Contents
Contents 1
ĐẶT TÊN CON THEO CÁC LOẠI HOA 1
6 THANH CỦA TIẾNG VIỆT 9
ÂM DƯƠNG - NGŨ HÀNH CỦA TIẾNG VIỆT 10
TƯƠNG ỨNG CỦA SÁU THANH TIẾNG VIỆT VỚI NGŨ HÀNH 11
ÂM DƯƠNG CỦA THANH TRONG NGÔN NGỮ VĂN HỌC 12
NGŨ HÀNH NẠP ÂM 16
ĐẶT TÊN CON THEO CÁC LOẠI HOA
Dùng hoa để đặt tên cho con, đầu tiên phải hiểu rõ tính cách, đặc điểm của các loài hoa, để
từ đó có thể hiểu rõ được ý nghĩa của loài hoa mà bạn dùng để đặt tên cho con mình, và để
các bạn có thể sáng tạo ra một cái tên cũng không kém phần ý nghĩa để đặt riêng cho con
mình. Chúng tôi xin giới thiệu những loài hoa phổ biến nhất với tư cách tên người, và cũng
là những loài hoa nổi tiếng, đẹp và rất giàu ý nghĩa.
Từ xưa tới nay, các loài hoa là một trong những ứng cử viên sáng giá thường được người Việt
Nam và Trung Quốc dùng để đặt tên, đặc biệt họ thích dùng hoa để so sánh với vẻ đẹp của người
con gái, ví dụ như: Mai, Đỗ Quyên, Thủy Tiên, Mẫu Đơn…, bởi bản thân hoa có ý nghĩa
phong phú, có thể nói mỗi loài hoa mang một ý nghĩa riêng của mình. Ở một số nước còn có
“quốc hoa” của mình, như Mẫu Đơn được tôn vinh là “quốc sắc thiên hương” tượng trưng
cho sắc vẻ của đất nước Trung Quốc, Anh Đào tượng trưng cho Nhật Bản, người Chilê lại
yêu thích loài hoa Bách Hợp (chỉ mọi sự đều hòa hợp, tốt lành)… Có thể nói rằng người nào
đặt tên con theo tên các loài hoa là người rất am hiểu và yêu quý các loài hoa.
Nếu dùng hoa để đặt tên cho con, đầu tiên phải hiểu rõ tính cách, đặc điểm của các loài hoa, để
từ đó có thể hiểu rõ được ý nghĩa của loài hoa mà bạn dùng để đặt tên cho con mình, và để các
bạn có thể sáng tạo ra một cái tên cũng không kém phần ý nghĩa để đặt riêng cho con mình.
Chúng tôi xin giới thiệu những loài hoa phổ biến nhất với tư cách tên người, và cũng là những
loài hoa nổi tiếng, đẹp và rất giàu ý nghĩa.
HOA MAI: Nhà thơ Viên Mai thời Tống (Trung Quốc) đã miêu tả về cốt cách kiên cường,
hương thơm êm dịu của hoa Mai như sau: Trong khi các loài hoa khác phải cúi đầu khuất phục
trước giá rét tê tái của mùa đông khắc nghiệt thì chỉ có hoa Mai vẫn kiên cường ngẩng cao đầu,
nở những bông sặc sỡ sắc màu. Và sắc màu thanh khiết nhưng đầy tự tin ấy choáng ngợp không
Thủy Tiên thẳng và trên cành đó mọc ra 4-8 bông hoa nhỏ màu trắng, mùi thơm của hoa tỏa ra sẽ
làm ngây ngất lòng người. Đặc tính của Thủy Tiên là mùi hương không quyến rũ, nhưng dáng
hoa lại thướt tha yểu điệu như thần như tiên. Thủy Tiên, với đặc tính này của mình, rất xứng
đáng để bạn chọn làm tên cho con gái mình.
BÁCH HỢP (HUỆ TÂY): Cây hoa Bách Hợp cao khoảng 1m, hoa nở vào mùa hạ, có thể nở từ
một đến bốn bông trên cùng một cành, hoa có màu trắng sữa, mùi rất thơm.
Hai chữ “Bách Hợp” là ý chỉ mọi sự được hòa thuận, tốt lành, nên nhiều người khi tặng hoa cho
bạn bè thường chọn mua hoa Bách Hợp. Tức là hoa này có hàm ý cát tường, nên chọn loài hoa
này để đặt tên cho con là rất hợp lý, chỉ có điều hai chữ Bách Hợp nghe có vẻ giống tên nam giới
mà thôi.
HOA LÊ (LÊ HOA): Hoa Lê thuộc họ cây Tường Vi, có màu trắng, thời kì hoa nở rực rỡ nhất
thì toàn bộ cây được bao bọc bởi màu trắng xóa như tuyết, trông rất đẹp mắt.
Trong lịch sử đã không ít danh nhân miêu tả đặc tính của hoa
Lê: một loài hoa thanh khiết, trắng trong. Lấy chứ hoa Lê để đặt
tên tương đối dễ nghe, ví dụ như: Phạm Lê Hoa, Phan Lê Hoa,
Hà Lê Hoa…
HỢP LAN (HỢP HOAN, DẠ LÝ HƯƠNG): Hợp Lan cũng có thể gọi là “cây dạ hợp”. Cây
Hợp Hoan này có thân cao khoảng 16m, trên ngọn cây có hình ô, lá nhỏ và hoa chỉ nở về đêm.
Hợp Hoan là loài hoa rất đẹp, thuộc dạng khó kiếm. Khi hoa Hợp Hoan nở vào những đêm mùa
hạ, đưa hoa lên mũi ngửi bạn sẽ cảm nhận được ngay mùi
hương quyến rũ lòng người của nó.
Lấy tên Hợp Lan, hoặc Hợp Hoan để đặt tên cho con thì có
nghĩa là cầu mong cho gia đình được vui vẻ.
HOA ĐẠI LỆ: Hoa Đại Lệ cũng có thể
gọi là hoa Đỗ Quyên thiên tiếu. Đại Lệ có khoảng 3000 loài và là loài
hoa nổi tiếng trên thế giới. Hoa chia làm hai loại là hoa đơn và hoa
kép. Loài hoa này có hình dáng giống hoa Thược Dược, hình cầu,
hình tổ ong… màu sắc vô cùng phong phú: màu phấn hồng, hồng tím,
màu trắng, màu vàng.
Bạn có thể dùng hai chữ Lệ Hoa từ tên hoa này để đặt tên cho con.
dáng hoa mai, hoa sen, hoa mẫu đơn với màu sắc đa dạng không kém gì hoa Đỗ Quyên: màu
hồng đậm, hồng phớt, hồng đào, màu trắng ngọc, trắng sữa, và một số hoa có màu lốm đốm, màu
vằn trên cánh hoa. Trong số các màu của hoa thì màu hồng là quý phái trang trọng nhất gọi là
“Kim Trà”. Vào đời Kim Đường (Trung Quốc), Trà được mệnh danh là loài hoa làm ngây ngất
lòng người.
Dùng hoa Trà để đặt tên cho con, bạn có thể học tập cách tưởng tượng phong phú lãng mạn của
người Trung Quốc như: nếu họ Chu có thể đặt tên con gái là Chu Kim Trà. Hoặc có thể dùng
cách gọi khác của hoa Sơn Trà là “Hải Hồng” để đặt tên gọi như Nguyễn Hải Hồng (hoa Trà
màu hồng)…
HOA NGUYỆT QUẾ: Nguyệt Quế hay còn
gọi là hoa Trường Xuân, Hồng Nguyệt
Nguyệt là loài hoa rất nổi tiếng trên thế giới,
vì nó vừa có hương lại vừa có sắc. Nguyệt
Quế, với hơn 20.000 loài, được xếp vào một
trong 10 loài hoa nổi tiếng của người Trung
Quốc. Hoa có nhiều màu sắc như: màu trắng,
màu phấn hồng, màu hồng đào, màu mận
chín… Nguyệt Quế có khả năng chịu giá rét
cao. Thân cây cao từ 2m trở lên. Vòng
nguyệt quế, làm từ hoa Nguyệt Quế, đã được
dùng làm phần thưởng cho người chiến thắng
tại các cuộc thi đấu Olympic của người Hy
Lạp cổ đại.
Để con mình mang tên hoa Nguyệt Quế là điều rất tuyệt
vời. Nhưng căn cứ vào các loài hoa Nguyệt Quế khác
nhau (Nguyệt Quế Hòa bình, Nguyệt Quế Vân hương,
Nguyệt Quế Minh tinh siêu cấp, Chi Nguyệt Quế, Quế
Thanh…) bạn cũng có thể đặt cho con những cái tên
khác có nguồn gốc từ loài hoa này như Vân Hương, Hòa
Bình…
chuyện về nàng Mộc Lan xinh đẹp. Mộc Lan vì thương cha già yếu, thương
em trai còn nhỏ dại nên đã giả trai thay cha tòng quân đi đánh giặc. Sau ngày
chiến thắng mọi người mới biết Mộc Lan là nữ. Xúc động trước tấm lòng cao
đẹp của nàng, tên nàng đã được tạc vào lịch sử như một dấu ấn anh hùng của
người phụ nữ Trung Quốc.
Mộc Lan còn có thể gọi là “Tử Ngọc Lan”, Hồng Ngọc Lan. Cây Lan cao
khoảng 5m, nụ hoa giống như đầu cây bút viết, hoa Mộc Lan có màu trắng bên trong và màu tím
ở bên ngoài. Lấy trực tiếp hai chữ Mộc Lan đặt tên cho con không chỉ có ý nghĩa là hoa nữ
nương, mà còn mang ý nghĩa là nữ anh hùng dân tộc Trung Quốc.
HOA HỒNG VÀ
HOA TƯỜNG
VI: Hoa Hồng là
loài cây lá rụng
thuộc họ cây
Tường Vi. Hồng
cao khoảng 2m,
cành hồng thường
rất nhiều gai, hoa
Hồng có nhiều màu sắc như hồng tím, hồng trắng, hồng đỏ, hồng vàng, hồng cam, hồng nhung.
Hoa hồng có hương thơm ngào ngạt, có thể chế biến thành nước hoa. Đặc tính của loài hoa này
là thích ánh sáng mặt và chịu được giá lạnh. Người phương Tây quan niệm hoa Hồng là loài hoa
hàm chứa tình cảm nhiều nhất, nên hai người yêu nhau thường tặng nhau hoa Hồng để bày tỏ
tình cảm. Lấy hoa Hồng để đặt tên có thể mang nghĩa là: có cái tình sâu nặng, có cái đẹp và cả
mùi thơm nữa.
Tường Vi cũng thuộc loài cây lá rụng, hoa Tường
Vi có màu trắng hoặc màu phấn hồng, hoa có
nhiều loại: Tường Vi thập tỉ muội, Tường Vi
phấn đoàn… Tường Vi là loài hoa không chịu
được trong phòng ấm, mà thích dãi dầu với mưa
nắng, rèn rũa để có sức sống mạnh mẽ. Những
- Tên phải có ý nghĩa cao đẹp, gợi lên một ý chí, một biểu tượng, một khát vọng, một tính chất
tốt đẹp trong đời sống. Như cha mẹ đặt tên con là Thành Đạt hy vọng người con sẽ làm nên sự
nghiệp. Cha mẹ đặt tên con là Trung Hiếu hy vọng người con giữ trọn đạo với gia đình và tổ
quốc.
- Bản thân tên phải có ý nghĩa tốt lành, đã được đúc kết và nghiệm lý theo thời gian như tên
Bảo, Minh thường an lành hạnh phúc. Kỵ những tên xấu như Lệ, Tài,…vì những tên này có ý
nghĩa không tốt đẹp đã được kiểm chứng trong nhiều thế hệ.
- Tên bao gồm 3 phần là phần họ, đệm và tên. 3 phần này trong tên đại diện cho Tam Tài Thiên
- Địa – Nhân tương hợp. Phần họ đại diện cho Thiên, tức yếu tố gốc rễ truyền thừa từ dòng họ.
Phần đệm đại diện cho Địa tức yếu tố hậu thiên hỗ trợ cho bản mệnh. Phần tên đại diện cho
Nhân tức là yếu tố của chính bản thân cá nhân đó. Thiên - Địa – Nhân phối hợp phải nằm trong
thế tương sinh. Mỗi phần mang một ngũ hành khác nhau, việc phối hợp phải tạo thành thế tương
sinh, kỵ tương khắc. Ví dụ như Thiên = Mộc, Địa = Hoả, Nhân = Thổ tạo thành thế Mộc sinh
Hoả, Hoả sinh Thổ, Thổ sinh Kim là rất tốt. Nếu Thiên = Mộc, Địa = Thổ, Nhân = Thuỷ tạo
thành thế tương khắc là rất xấu. Yếu tố này cũng có thể nói gọn là tên phải cân bằng về Ngũ
Hành.
- Tên phải cân bằng về mặt Âm Dương, những vần bằng thuộc Âm, vần trắc thuộc Dương.
Trong tên phải có vần bằng, trắc cân đối, kỵ thái quá hoặc bất cập. Ví dụ như Thái Phú Quốc quá
nhiều vần trắc, Dương cường, Âm nhược nên luận là xấu. Tên Thái Phú Minh luận là Âm Dương
cân bằng nên tốt hơn.
- Yếu tố rất quan trọng của tên ngoài việc cân bằng về Âm Dương, Ngũ Hành còn phải đảm
bảo yếu tố hỗ trợ cho bản mệnh. Ví dụ, bản mệnh trong Tứ Trụ thiếu hành Thuỷ thì tên phải
thuộc Thuỷ để bổ trợ cho mệnh, vì thế tên phải đặt là Thuỷ, Hà, Sương,…
- Tên còn cần phối hợp tạo thành quẻ trong Kinh Dịch, quẻ phải tốt lành như Thái, Gia Nhân,
Các cụ xưa xếp thứ tự 6 thanh từ cao xuống thấp là có dụng ý, mỗi thanh dựa vào một dáng đầu
và cổ con người khi phát âm ra tiếng có thanh đó như sau:
Thượng Thanh : Khi nói, dáng đầu và cổ ngửa lên cao đến mức có thể. Đường đi của hơi thanh
ra thẳng hướng đầu và cổ.
Khứ thanh : Khi nói, dáng đầu và cổ hơi ngửa lên, tiếng phát ra bay đi rất xa. Đường đi của hơi
thanh ở phần cuối hất vọt lên, như vấp phải vật cản.
Đoản bình thanh : Khi nói, dáng đầu và cổ ngay ngắn, ngang bằng, như nhìn về đường chân
trời. Đường đi của hơi thanh ngắn.
Trường bình thanh : Khi nói, dáng đầu và cổ ngay ngắn, ngang bằng. Đường đi của hơi thanh
dài, đồng thời từ từ hạ thấp xuống một chút ít.
Hồi thanh : Khi nói, dáng đầu và cổ cúi nhanh xuống, liền theo đó, đưa dáng đầu và cổ về tư thế
ngang bằng, ngay ngắn. Đường đi của hơi thanh giống như một vật thể có tính đàn hồi, khi rơi
xuống đất liền bị nẩy vòng trở lại. Hoặc như tiếng nói hướng vào trong hang đá, có sự vang vọng
trở lại.
Hạ thanh : Khi nói, dáng đầu và cổ cúi gập xuống rất nhanh, giữ nguyên dáng đó cho tới khi
hoàn thành âm từ. Đường đi của hơi thanh như rơi thẳng xuống rất nhanh và bị giữ ngay lại ở
dưới đó.
Đầu đời nhà nguyễn, một vị linh mục nước ngoài đến truyền đạo Gia Tô ở nước ta, ngài được
chúa Nguyễn yêu mến ban cho tên là Bá Đa Lộc. Do yêu cầu của việc biên soạn sách Giáo Lý,
sách kinh thánh, ngài đã cùng các giáo đồ là sỹ phu phong kiến Việt Nam, đem mẫu tự la - tinh
ghép lại thành chữ Việt mới, thay cho cách dùng chữ Hán cổ ghép vần thành chữ Nôm trước đó
vẫn dùng . Các vị này đã theo đúng những mô tả về dáng đầu và cổ khi người nói, theo diễn tiến
đường đi của từng hơi thanh, dùng cách mô phỏng bằng nét bút vẽ lại, nay ta gọi đó là dấu của
thanh tiếng Việt. Trong 6 thanh, có một thanh không mang dấu, 5 thanh còn lại, mỗi thanh mang
một dấu riêng. Dấu của thanh như sau :
Thượng thanh : Mang dấu sắc,ghi ở phía trên các nguyên âm, như: Á,ắ, ấ, é, ế, í, ó, ố, ớ, ú, ứ.
Khứ thanh : Mang dấu ngã, ghi ở phía trên các nguyên âm, như : A, ă, â, e, ê, i, o, ô, ơ, u, ư.
Trường bình thanh : Mang dấu huyền, ghi ở phía trên các nguyên âm, như : À, ằ, ầ, è, ề, ì, ò, ồ,
ờ, ù, ừ.
Đoản bình thanh : Không mang theo dấu, như : A, ă, â, e, ê, i, o, ô, ơ, u, ư.
Khí hóa ở bốn mùa là: Xuân sinh; hạ trưởng; trưởng hạ hoá; thu thâu; đông tàng.
Khí hoá thấy rõ nhất ở các loài: Xuân cây ( Mộc ); hạ lửa ( Hoả ); trưởng hạ đất ( Thổ ); thu
quặng đá kết tinh ( Kim ); đông nước đông lại thành băng ( Thuỷ ). Năm loài này được dùng làm
đại biểu khí hoá của ngũ hành: Mộc, Hoả, Thổ, Kim, Thuỷ.
Khí hoá ở bốn phương là: Phương đông hành Mộc; phương nam hành Hỏa; trung ương hành
Thổ; phương tây hành Kim; phương bắc hành Thuỷ.
Khí hoá ở vị trí cao thấp là: Mẳt trời trên cao nhất, hành Hoả; loài cây ở dưới mặt trời, nhưng
cao hơn mặt đất, hành Mộc; đất ở dưới loài cây, hành Thổ; loài quặng, đá ở dưới đất, hành Kim;
nước sinh ra từ dưới các lớp đất, đá, hành Thuỷ.
6 thanh của tiếng Việt, theo tương ứng vị trí của ngũ hành cao thấp khác nhau, phân thành
năm hành như sau:
Thượng thanh ở vị trí cao nhất, hành Hoả.
Khứ thanh, vị trí dưới thượng thanh, hành Mộc.
Đoản bình thanh và trường bình thanh, vị trí đều ở dưới khứ thanh, lại ở giữa sáu thanh, hành
Thổ.
Hồi thanh, vị trí ở dưới trường bình thanh, hành Kim.
Hạ thanh, vị trí ở dưới hồi thanh, hành Thuỷ.
TƯƠNG ỨNG CỦA SÁU THANH TIẾNG VIỆT VỚI NGŨ HÀNH
Qui luật tương ứng ngũ hành là ngũ hành tương ứng với vạn sự, vạn vật, mọi trạng thái.
Mọi hiện tượng của vạn vật trong vũ trụ luận Phương Đông. Tương ứng giữa 6 thanh tiếng
Việt với sinh lý, tâm lý người Việt không ngoài quy luật chung đó.
Y học phương Đông đưa ra hệ thống tương ứng ngũ hành với tạng phủ, với sinh lý, tâm lý, ý
thức con người, cùng với các loại tương ứng khác. Những tương ứng này dùng vào chẩn đoán,
điều trị, dinh dưỡng, bảo vệ sức khoẻ con người hiệu quả, đã qua nhiều ngàn năm lịch sử kiểm
nghiệm.
Ngôn ngữ tiếng Việt là phương tiện chuyển tải nhận thức, tâm lý, tình cảm cá với nhân trong
cộng đồng. Nhưng những nhận thức, tâm lý, tình cảmcủa con người đều là sản phẩm từ hoạt
động của sinh lý con người sinh ra. Do vậy, nó không nằm ngoài quy luật tương ứng chung của
học thuyết Ngũ hành.
Tương ứng giữa âm thanh, từ ngữ tiếng Việt với tâm sinh lý người Việt như sau:
Để dễ khái quát khi đánh giá một nội dung một tiểu phẩm xin quy nạp theo bảng như sau:
Dương
Nêu vấn đề
Thanh trắc ( Có số lượng thanh trắc nhiều hơn thanh bằng)
Tình cảm sôi nổi, biến động hơn
Âm
Bổ túc vấn đề
Thanh bằng ( Có số lượng thanh bằng nhiều hơn thanh trắc)
Tình cảm êm ái dịu dàng hơn
Những tiểu phẩm có số lượng thanh âm và thanh dương bằng nhau hoặc chênh nhau ít là những
tiểu phẩm có nội dung đấu tranh, phê phán mạnh mẽ.
Xin nêu mấy ví dụ để minh hoạ cho quy luật tình cảm tự nhiên của số lượng thanh âm, dương
như sau:
Về câu ca dao:
Câu 1:
Con cò bay lả bay la
Bay từ đồng ruộng bay ra phố phường
Để dễ phân tích trước hết ta đánh dấu âm dương cho các từ trong câu:
Con cò bay lả bay la
- - - + - -
Bay từ đồng ruộng bay ra phố phường
- - - + - - + -
Trong câu ca dao này, vế nêu vấn đề có nội dung tình cảm nhẹ nhàng, man mác, êm ái, cho nên
trong sáu thanh thì có một thanh dương ở từ “lả”, vế bổ túc vấn đề có nội dung tình cảm biến
điệu phong phú hơn cho nên trong 8 thanh đã có 2 thanh dương ở những từ “ruộng, phố”.
Nội dung của tiểu phẩm này có tính nhẹ nhàng êm ái cho nên trong tổng số 14 thanh thì có 3 là
dương, 11 là âm.
Câu 2:
Hỡi cô tát nước bên đàng
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?
bằng tỷ lệ 5 -; 4 +. Tỷ lệ được ông dùng 5 -, 4 + đã bộc lộ tâm trạng gay gắt của ông, thanh được
thay thế để có tỷ lệ mới này lại nằm ở từ đầu tiên của vế đối, từ được dùng là “đá” đối với “ngói”
thì rất là chỉnh. Ông nghè tuy hiểu rằng Quát rất coi thường ông nhưng về tài văn chương của
Quát thì đã tỏ ra xuất chúng nên ông nghè đành phải chấp nhận một sự thật cay đắng chà xát vào
tính cao ngạo của nghè.
Câu thứ hai:
Vua Minh Mạng ra: Nước trong leo lẻo cá đớp cá
Cao Bá Quát đối: Trời nắng chang chang người trói người.
Câu đối này được ra và đối trong điều kiện người học trò trẻ bị trói trước Thiên tử dưới chế độ
phong khiến. Cái chết, cái sống của cậu học trò vi phạm điều cấm về nghi lễ chỉ được giải thoát
bằng tài văn chương như ông vua đã hoạch định, và chỉ trong khoảnh khắc ngắn ngủi, ông đối.
Ta cũng đem đánh dấu âm dương của từ ngữ ở cả hai vế đối như sau:
Nước trong leo lẻo cá đớp cá
+ - - + + + +
Trời nắng chang chang người trói người.
- + - - - + -
Trong câu này ta bỏ qua các vấn đề về ngữ nghĩa, chỉ xét về tài năng của ông Quát về âm dương
của từ ta thấy như sau:
Trước mặt là thiên tử, một ông vua hay chữ, Cao Bá Quát buộc mình phải tuân theo luật đối.
Trong vế ra đối có 5 +, 2 -, tất nhiên vế đối phải là 5 – và 2+, về điều này Quát phải không được
sai phạm như đối với lần gặp ông nghè, nhưng do tính chất kiêu kỳ, ương ngạch của tài năng, tuy
vẫn giữ đúng tỷ lệ âm dương, nhưng ông đã đổi vị trí của một thanh dương về vị trí cần thiết nhất,
làm cho vế đối giữ được khí phách của ông. Vế đối không hề mềm yếu trước uy quyền, trái lại,
sức tố cáo có âm vang truyền cảm thắng cả uy lực trong lòng ông vua ham văn chương thời đó.
Bảng so sánh âm dương trong câu đối 2
Theo luật Thực tế Cao Ba Quát đã đối
Ra + - - + + + + 5+, 2 - + - - + + + + 5 +, 2-
Đối - + + - - - - 5- , 2 + - + - - - + - 5-, 2+
Ở trong câu đối này, phần cuối cùng của vế trên và vế dưới mới là nội dung chủ yếu của câu đối,
tỷ lệ theo luật, muốn đối lại với ba từ “Cá đớp cá” thì phải có ba từ đều là thanh bằng cả, Cao Bá
luận và được ứng dụng phổ biến xưa nay, nên Cup tôi viết bài này để làm rõ vấn đề.
Trước khi nói về chuyện ứng dụng xét hợp khắc của một mối quan hệ, Cúp tôi bắt đầu bằng giải
thích sơ lược về thuyết Ngũ hành và Ngũ hành nạp âm của bản mệnh.
Thuyết Âm Dương Ngũ hành: Đây thực ra là 2 thuyết khác
nhau, nhưng tạo thành nền tảng luận lý cho quan điểm Phương
Đông về vũ trụ, nên được gộp chung làm một. Âm Dương là
quy luật bao trùm vũ trụ, mọi thứ sinh ra đều có thuộc tính âm
hoặc dương. Ngũ hành, gồm Kim, Thuỷ, Mộc, Hoả, Thổ cũng
là như thế, mỗi thứ đều có thuộc tính ngũ hành.
Tuy nhiên, thuộc tính ngũ hành chỉ là "tượng", tức là tên gọi
của "khí", không phản ánh bản chất thật của cấu trúc duy lý
của "thể". Có nghĩa là một vật thuộc ngũ hành là "thuỷ",
không có nghĩa vật ấy là nước. Cũng như bạn sinh vào năm
1982, bản mệnh là Thuỷ, thì khí chất của bạn thuộc "Thuỷ",
chứ bạn không phải là "nước".
Quan hệ giữa năm hành là quan hệ sinh khắc. Tính theo thứ tự Kim, Thuỷ, Mộc, Hoả, Thổ thì 2
hành kề nhau là tương sinh, 2 hành cách nhau là tương khắc. Quan hệ này cũng chỉ diễn ra theo
chiều thuận, tức Kim sinh Thuỷ, Thuỷ sinh Mộc, Mộc sinh Hoả, Hoả sinh Thổ, Thổ sinh Kim.
Khắc là Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ. Thổ khắc Thuỷ, Thuỷ khắc Hoả, Hoả khắc Kim.
Ngoài quan hệ này, khi phân Âm Dương của hành, ứng dụng lý động của Dịch, người ta còn
thấy một quan hệ nữa, gọi là "ký tế". Tức là Thuỷ khắc Hoả, nhưng Âm Hoả, khi thịnh lại cầm
giữ không cho Dương Thuỷ vượng. Chữ "ký tế" được dùng cũng là tên của quẻ thứ 63 của Dịch
(nghĩa quẻ là cầm giữ, lộn xộn, chưa xong).
Ngũ hành nạp âm: Mỗi một niên giáp gồm có 2 thành tố:
thiên can và địa chi. Thiên can gồm Giáp Ất (Mộc), Bính
Đinh (Hoả), Mậu Kỷ (Thổ), Canh Tân (Kim), Nhâm Quý
(Thuỷ). Địa chi gồm Dần Mão (mộc), Thìn (Thổ), Tỵ Ngọ
(Hoả), Mùi (Thổ), Thân Dậu (Kim), Tuất (Thổ), Hợi Tý
(Thuỷ). Phối hợp của 10 can và 12 chi thành 60 hoa giáp, từ
Giáp Tý đến Quý Hợi là 60 năm.
cần có ai đó đứng cao hơn mình, thì đừng ngại việc chọn
một người mà mệnh của bạn sinh xuất cho người đó. Dĩ
nhiên, không nên chọn người mà bổn mệnh của bạn bị
khắc (lép vế đủ đường).
3) Chọn vợ chồng: Do ngôi thứ của quan hệ vợ chồng
bao giờ cũng coi chồng là chính, vợ là phụ, nên gia đạo
sẽ yên ổn nếu mệnh của vợ bị mệnh của chồng khắc (bảo đảm phục tùng) hoặc mệnh vợ sinh cho
mệnh chồng (vượng phu). Nhưng nếu chồng lớn tuổi, có vai vế hơn vợ nhiều, thì cũng không
ngại nếu mệnh chồng sinh xuất cho mệnh vợ (kiểu chồng chiều chuộng, bao bọc vợ). Tối kỵ là
mệnh chồng bị mệnh vợ khắc xuất.
Một số quan niệm không đúng, hoặc không đủ nguyên lý nền tảng:
1) Tính hợp xung dựa trên chi của tuổi: Địa chi của tuổi (Tý, Sửu, Dần, Mão ) không quan
trọng. Nên tuổi trong tam hợp vẫn có thể bị xung khắc. Cũng không có lý do gì sợ các tuổi như
Thìn Tuất, Sửu Mùi, Dần Thân, Tý Ngọ vì đó chỉ là những cặp cung xung chiếu nhau trên đồ
bàn tử vi, không liên quan đến chuyện xung hợp tuổi.
2) Tính xung hợp dựa trên can của tuổi: Tương tự như trên, thiên can không có vai trò gì trong
cách tính hợp xung cả. Thiên can, Địa chi chỉ quan trọng với từng tuổi một mà thôi. Nói thêm,
Thiên can, Địa chi và ngũ hành nạp âm có thể coi là 3 yếu tố Thiên, Địa, Nhân của mệnh, ví như
tuổi Nhâm Tý, do cả can và chi đều thuộc Thuỷ, trong khi nạp âm là Mộc, nên mệnh được Thiên
Địa nuôi dưỡng, thành ra tuổi này là tuổi Thiên Địa đồng quy. Như Canh Tý, thì Canh thuộc
Kim, Tý thuộc Thuỷ, nạp âm là Mộc nên đây là tuổi may mắn (do Kim sinh Thuỷ, Thuỷ dưỡng
Mộc), còn gọi là tuổi Bạch Mã quá giang (như con ngựa của Huyền Trang, chỉ vì chở thầy qua
sông mà may mắn thành Phật).
3) Tính xung hợp trên tượng của nạp âm: Có người lý luận Sơn đầu Hoả (lửa trên núi) làm sao bị
Đại hải Thuỷ (nước biển lớn) khắc được. Hay Kiếm phong Kim (vàng đầu lưỡi kiếm) làm sao bị
Tích lịch Hoả (lửa sấm sét) khắc được. Hay lý luận Bình địa Mộc (cây cỏ) là một loại tiểu mộc
nên không thể hưởng lợi từ Đại hải Thuỷ. Chưa có một nguyên lý nào ủng hộ những luận điểm
này, và về nguyên tắc, không thể lấy tượng (tức là hình thức bề ngoài) để xét cho thể (là chất bên
trong), nên đây là cách lý luận thiếu cơ sở.
Trên đây là những kiến thức nền tảng. Mong là các bạn cảm thấy những quan điểm, đúng sai