thực trạng rủi ro tín dụng ở ngân hàng thương mại cổ phần các doanh nghiệp ngoài quốc doanh (vpbank) - Pdf 11

Luận văn tốt nghiệp GVHD: GS.TS Vũ Văn Hoá
LỜI MỞ ĐẦU
Trong thực tiễn hoạt động ngân hàng rủi ro tín dụng được đánh giá
như là một mắt xích quan trọng trong quản trị ngân hàng vì hoạt động tín
dụng là hoạt động mang lại lợi nhuận lớn nhất cho ngân hàng Thương mại.
Do vậy đề tài hạn chế rủi ro tín dụng trong ngân hàng Thương mại không
phải là một đề tài mới mẻ. Tuy nhiên, quản trị rủi ro tín dụng chỉ mang lại
hiệu quả nếu cõ chế quản trị rủi ro được xây dựng trên nền tảng khoa học
được kiểm chứng bằng thực tiễn.
Thực tế cho thấy mặc dù không phải là vấn đề mới nhưng cũng vẫn là
nan giải với nhiều ngân hàng Thương mại. Hiện nay nhiều ngân hàng có tỷ
lệ nợ quá hạn, nợ xấu rất cao. Do vậy đây vẫn là vấn đề được lýu tâm hàng
đầu.
Qua thời gian thực tập ở Ngân hàng Thương mại Cổ phần các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh (VP Bank) em thấy tình hình phòng ngừa và hạn
chế rủi ro tín dụng ở đây đã thực hiện rất tốt. Do vậy em đã tiến hành tìm
hiểu các công cụ chính sách mà VP Bank đã thực hiện để đạt được thành
công đó và nghiên cứu các giải pháp để hoàn thiện hõn những phần còn
thiếu sót.
Do thời gian nghiên cứu và trình độ còn hạn chế nên đề tài của em có
thể còn nhiều thiếu sót. Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các
thầy cô cùng các bạn.
Em xin cảm ơn!
SV: Nguyễn Minh Khanh Lớp: 9A03
1
Luận văn tốt nghiệp GVHD: GS.TS Vũ Văn Hoá
CHƯƠNG 1: RỦI RO TÍN DỤNG, Ý NGHĨA CỦA PHÒNG NGỪA
VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG KINH DOANH CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Rủi ro tín dụng của ngân hàng Thương mại
1.1.1 Hoạt động tín dụng của ngân hàng Thương mại

gian nhất định trả lại với một lượng lớn hõn.
Khái niệm trên thể hiện ở ba đặc điểm cõ bản, nếu thiếu một trong ba
đặc điểm sau thì sẽ không còn là phạm trù tín dụng nữa:
-Có sự chuyển giao quyền sử dụng một lượng giá trị từ người này
sang người khác.
-Sự chuyển giao này mang tính chất tạm thời.
-Khi hoàn lại lượng giá trị đã chuyển giao cho người sở hữu phải
kèm theo một lượng giá trị dôi thêm gọi là lợi tức.
Trong hoạt động ngân hàng tín dụng được hiểu là hoạt động tài trợ
của ngân hàng cho khách hàng.
Hình thức tín dụng ngân hàng Thương mại: Căn cứ vào thời hạn tín
dụng người ta chia ra:
Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm và
thường được sử dụng để cho vay bổ sung thiếu hụt vốn lýu động tạm thời
của các doanh nghiệp và cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt của cá nhân.
Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên năm năm, tín
dụng dài hạn được sử dụng để cấp vốn cho các doanh nghiệp vào các vấn
đề như: xây dựng cõ bản, đầu tý xây dựng các xí nghiệp mới,các công trình
thuộc cõ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn.
Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng ở giữa hai kỳ hạn trên, loại tín
dụng này được cung cấp để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ
thuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời gian thu hồi vốn
nhanh.
SV: Nguyễn Minh Khanh Lớp: 9A03
3
Luận văn tốt nghiệp GVHD: GS.TS Vũ Văn Hoá
1.1.2 Rủi ro tín dụng của ngân hàng Thương mại
1.1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng của ngân hàng Thương mại
Rủi ro được hiểu là khả năng xảy ra tổn thất ngoài dự kiến.
Rủi ro tín dụng là khả năng khách hàng nhận khoản vốn vay không

cả các loại rủi ro kể trên thì rủi ro trong hoạt động tín dụng là loại rủi ro lớn
nhất và phức tạp nhất, đang diễn ra ở mức đáng quan tâm.
Rủi ro tín dụng phát sinh trong Trường hợp ngân hàng không thu
được đầy đủ cả gốc và lãi của khoản cho vay hoặc là việc thanh toán nợ
gốc và lãi không đúng kỳ hạn. Rủi ro tín dụng không chỉ giới hạn ở hoạt
động cho vay, mà còn bao gồm nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng
khác của ngân hàng như bảo lãnh, cam kết, chấp thuận tài trợ Thương mại,
cho vay ở thị Trường liên ngân hàng, tín dụng thuê mua, đồng tài trợ …..
Có nhiều nguyên nhân có thể gây ra rủi ro tín dụng nhưng chung quy
lại là do các nguyên nhân sau:
Những nguyên nhân bất khả kháng: là những nguyên nhân bất khả
kháng tác động tới người vay làm cho họ mất khả năng thanh toán cho
ngân hàng như thiên tai, chiến tranh hoặc những thay đổi tầm vĩ mô như
thanh đổi chính phủ, chính sách kinh tế …výợt quá tầm kiểm soát của
người vay và người cho vay.
Những thay đổi này thường xuyên xảy ra, tác động liên tục tới người
vay, tạo thuận lợi hoặc khó khăn cho người vay. Nhiều người vẫn có thể trả
nợ đúng hạn cho ngân hàng tuy nhiên những nguyên nhân này cũng làm
cho khả năng trả nợ của họ bị suy giảm.
Nguyên nhân thuộc về chủ quan người đi vay: Trình độ yếu kém của
người vay trong dự đoán các vấn đề kinh doanh, yếu kém trong quản lý,
chủ định lừa cán bộ tín dụng… Rất nhiều người vay sẵn sàng mạo hiểm với
kỳ vọng thu được lợi nhuận cao. Để đạt được mục đích của mình, sẵn sàng
tìm mọi thủ đoạn để ứng phó với Ngân hàng như cung cấp thông tin sai,
mua chuộc..
Nguyên nhân thuộc về Ngân hàng: Đây là loại rủi ro phát sinh từ
bên trong Ngân hàng do cán bộ tín dụng như làm trái qui trình tín dụng để
mýu lợi cá nhân, định giá tài sản thế chấp không đúng giá trị thực tế do
trình độ nghiệp vụ kém hay do có sự thông đồng với khách hàng, hoặc do
tài sản thế chấp bị mất giá. Khi Ngân hàng thẩm định cho vay thì tài sản thế

khắc phục được, Ngân hàng sẽ bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho
nền kinh tế nói chung và hệ thống Ngân hàng nói riêng. Chính vì vậy đòi
hỏi các nhà quản trị Ngân hàng phải hết sức thận trọng và có những biện
pháp thích hợp nhằm giảm thiểu rủi ro trong cho vay.
SV: Nguyễn Minh Khanh Lớp: 9A03
6
Luận văn tốt nghiệp GVHD: GS.TS Vũ Văn Hoá
1.2.2 Biểu hiện của rủi ro tín dụng
1.2.2.1 Rủi ro trong huy động vốn
Rủi ro lãi suất
Là những tổn thất mà Ngân hàng phải gánh chịu khi lãi suất trên thị
Trường biến động. Khi ngân hàng huy động vốn với lãi suất cao, do cạnh
tranh giữa các ngân hàng Thương mại, nhưng lãi suất cho vay không tăng
hoặc tăng không týõng ứng sẽ dẫn đến ngân hàng bị ứ đọng vốn,hoặc làm
cho lợi nhuận giảm đi. Như vậy khi lãi suất thị Trường biến động sẽ làm
cho ngân hàng có khả năng gặp rủi ro.
Huy động vốn lớn hõn nhu cầu cho vay
Nguồn vốn hoạt động chủ yếu của ngân hàng là nguồn vốn huy
động. Nếu số vốn này bị ứ đọng, không thể cho vay hoặc đầu tý vào các
loại tài sản có thể sinh lời trong khi ngân hàng vẫn phải trả lãi cho số vốn
đã huy động được, ngân hàng sẽ rõi vào trạng thái mất cân bằng, kéo dài
tình trạng này sẽ dẫn tới tình trạng thua lỗ.
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng cao
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là một quy định của Ngân hàng Nhà nýớc về tỷ
lệ giữa tiền mặt và tiền gửi mà các Ngân hàng Thương mại bắt buộc phải
tuân thủ để đảm bảo tính thanh khoản.
Để góp phần kiềm chế lạm phát, trong những tháng đầu năm 2008
NHNN đã điều chỉnh tăng tỷ lệ tiền gửi dự trữ bắt buộc của các tổ chức tín
dụng tại NHNN là 11%. Mục đích điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc lần
này là hạn chế số nhân tiền, nhằm rút bớt khối lượng tiền trong lýu thông

Các chỉ tiêu này có liên quan chặt chẽ với nhau và phản ánh mức độ
tín dụng khác nhau. Đối với ngân hàng, việc khách hàng không trả đúng
hạn có liên quan đến đến thanh khoản và rủi ro thanh khoản: chi phí tăng
để tìm nguồn mới để chi trả tiền gửi và chi vay đúng hợp đồng. Nợ khó đòi
là một cảnh báo cho ngân hàng về khoản vay từ đó ngân hàng tìm biện
pháp khắc phục để thu lại nợ.
Việc trích lập dự phòng rủi ro
Quỹ dự phòng rủi ro được thành lập nhằm mục đích bù đắp và chi
phí của ngân hàng khi xảy ra rủi ro để không làm ảnh hưởng đột biến chi
phí của ngân hàng. Quỹ dự phòng rủi ro được ngân hàng trích lập theo quy
định của ngân hàng trung ương. Tỷ lệ trích lập dựa vào mức độ rủi ro của
SV: Nguyễn Minh Khanh Lớp: 9A03
8
Luận văn tốt nghiệp GVHD: GS.TS Vũ Văn Hoá
các khoản vay do vậy nhìn vào quỹ dự phòng rủi ro và quá trình sử dụng nó
ta có thể đánh giá được mức độ hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng đó.
1.2.3 Các nhân tố dẫn đến rủi ro tín dụng
1.2.3.1 Nhân tố khách quan
Nhân tố thuộc về môi Trường
Cũng giống như cácdoanh nghiệp khác, ngân hàng hoạt động và chịu
nhiều nhân tố thuộc về môi Trường kinh tế xã hội, chính trị, pháp luật nói
chung. Hoạt động tín dụng của ngân hàng lại đặc biệt liên quan đến rất
nhiều ngành nghề trong nền kinh tế, vì vậy việc phòng ngừa và hạn chế rủi
ro tín dụng chịu sự ảnh hýởng của nhiều yếu tố khách quan. Đầu tiên là sự
ổn định về tầm vĩ mô nói chung, nó bao gồm sự ổn định về chính trị, luật
pháp và xã hội. Một khi có môi Trường ổn định thì không chỉ ngân hàng
nói riêng mà các doanh nghiệp nói chung mới có thể yên tâm kinh doanh
và kinh doanh một cách có hiệu quả, ngýợc lại, tình hình chính trị bất ổn,
chính sách nhà nýớc đýa ra có sự thay đổi bất ngờ, hệ thống luật pháp
không đầy đủ và chặt chẽ, tình hình thi hành pháp luật không nghiêm minh

tiếp tới hiệu quả của phýõng án kinh doanh-nguồn trả nợ đầu tiên cho ngân
hàng, từ đó ảnh hýởng tới việc trả nợ cho ngân hàng. Trong Trường hợp
phýõng án kinh doanh không hiệu quả thì năng lực tài chính của người vay
lại là yếu tố mang quyết định trong việc trả nợ ngân hàng. Bên cạnh đó,
khách hàng có phẩm chất đạo đức tốt, vị trí xã hội quan trọng đảm bảo dù
không chắc chắn rằng khách hàng không cố tình lừa đảo ngân hàng hay
chây ỳ trong việc trả nợ. Như vậy, các yếu tố thuộc về bản thân khách hàng
như trình độ quản lý, năng lực tài chính, tý cách phẩm chất đạo đức có ảnh
hýởng lớn tới việc hạn chế rủi ro tín dụng của ngân hàng. Một khách hàng
tốt không may bị các nguyên nhân khách quan như bão lụt chẳng hạn làm
ảnh hýởng đến hoạt động kinh doanh làm cho họ không có khả năng trả nợ
mặc dù họ không có ý định không trả nợ.
1.2.3.2 Nhân tố chủ quan
Nhân tố thuộc về ngân hàng
Ngân hàng luôn đýa ra các công cụ để phòng ngừa và hạn chế rủi ro
tín dụng: bao gồm chính sách tín dụng, quy trình tín dụng, cách thức quản
lý tiền cho vay của ngân hàng, chất lượng của đội ngũ cán bộ tín dụng, hệ
thống thông tin tín dụng, đa dạng hoá hoạt động.
SV: Nguyễn Minh Khanh Lớp: 9A03
10
Luận văn tốt nghiệp GVHD: GS.TS Vũ Văn Hoá
Chính sách tín dụng: Là hệ thống chủ trýõng, định hýớng quy định
chi phối hoạt động tín dụng do ngân hàng đýa ra nhằm sử dụng hiệu quả
nguồn vốn để tài trợ cho các doanh nghiệp, các hộ gia đình và cá nhân.
Mục đích của chính sách tín dụng :
-Chính sách tín dụng xác định những giới hạn áp dụng cho các hoạt
động. Đồng thời cũng thiết lập môi Trường nhằm giảm bớt rủi ro trong
hoạt động tín dụng.
-Chính sách tín dụng được đýa ra nhằm bảo đảm rằng mỗi quyết
định tín dụng (quyết định tài trợ vốn) đều khách quan tuân thủ quy định của

rất quan trọng trong việc quyết định một khoản vay có hiệu quả hay không,
hay nói cách khác thông tin có tính chất quyết định trong việc hạn chế rủi
ro tín dụng.
Tính đa dạng trong hoạt động của ngân hàng: Đa dạng hoá là một
nguyên tắc trong hạn chế rủi ro nói chung và rủi ro tín dụng nói riêng. Tính
đa dạng hoá trong hoạt động của ngân hàng thể hiện trên các khía cạnh:
Ngân hàng không chỉ có các hoạt động cõ bản như huy động vốn, tín dụng,
thanh toán quốc tế mà còn có các dịch vụ như nghiệp vụ quản lý ngân quỹ,
tý vấn quản lý quỹ đầu tý, bảo hiểm …. Trong hoạt động ngân hàng mà cụ
thể là hoạt động cho vay sự đa dạng hoá thể hiện ở các hình thức cho vay
phong phú, các ngành nghề cho vay đa dạng, với nhiều đối týợng khách
hàng khác nhau. Sự đa dạng còn thể hiện ở các công cụ ngân hàng đýa ra
để hạn chế rủi ro tín dụng.
1.3 Ý nghĩa phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng
Việc phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong quan hệ tín dụng sẽ giúp
cho ngân hàng tránh được những hậu quả do nó gây ra. Những rủi ro trong
quan hệ tín dụng không chỉ tác động tiêu cực đến chính bản thân ngân hàng
mà nó còn tác động không nhỏ đối với nền kinh tế. Vì vậy, việc phòng
ngừa và hạn chế rủi ro trong quan hệ tín dụng có ý nghĩa hết sức quan trọng
.
1.3.1 Hạn chế tổn thất về vốn và tài sản của ngân hàng Thương mại, góp
phần tăng lợi nhuận cho ngân hàng.
Rủi ro xảy ra tác động trực tiếp tới lợi nhuận của ngân hàng. Khi rủi
ro xảy ra ở mức độ nhỏ thì ngân hàng có thể dùng lợi nhuận của mình hoặc
SV: Nguyễn Minh Khanh Lớp: 9A03
12
Luận văn tốt nghiệp GVHD: GS.TS Vũ Văn Hoá
vốn tự có để bù đắp. Song nếu rủi ro ở mức độ lớn thì lợi nhuận không đủ
bù đắp thì ngân hàng sẽ ở bên bờ phá sản. Vì vậy, phòng ngừa và hạn chế
rủi ro trong quan hệ tín dụng sẽ giúp cho ngân hàng hạn chế được những

doanh Việt Nam (VP Bank) được thành lập theo giấy phép hoạt động số
0042/NH-GP của Thống đốc NHNN Việt Nam cấp ngày 12 tháng 08 năm
1993 với thời gian hoạt động là 99 năm. Ngân hàng bắt đầu hoạt động từ
ngày 04 tháng 09 năm 1993 theo giấy phép thành lập số 1535/ QĐ-UB
ngày 04 tháng 09 năm 1993.
Các chức năng hoạt động chủ yếu của VPBank bao gồm: Huy động
vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn đối với các tổ chức kinh tế và dân cư từ
khả năng nguồn vốn của ngân hàng; kinh doanh ngoại hối; chiết khấu
thương phiếu, trái phiếu và các chứng từ có giá khác; cung cấp các dịch vụ
giao dịch giữa các khách hàng và các dịch vụ ngân hàng khác theo quy
định của NHNN Việt Nam.
Hiện tại, VP Bank đang có hơn 120 điểm giao dịch trên toàn hệ
thống. Bên cạnh việc mở rộng mạng lưới giao dịch, VPBank cũng mở thêm
hai công ty trực thuộc đó là Công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản và
Công ty chứng khoán.
Gần 15 năm xây dựng và trưởng thành, VP Bank đã gặp không ít
khó khăn nhưng đến nay VP Bank đã đạt được những kết quả đáng kể
trong hoạt động kinh doanh của mình. Ngân hàng luôn đảm bảo nâng cao
đời sống cán bộ công nhân viên, đồng thời hoạt động kinh doanh của ngân
hàng luôn có lợi nhuận và dư nợ lành mạnh, góp phần thực hiện mục tiêu
kinh tế-xã hội đất nước.
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của VP Bank:
VPBank được quản lý bởi Hội đồng quản trị và được điều hành bởi
Ban điều hành. VPBank được tổ chức theo cơ cấu kết hợp trực tuyến-chức
SV: Nguyễn Minh Khanh Lớp: 9A03
14
Luận văn tốt nghiệp GVHD: GS.TS Vũ Văn Hoá
năng, thực hiện kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng theo quy
định của pháp luật.
Sơ đồ tổ chức:

Các phòng
giao dịch
Công ty Quản lý Tài
sản VP Bank
Công ty Chứng
khoán VPBank
Luận văn tốt nghiệp GVHD: GS.TS Vũ Văn Hoá
2.1.3 Kết quả hoạt động chính
2.1.3.1 Hoạt động huy động vốn
Hoạt động huy động vốn là hoạt động quan trọng của ngân hàng.
Đây là hoạt động mở tài khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ tiền cho
khách hàng, qua đó ngân hàng huy động tiền của các doanh nghiệp, tổ chức
và của dân cư.
Tiền gửi là nguồn tiền quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn
tiền của ngân hàng vì có nguồn tiền ổn định, mạnh mẽ sẽ giúp cho ngân
hàng chủ động kinh doanh. Ý thức được tầm quan trọng đó VPBank đã
luôn chú trọng đến công tác huy động vốn từ các nguồn như các doanh
nghiệp, tiền trong dân cư bằng các hình thức tiền gửi có kỳ hạn và không
kỳ hạn.
Với chính sách lãi suất hấp dẫn, linh hoạt, phù hợp với biến động của
thị trường VPBank đã thu hút được nguồn vốn nhàn rỗi của các tổ chức
kinh tế, cá nhân, nguồn vốn này luôn tăng trưởng trong các năm thể hiện
qua bảng sau:
Bảng 1.2: Nguồn vốn huy động tại VPBank các năm 2006-2007
Đơn vị: triệu đồng
Chỉ tiêu
Năm 2006 Năm 2007 2007/2008
Số tiền
Tỷ
trọng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status