài khoa học cấp bộ "Đổi mới quản lý nhà nước đối với các loại hình doanh
nghiệp ở Việt Nam theo hướng không phân biệt thành phần kinh tế"
Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với doanh
nghiệp theo hướng thống nhất không phân biệt thành phần kinh tế; xác định các nội dung chính
của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp và kiến nghị các giải pháp giúp hình thành nội dung và
cơ chế quản lý nhà nước chung thống nhất cho các loại hình doanh nghiệp. Ngoài mở đầu và kết
luận, đề tài gồm 3 chương với các nội dung như sau:
Chương I: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước và quản lý nhà nước thống nhất đối với các
loại hình doanh nghiệp. Chương này tập trung làm rõ một số vấn đề lý luận như: các loại hình
doanh nghiệp ở Việt Nam xét từ đặc điểm pháp lý và sở hữu có ảnh hưởng đến quản lý nhà nước;
quan niệm về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp khi chuyển sang nền kinh tế thị trường; quan
niệm, đặc điểm và yêu cầu quản lý nhà nước thống nhất không phân biệt thành phần kinh tế; vai
trò của Nhà nước, mục tiêu và nguyên tắc xác định nội dung quản lý nhà nước đối với doanh
nghiệp; nội dung quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp và quản lý nhà nước thống nhất không
phân biệt thành phần kinh tế; phân biệt quản lý nhà nước và quản lý của chủ sở hữu; một số kinh
nghiệm quản lý của nước ngoài.
Chương II: Thực trạng quản lý nhà nước đối với các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam. Chương
này tập trung phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp không phân biệt thành
3. Tổ chức các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao đạo đức kinh doanh cho
người quản lý doanh nghiệp; phẩm chất chính trị, đạo đức, nghiệp vụ cho cán bộ quản lý
nhà nước đối với Doanh nghiệp; đào tạo và xây dựng đội ngũ cho công nhân lành nghề.
4. Thực hiện chính sách ưu đãi đối với Doanh nghiệp theo định hướng và mục tiêu của
chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
5. Kiểm tra, thanh tra hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, xử lý các hành vi vi phạm
Pháp luật của doanh nghiệp, của cá nhân và tổ chức có liên quan theo quy định của Pháp
luật.
CHƯƠNG IX
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
Điều 161. Nội dung quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp
1. Ban hành, phổ biến và hướng dẫn thực hiện các văn bản pháp luật về doanh nghiệp và
văn bản pháp luật có liên quan.
2. Tổ chức đăng ký kinh doanh; hướng dẫn việc đăng ký kinh doanh bảo đảm thực hiện
chiến lược, quy hoạch và kế hoạch định hướng phát triển kinh tế - xã hội.
3. Tổ chức các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao đạo đức kinh doanh cho
người quản lý doanh nghiệp; phẩm chất chính trị, đạo đức, nghiệp vụ cho cán bộ quản lý
nhà nước đối với doanh nghiệp; đào tạo và xây dựng đội ngũ công nhân lành nghề.
4. Thực hiện chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp theo định hướng và mục tiêu của
chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
5. Kiểm tra, thanh tra hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; xử lý các hành vi vi phạm
pháp luật của doanh nghiệp, của cá nhân và tổ chức có liên quan theo quy định của pháp
luật.
Điều 162. Trách nhiệm quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp; chỉ định một cơ quan
chịu trách nhiệm trước Chính phủ chủ trì phối hợp với các bộ, ngành khác thực hiện quản
lý nhà nước đối với doanh nghiệp.
2. Các bộ, cơ quan ngang bộ chịu trách nhiệm trước Chính phủ về việc thực hiện nhiệm vụ
được phân công trong quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp; trong phạm vi nhiệm vụ,
quyền hạn được phân công có trách nhiệm: