LUẬN VĂN:
Đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ
tầng kỹ thuật nông nghiệp, nông thôn
ngoại thành hà Nội Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của hệ thống kết cấu
hạ tầng nông thôn đối với quá trình phát triển kinh tế -xã hội ở nông
thôn , tôi chọn đề tài: " Đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng
kỹ thuật nông nghiệp, nông thôn ngoại thành hà Nội "
Trong khuôn khổ đề tài này chỉ đề cập đến hệ thống kết cấu hạ
tầng kỹ thuật, có tác động trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp như hệ
thống thuỷ lợi, giao thông nông thôn, điện nông thôn,nước sạch nông
thôn…
Nôi dung của đề tài gồm các vấn đề sau đây:
Chương I: Lý luận chung về đầu tư phát triển, sản xuất nông
nghiệp và hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn.
Chương II: Nêu lên thực trạng đầu tư cho hệ thống kết cấu hạ
tầng kỹ thuật thời gian qua ở ngoại thành Hà Nội và những vấn đề
còn tồn tại.
Chương III: Nêu ra những phương hướng, mục tiêu và giải pháp
thúc đẩy đầu tư cho nông nghiệp nông thôn ngoại thành
trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các
kết quả đó.
Nguồn lực đó có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao
động và trí tuệ.
Những kết quả đó có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính
(tiền vốn), tài sản vật chất(nhà máy, đường xá…),tài sản trí tuệ
trình độ văn hoá, chuyên môn, khoa học kỹ thuật…) và các
nguồn lực có đủ các điều kiện để làm việc có năng suất trong
nền sản xuất xã hội.
Trong những kết quả đã đạt được trên đây, những kết quả trực
tiếp của sự hy sinh các nguồn lực là các tài sản vật chất, tài sản trí
tuệ và nguồn nhân lực tăng thêm có vai trò quan trọng trong mọi lúc
mọi nơi không chỉ đối với người bỏ vốn mà cả đối với toàn bộ nền
kinh tế. Những kết quả này không chỉ người đầu tư mà cả nền kinh tế
xã hội được hưởng thụ.
Tuy nhiên, nếu xem xét trên giác độ toàn bộ nền kinh tế thì
không phải tất cả các hoạt động đầu tư đều đem lại lợi ích cho nền
kinh tế và được coi là đầu tư của nền kinh tế. Các hoạt động như gửi
tiền tiết kiệm, mua cổ phần và hàng hoá… thực chất là việc chuyển
giao quyền sử dụng từ người này sang người khác còn tài sản của nền
kinh tế không có sự thay đổi trực tiếp. Chỉ những hoạt động làm tăng
thêm các tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực cho nền
kinh tế mới được xem là đầu tư phát triển hay đầu tư trên giác độ nền
kinh tế.
Mục tiêu của mọi công cuộc đầu tư là đạt được những kết quả lớn
hơn so với những hy sinh mà người đầu tư phải gánh chịu khi tiến
trì sự ổn định vừa là yếu tố phá vỡ sự ổn định của nền kinh tế của
mọi quốc gia.
Chẳng hạn khi tăng đầu tư, cầu của các yếu tố của đầu tư tăng làm
cho giá của hàng hoá có liên quan tăng( giá chi phí vốn, lao động, vật
tư) đến một mức độ nào đó dẫn đến tình trạng lạm phát. Đến lượt
mình, lạm phát làm cho sản xuất đình trệ, đời sống của người lao
động gặp nhiều khó khăn do tiền lương ngày càng thấp hơn, thâm hụt
ngân sách, kinh tế phát triển chậm lại. Mặt khác tăng đầu tư làm cho
cầu của các yếu tố có liên quan, sản xuất của ngành này phát triển,
thu hút thêm lao động, giảm tình trạng thất nghiệp, nâng cao đời sống
người lao động, giảm tệ nạn xã hội. Tất cả các tác động này tạo điều
kiện cho sự phát triển kinh tế.
Khi giảm đầu tư cũng dẫn đến tác động hai mặt, nhưng theo chiều
hướng ngược lại với các tác động trên đây. Vì vậy trong điều hành vĩ
mô nền kinh tế, các nhà hoạt động chính sách cần thấy hết các tác
động hai mặt này để đưa ra các chính sách nhằm hạn chế các tác động
xấu, phát huy tác động tích cực, duy trì sự ổn định của toàn bộ nền
kinh tế.
2.3 Đầu tư tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế
Kết quả nghiên cứu của các nhà kinh tế cho thấy: Muốn giữ tốc
độ tăng trưởng ở mức độ trung bình thì tỷ lệ đầu tư phải đạt từ 15-
20% so với GDP tuỳ thuộc vào ICOR của mỗi nước. Nếu ICOR không
đổi, mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đầu tư.
ở các nước phát triển, ICOR thường lớn từ 5-7 do thừa vốn,
thiếu lao động, vốn được sử dụng nhiều để thay thế cho lao động, do
Về cơ cấu lãnh thổ, đầu tư có tác dụng giải quyết những mất
cân đối về phát triển giữa các vùng lãnh thổ, đưa những vùng kém
phát triển thoát khỏi đói nghèo, phát huy tối đa những lợi thế về tài
nguyên, địa thế, kinh tế chính trị… của những vùng có khả năng phát
triển nhanh hơn, làm bàn đạp thúc đẩy những vùng khác cùng phát
triển.
2.5 Đầu tư góp phần tăng cường khả năng khoa học và công
nghệ của đất nước.
Công nghệ là trung tâm của công nghiệp hoá. Đầu tư là điều
kiện tiên quyết của sự phát triển và khả năng công nghệ của đất nước
ta hiện nay.
Theo đánh giá của các chuyên gia công nghệ, trình độ công
nghệ của Việt Nam lạc hậu nhiều thế hệ so với thế giới và khu vực.
Theo UNIDO nếu chia quá trình phát triển công nghệ của thế giới
làm 7 giai đoạn thì Việt nam năm 1990 ở vào giai đoạn 1 và 2. Việt
Nam đang là 1 trong 90 nước có trình độ công nghệ kém nhất thế
giới. Với trình độ công nghệ lạc hậu này, quá trình công nghiệp hoá
và hiện đại hoá của Việt Nam sẽ gặp rất nhiều khó khăn nếu không đề
ra được một chiến lược đầu tư phát triển công nghệ nhanh và vững
chắc.
Chúng ta đều biết rằng có hai con đường cơ bản để có công
nghệ là tự nghiên cứu phát minh ra công nghệ và nhập công nghệ từ
nước ngoài. Dù là tự nghiên cứu hay nhập từ nước ngoài đều cần phải
có tiền, cần phải có vốn đầu tư. Mọi phướng án đổi mới công nghệ
không gắn với nguồn vốn đầu tư sẽ là những phương án không khả
thi.
tiếp và vốn đầu tư gián tiếp.
+vốn đầu tư trực tiếp là vốn của các doanh nghiệp, các cá nhân
người nước ngoài đầu tư sang các nước khác và trực tiếp quản lý và
tham gia quản lý hoặc tham gia quá trình quản lý sử dụng và thu hồi
vốn đã bỏ ra.
+ vốn đầu tư gián tiếp là vốn của các chính phủ, các tổ chức
quốc tế, tổ chức phi chính phủ được thực hiện dưới hình thức không
hoàn lại, có hoàn lại, cho vay ưu đãi với thời hạn dài và lãi suất thấp,
vốn viện trợ chính thức của các nước công nghiệp phát triển(ODA)
Đối với các nước nghèo, để phát triển kinh tế và từ đó thoát ra
cảnh nghèo thì một vấn đề nan giải ngay từ đầu là thiếu vốn gay gắt
và từ đó dẫn tới thiếu nhiều thứ khác cần thiết cho sự phát triển như
công nghệ, cơ sở hạ tầng… Do đó trong những bước đi ban đầu, để
tạo ra được "cái hích" đầu tiên cho sự phát triển, để có được tích luỹ
từ ban đầu trong nước cho đầu tư phát triển kinh tế không thể không
huy động vốn từ nước ngoài. Không có một nước chậm phát triển nào
trên con đường phát triển lại không tranh thủ nguồn vốn đầu tư nước
ngoài, nhất là trong điều kiên kinh tế mở.
Để thu hút nhanh các nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước
ngoài, cần tạo một môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư như cung
cấp cơ sở hạ tầng, dịch vụ, có luật đầu tư ưu đãi, lập các khu chế
xuất …
4. Nội dung của vốn đầu tư
Nội dung của vốn đầu tư bao gồm các khoản mục chi phí gắn
liền với nội dung của hoạt động đầu tư
Hoạt động đầu tư phát triển chính là quá trình sử dụng vốn đầu
cho công tác chuẩn bị đầu tư, xây dựng nhà cửa và các cấu trúc hạ
tầng, mua sắm thiết bị máy móc, để tiến hành các công tác xây dựng
cơ bản và chi phí khác theo qui định của thiết kế dự toán và được ghi
trong dự án đầu tư được duyệt.
Tài sản cố định huy động là công trình hay hạng mục công trình
đối tượng xây dựng có khả năng phát huy tác dụng độc lập (làm ra
sản phẩm, hàng hoá hoặc tiến hành các dịch vụ cho xã hội đã được
ghi trong dự án đầu tư) đã kết thúc quá trình xây dựng mua sắm, đã
làm xong thủ tục nghiệm thu sử dụng, có thể đưa vào hoạt động được
ngay.
Năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm là khả năng đáp ứng nhu
cầu sản xuất phục vụ các tài sản cố định đã được huy động vào sử
dụng để sản xuất ra sản phẩm hoặc tiến hành các hoạt động dịch vụ
theo qui định được ghi trong dự án.
5.2 Hiệu quả của hoạt động đầu tư
Hiệu quả kinh tế của hoạt động đầu tư(E
tc
) của hoạt động đầu
tư là mức độ đáp ứng nhu cầu phát triển hoạt động sản xuất kinh
doanh dịch vụ và nâng cao đời sống của người lao động trong các cơ
sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ trên cơ sở vốn đầu tư mà cơ sở đã sử
dụng so với các kì khác, các cơ sở khác hoặc so với định mức chung.
Chúng ta có thể biểu hiện khái niệm này thông qua công thức sau
đây:
Các kết quả mà cơ sở đạt được do thực hiện đầu tư
Nông thôn có phát triển được hay không trước tiên phụ thuộc vào sự phát
triển của nông nghiệp, dù đó là nông thôn của nước đang phát triển hay nước phát
triển.
Trước tiên nông nghiệp cung cấp những nông sản lương thực, thực phẩm cơ
bản và thiết yếu cho con người mà nếu thiếu nó sẽ có ảnh hưởng không chỉ về mặt
phát triển kinh tế mà còn ảnh hưởng cả về mặt xã hội và chính trị.
Thứ hai, nông nghiệp sản xuất ra nguyên liệu cho hàng loạt
ngành công nghiệp phát triển như công nghiệp chế biến thực phẩm, công nghiệp
dệt may, công nghiệp chế biến đồ gỗ… mà
nếu không phát triển tốt sẽ ảnh hưởng nhiều đến xuất khẩu và hàng tiêu dùng.
Thứ ba, nông nghiệp góp phần vào tăng thu nhập và tích luỹ của nền kinh tế
quốc dân, thông qua cung cấp nông sản phẩm, thuế, xuất khẩu nông sản phẩm.
Điều này dặc biệt quan trọng đối với các nước đang phát triển, đi lên từ nông
nghiệp.
Thứ tư, nông nghiệp và nông thôn là nơi có nguồn lao động dồi dào, mà
qua tăng năng suất lao động, có thể giải phóng lao động phục vụ cho các ngành
kinh tế khác. Đồng thời đó là thị trường rộng lớn để tiêu thụ các sản phẩm công
nghiệp dịch vụ tạo cho nền kinh tế chung phát triển
Thứ năm, nông nghiệp và nông thôn trải ra trên địa bàn rộng lớn ở các vùng
trên đất nước, nếu phát triển tốt sẽ góp phần quan trọng để bảo vệ môi trường sinh
thái. Nguợc lại nếu phát triển không tốt sẽ gây ô nhiễm môi trường1.2 Đặc điểm
Sản xuất nông nghiệp có những đặc điểm chủ yếu sau đây:
+Sản xuất nông nghiệp gắn với cơ thể sống động vật, thực vậ t
tạo ra tình hình có khi lao động căng thẳng, có khi nhàn rỗi lao động
thiếu việc làm. Gắn liền với tính thời vụ trong lao động là tính thời
vụ trong sử dụng cơ sở vật chất và kỹ thuật và trong thu nhập của
nông nghiệp.
Yếu tố thứ hai do diễn biến thời tiết, khí hậu thuỷ văn trong các
năm khác nhau làm cho mùa vụ sản xuất khác nhau(vụ xuân, vụ đông,
hè thu) đòi hỏi chế độ canh tác cũng khác nhau. Ngoài ra thiên tai bất
thường(lũ lụt, khô hạn) làm cho việc sản xuất phải thay đổi cho phù
hợp để có hiệu quả.
Nền nông nghiệp nước ta còn có đặc điểm riêng đó là một nền
nông nghiệp lạc hậu còn mang tính chất độc canh, tự túc, tự cấp sản
xuất hàng hoá còn ít, năng suất cây trồng vật nuôi, lâm nghiệp và
thuỷ sản, năng suất lao động, năng suất đất đai còn thấp, lao động
nông nghiệp còn chiếm tỷ trọng lớn, thu nhập và đời sống của người
lao động nông nghiệp còn thấp hơn so với nhiều nước trong khu vực
và trên thế giới
+Nông nghiệp nước ta nằm trong khu vực nhiệt đới và á nhiệt
đới có những thuận lợi và khó khăn
Về mặt thuận lợi, lượng mưa hàng năm tương đối lớn, sông
ngòi ao hồ có nhiều cung cấp một lượng nước ngọt tương đối lớn
phục vụ và sinh hoạt. Nguồn năng lượng mặt trời, ánh sáng nhiều tập
đoàn động vật và thực vật khá phong phú có thể phát triển quanh
năm, có nhiều cây trồng nhiệt đới và á nhiệt đới, tạo nên một tập
đoàn cây con đa dạng
Tuy nhiên nông nghiệp nước ta cũng gặp nhiều khó khăn như:
thiên tai(úng, lũ, hạn), khí hậu ẩm nên dễ phát sinh sâu bệnh làm cho
công bằng xã hội cũng thấp hơn đô thị.
+ Nông thôn trải ra trên địa bàn khá rộng, chịu ảnh hưởng bởi
nhiều điều kiện tự nhiên, mang tính chất đa dạng về qui mô, về trình
độ phát triển, về các hình thức tổ chức sản xuất và quản lý. Tính đa
dạng đó diễn ra không chỉ giữa nông thôn của các nước khác nhau,
mà ngay cả ở các vùng nông thôn khác nhau trong một nước.
2.2 Vai trò kinh tế của vùng nông thôn
Trong qúa trình phát triển, ở một số nước trước đây chỉ chú ý
phát triển các đô thị, các khu công nghiệp hiện đại mà ít chú ý phát
triển nông thôn. Đó là một số nước như Braxin, ấn Độ, Angola,
Mêhico…Tình hình đó đã làm cho khoảng cách về kinh tế và xã hội
giữa đô thị và nông thôn ngày càng lớn, ảnh hưởng nhiều đến tăng
trưởng kinh tế và phát triển xã hội của đất nước, làm tăng thêm sự
mất cân đối giữa nông nghiệp và công nghiệp, giữa sản xuất và tiêu
dùng tạo nên mâu thuẫn trong nội tại của cơ cấu kinh tế.
Trong lúc đó một số nước và vùng lãnh thổ khác ở châu á có
tốc độ tăng trưởng khá nhanh như Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc,
Thái Lan, Malaixia đã quan tâm phát triển nông thôn ngay từ thời kì
đầu công nghiệp hoá, coi nông nghiệp nông thôn là một phần quan
trọng của nền kinh tế quốc dân. Phát triển nông thôn không chỉ vì lợi
ích riêng cua nông thôn, mà còn vì lợi ích chung của đất nước.
Ngày nay phát triển nông thôn không chỉ là việc làm riêng của
các nước đang phát triển, mà còn là sự quan tâm chung của cộng
đồng thế giới.
Việt Nam là một nước đang đi lên từ một nền nông nghiệp lạc
hậu, nông thôn lại càng có vai trò quan trọng trong phát triển đất
1. Bản chất hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn
Hoạt động sản xuất vật chất thực sự là sự kết hợp con người
lao động với tư liệu sản xuất theo một công nghệ nhất định. Trong tư
liệu sản xuất có một bộ phận tham gia vào qúa trình sản xuất với tính
cách là những cơ sở, những phương tiện chung, nhờ đó mà quá trình
sản xuất hay dịch vụ được thực hiện. Như vậy bộ phận cơ sở, phương
tiện chung này bản thân nó không phải là công nghệ, cũng không phải
là công cụ hay dịch vụ trực tiếp cho việc chế tạo hay tiêu thụ sản
phẩm, nhưng nếu thiếu nó thì các quá quá trình công nghệ, quá trình
sản xuất dịch vụ, sẽ gặp khó khăn hoặc không thể thực hiện được.
Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội dưới sự tác động của cuộc
cách mạng khoa học công nghệ làm cho kết cấu hạ tầng không chỉ có
vai trò to lớn trong lĩnh vực kinh tế, mà ngày càng có tầm quan trọng
đặc biệt đối với sự phát triển của xã hội. Tương ứng với mỗi lĩnh vực
hoạt động xã hội, có một loại hạ tầng tương ứng chuyên dùng, hạ
tầng trong lĩnh vực kinh tế phục vụ cho lĩnh vực kinh tế, hạ tầng
trong lĩnh vực văn hoá- xã hội phục vụ cho hoạt động văn hoá xã hội.
Cũng có những loại hạ tầng đa năng phục vụ cho nhiều loại hoạt động
khác nhau trên một phạm vi rộng lớn như hạ tầng kỹ thuật cho lĩnh
vực cung cấp điện năng, giao thông vận tải thông tin…Những loại hạ
tầng đa năng này trong khi tồn tại và vận hành không chỉ phục vụ cho
các hoạt động kinh tế mà còn phục vụ dân sinh và các hoạt động văn
hoá xã hội. Từ đó khái niệm kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội được dùng
để chỉ những hạ tầng đa năng phục vụ cho cả kinh tế và xã hội, hoặc
trong trường hợp để chỉ những hạ tầng chuyên dùng phục vụ trong
hoạt động kinh tế và hoạt động văn hoá, xã hội khi cùng đề cập đến
cả hai loại hạ tầng cho phát triển kinh tế xã hội nói chung. cấu hạ tầng có trình độ phát triển nhất định. Như vậy, sự phát triển
hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn có vai trò to lớn thể hiện qua các
mặt sau
2.1 Mức độ và trình độ phát triển kết cấu hạ tầng là một chỉ
tiêu phản ánh và đánh giá trình độ phát triển nói chung của nông
nghiệp và nông thôn.
Đối với bất cứ một xã hội nào thì sự phát triển của kết cấu hạ
tầng bao giờ cũng là một yếu tố, một chỉ số của sự phát triển xã hội
nói chung, của nông thôn nói riêng. Với tính cánh là một chỉ số đánh
giá sự phát triển của nông thôn, người ta thường dùng các chỉ tiêu để
thể hiện mức độ và trình độ phát triển của từng yếu tố kết cấu hạ
tầng như: số kilômét đường giao thông tính trên một km2, tính trên
1000 dân số, số xã có trạm xá, số xã có trường tiểu học…
Trong quá trình phát triển, vai trò và tầm quan trọng của kết
cấu hạ tầng ngày một tăng lên. Trong điều kiện phát triển với trình
độ thấp, tự cấp, tự túc là chủ yếu thì các yếu tố hạ tầng ở nông thôn
là đơn giản và yếu kém. Trong điều kiện hiện nay, với xu hướng mở
cửa và hội nhập, nếu thiếu hệ thống thông tin viễn thông, hệ thống
ngân hàng, thiếu hệ thống giao thông hiện đại, thiếu những công
trình kiến trúc hiện đại phục vụ các hoạt động văn hoá xã hội… thì
sự phát triển khó có thể diễn ra hoặc không được như mong muốn.
Như vậy, xây dựng và phát triển hạ tầng đã trở thành một nội dung
quyết định cho sự phát triển nông nghiệp nông thôn.
2.2 Kết cấu hạ tầng, trước hết là những hạ tầng trong kinh tế,
giữ vai trò quyết định trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
thôn
nông thôn, có qui mô và trình độ thích ứng với khả năng kinh tế và
nhu cầu sịnh hoạt của nông thôn truyền thống. Ngày nay nông nghiệp
và nông thôn Việt Nam đang trong quá trình phát triển ở giai đoạn
mới, có sự tác động mạnh mẽ của quá trình đô thị hoá, hoạt động sản
xuất công nghiệp được tiến hành trên cơ sở công nghiệp hoá. Như
vậy việc xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn phát triển toàn
diện với nhu cầu và đáp ứng những đòi hỏi của việc phát triển nông
thôn mới là yêu cầu bắt buộc trong quá trình công nghiệp hoá hiện
đại hoá ở nước ta.
2.4 Đối với những vùng nông thôn chậm và kém phát triển,
tập trung sức phát triển kết cấu hạ tầng còn là cách thức để xoá bỏ
sự chênh lệch trong quá trình phát triển.
Bằng việc phát triển kết cấu hạ tầng, trước hết là hạ tầng giao
thông vận tải, thông tin liên lạc… sẽ tạo cơ sở cho việc tăng cường
giao lưu kinh tế văn hoá, phá vỡ sự khép kín của nông thôn truyền
thống với toàn nền kinh tế, tạo điều kiện cho nông dân tiếp cận với
các nguồn lực phát triển từ các dự án quốc gia và quốc tế, thúc đẩy
sự hình thành và phát triển sản xuất hàng hoá. Phát triển kết cấu hạ
tầng là cách thức phân bố rộng khắp những thành tựu của ph át triển,
nâng cao mức hưởng thụ văn hoá và tạo lập sự công bằng hơn giữa
các vùng trong cả nước.
3. Những đặc điểm chủ yếu của việc xây dựng phát triển kết
cấu hạ tầng nông thôn.
Kết cấu hạ tầng của một đất nước nói chung cũng như của nông
thôn nói riêng được hình thành và phát triển qua từng giai đoạn phát
triển của kinh tế và xã hội. Để thực hiện việc xây dựng và phát triển
hay của làng xã cần được hình thành và phát triển trước một bước và
phù hợp với các hoạt động kinh tế xã hội. Dựa trên các qui hoạch
kinh tế xã hội để quyết định việc xây dựng kết cấu hạ tầng. Đến lượt
mình sự phát triển kết cấu hạ tầng về qui mô, chất lượng, trình độ kỹ
thuật lại thể hiện định hướng phát triển kinh tế xã hội và tạo tiền đề
vật chất cho tiến trình phát triển kinh tế xã hội.
+ Trong từng giai đoạn phát triển toàn bộ nông nghiệp nông
thôn hay từng vùng có những yếu tố quyết định đến sự phát triển của
từng mặt, từng khâu của quá trình sản xuất hay sinh hoạt hoặc những
yếu tố có khả năng gây ra những tiến bộ mang tính lan truyền. Chiến
lược đầu tư phát triển hạ tầng trọng điểm làm nền tảng cho một tiến
trình phát triển. Chiến lược này gọi là chiến lược ưu tiên. Thực hiện
tốt chiến lược ưu tiên trong phát triển kết cấu hạ tầng của toàn bộ
nông thôn, trong mỗi giai đoạn phát triển sẽ vừa quán triệt tốt đặc
điểm về tính tiên phong định hướng, vừa giảm nhẹ nhu cầu vốn đầu
tư cần huy động do chỉ tập trung vào những nhu cầu ưu tiên.
3.3 Tính xã hội và tính cộng đồng cao
Tính xã hội và tính cộng đồng cao của các công trình kết cấu
hạ tầng thể hiện cả trong xây dựng và trong sử dụng. Trong sử dụng
hầu hết các công trình đều được sử dụng một cách tập thể, có tính tập
thể. Giới hạn qui mô tập thể người sử dụng chung các công trình hạ
tầng tuỳ thuộc tính chất của từng loại công trình. Trong xây dựng
mỗi loại công trình khác nhau có những nguồn vốn khác nhau. Để
việc xây dựng quản lý các công trình hạ tầng nông thôn có kết quả
cần lưu ý :
+Đảm bảo hài hoà nghĩa vụ trong xây dựng và quyền lợi tron g