Trang 1
Luận văn
Thực trạng và giải pháp đối với tín dụng trung - dài hạn
tại chi nhánh Ngân Hàng No&PTNT Đông Hà Nội
Ngân Hàng No&PTNT Đông Hà Nội ”
Đề tài của tôi ngoài phần lời nói đầu, kết luận thì nội dụng được chia làm 3
Trang 3
chương:
ChươngI: Khái quát tín dụng trung - dài hạn của ngân hàng thương mại.
ChươngII: Thực trạng tín dụng trung - dài hạn tại chi nhánh Ngân Hàng
No&PTNT Đông Hà Nội.
ChươngIII: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung - dài hạn tại chi
nhánh Ngân Hàng No&PTNT Đông Hà Nội.
Đề tài nghiên cứu trên đây là một lĩnh vực rộng lớn và phức tạp nhưng thời
gian nghiên cứu và kinh nghiệm thực tiễn còn nhiều hạn chế nên chuyên đề
này không thể tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, em rất mong nhận đuợc sự góp
ý của các thầy cô giáo, ban giám đốc ngân hàng và bất cứ ai quan tâm đến vấn đề
này để đề tài này được hoàn thiện hơn.
Trang 4
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT TÍN DỤNG TRUNG – DÀI HẠN CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Tín dụng trung - dài hạn và vai trò của tín dụng - trung dài hạn
1.1.1. Khái niệm tín dụng trung – dài hạn
Tín dụng (credit), xuất phát từ tiếng Latinh là credo – là sự tin tưởng, sự tín
nhiệm và được định nghĩa dưới nhiều giác độ khác nhau:
- Tín dụng là quan hệ vay mượn trên nguyên tắc hoàn trả.
- Tín dụng là quá trình tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ hay hiện vật
trên nguyên tắc có hoàn trả.
- Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu
sang người sử dụng để sau một thời gian sẽ thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn
này được dùng để cấp vốn cho xây dựng cơ bản như đầu tư xây dựng các xí nghiệp
mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất,…
Nói chung, tín dụng - trung và dài hạn được đầu tư để hình thành vốn cố
định của khách hàng, mua sắm máy móc thiết bị, xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật
của doanh nghiệp để từ đó cải tiến công nghệ sản xuất, nâng cao chất lượng sản
phẩm, mở rộng sản xuất chiếm lĩnh thị trường
1.1.2. Đặc diểm tín dụng trung dài hạn
Tín dụng trung dài hạn có những đặc điểm quan trọng sau:
- Tín dụng trung - dài hạn được cấp cho khách hàng nhằm hỗ trợ cho họ
trong việc mua sắm, tạo lập tài sản cố định. Do đó, đối tuợng cho vay chủ yếu của
ngân hàng thương mại trong hình thức tín dụng này là vốn thiếu hụt tạm thời của
các doanh nghiệp.
- Do gắn liền với tài sản cố định và vốn vố định của khách hàng, tín dụng
trung - dài hạn của ngân hàng thương mại thường gắn liền với các dự án đầu tư.
Tuy nhiên, với tín dụng trung hạn thường đầu tư theo chiều sâu, trong khi đó tín
dụng dài hạn tập trung cho các dự án đầu tư mở rộng.
- Tín dụng trung - dài hạn của ngân hàng thương mại có thời gian hoàn vốn
chậm. Nguồn trả tiền vay cho ngân hàng chủ yếu được lấy từ quỹ khấu hao và một
phần từ lợi nhuận của chính dự án mang lại. Vì thế, khách chỉ có thể hoàn trả
khoản vay có quy mô lớn thành nhiều lần khác nhau – thời hạn cho vay kéo dài
trong nhiều năm.
Trang 6
- Tín dụng trung - dài hạn thường có thời gian kéo dài, quy mô tín dụng
thường lớn, nguy cơ rủi ro cao vì nền kinh tế quốc gia luôn biến động. Sự biến
động này có thể tích cực hoặc tiêu cực mà chúng ta không thể biết được. Do đó mà
môt khoản vay dài hạn thường đem lại nhiều rủi ro hơn là một khoản vay ngắn hạn
vì thời gian càng dài thì xác suất xảy ra những biến động này lớn hơn . Mặt khác,
lãi suất của cho vay trung - dài hạn thường lớn hơn lãi suất cho vay ngắn hạn. Vì
độ rủi ro cao hơn, thời gian thu hồi vốn lâu hơn.
cho người đi thuê sử dụng và ngưòi thuê có trách nhiệm thanh toán tiền thuê trong
suốt thời hạn thuê và có thể đựoc quyền sở hữu tài sản thuê, được quyền mua tài
sản thuê hoặc được quyền thuê tiếp theo các điều kiện đã được hai bên thoả thuận.
* Tài sản thuê bao gồm cả động sản và bất động sản :
- Động sản chủ yếu gồm máy móc thiết bị, ô tô dây chuyền công nghệ…
- Bất động sản chủ yếu là cửa hàng, văn phòng làm việc, cơ sở sản xuất…
Về mặt pháp lý, tài sản thuê thuộc quyền sở hữu của người cho thuê, còn đi
thuê chỉ được quyền sử dụng. Vì vậy, người đi thuê không đựơc bán chuyển
nhượng cho người khác. Song họ được hưởng những lợi ích do việc sử dụng tài
sản đó đem lại, đồng thời chịu phần vốn rủi ro có liên quan đến tài sản. Tín dụng
thuê mua có một số hình thức như : thuê mua có tham gia của ba bên, thuê mua có
sự tham gia của hai bên, tái thuê mua (sale – base back), thuê mua hợp tác
(levereged lease, thuê mua giáp lưng (under lease)…
* Xét về lợi ích thì cả ngân hàng và khách hàng đều có lợi
- Đối với ngân hàng (bên cho thuê): đây là hình thức tài trợ bổ sung cho các
hình thức tài trợ khác đang tồn tại ở ngân hàng, nó giúp ngân hàng mở rộng dịch
vụ, nâng cao năng lực cạnh tranh, giảm mức độ rủi ro, đảm bảo nguyên tắc vốn
vay được sử dụng đúng mục đích.
- Đối với các doanh nghiệp : hình thức này có thể giúp các doanh nghiệp có
thể sử dụng vốn vay dưới dạng các máy móc, thiết bị mà không phải bỏ vốn lớn,
không ảnh hưởng tới bảng tổng kết tài sản và hạn mức tín dụng của doanh nghiệp
việc cấp tín dụng thuê mua thường nhanh chóng, từ đó cho phép đầu tư khẩn cấp,
đáp ứng được thời cơ sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, mặt khác
phương thức thanh toán tiền thuê linh hoạt thích ứng với hoàn cảnh và điều kiện
sản xuất cũng như tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp và mỗi cá nhân.
- Đối với các công ty nhỏ hoặc công ty không có uy tín : ngân hàng có thể
không chấp nhận cho vay dài hạn nhưng có thể cho hưởng tín dụng thuê mua. Có
Trang 8
thể nói, mô hình tín dụng thuê mua rất có ý nghĩa đối với nền kinh tế thị trường,
Trang 9
cho xuất khẩu. Nhiều xí nghiệp với máy móc hiện đại sản xuất ra sản phẩm thay
thế hàng nhập. Tất cả các kết quả đó góp phần tiết kiệm chi ngoại tệ, tăng thu
ngoại tệ, tạo cán cân thanh toán quốc tế lành mạnh.
Ngoài ra, tín dụng trung - dài hạn của ngân hàng còn góp phần ổn định đời
sống, tạo ra công ăn việc làm và ổn định trật tự xã hội bởi lẽ tín dụng trung -dài
hạn đầu tư vào những lĩnh vực mới,cải tạo và nâng cao năng lực sản xuất nên sẽ
tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động. Bên cạnh đó, do năng lực sản xuất
được nâng lên số lượng sản phẩm tiêu thụ nhiều, đó là nguồn thu nhập của cán bộ
trong xí nghiệp và góp phần ổn định đời sống cho chính họ.
Tín dụng trung - dài hạn cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển dịch
cơ cấu đầu tư, làm cho cơ cấu của nền kinh tế trở lên hợp lý từ đó làm tiền đề cho
sự ổn định và trật tự an toàn xã hội.
1.1.4.2. Đối với doanh nghiệp
Trong môi trường kinh tế cạnh tranh, để có thể tồn tại và phát triển được thì
các doanh nghiệp phải không ngừng đầu tư vào tài sản cố định. Bởi lẽ tài sản cố
định là tư liệu chủ yếu, chiếm bộ phận lớn trong tổng giá thành, là yếu tố quan
trọng quyết định lợi thế cạnh tranh… Tuy nhiên, trong thực tế giá trị tài sản cố
định thường rất cao, nếu chỉ trông chờ vào nguồn vốn tự tích luỹ thì cần phải mất
rất nhiều thời gian doanh nghiệp mới đổi mới được tài sản cố định và sẽ bị tụt lại
xa so với các doanh nghiệp có vốn đã trang bị hiện đại. Vì thế lối thoát duy nhất
cho doanh nghiệp là đi vay để đổi mới. Khi tìm kiếm các nguồn vốn từ bên ngoài,
doanh nghiệp mong muốn có đựơc những khoản tín dụng trung - dài hạn từ ngân
hàng. Có người cho rằng cách tốt nhất để huy động vốn là doanh nghiệp phát hàng
cổ phiếu, trái phiếu huy động vốn dài hạn. Chúng ta không phủ nhận những mặt
tích cực của thị truờng chứng khoán trong việc phục vụ nhu cầu bổ sung vốn cho
doanh nghiệp, nhưng hình thức này chỉ phát huy hiệu quả ở những nước có thị
trường vốn và thị trường chứng khoán hoàn hảo. thậm trí ở những nước này trong
nhiều trường hợp doanh nghiệp có thể giảm bớt những khoản chi phí mà lẽ ra họ
tìm đến chính là các ngân hàng đã đầu tư cho họ. Bởi lẽ, doanh nghiệp dễ dàng tìm
được sự thông cảm vì hai bên đã hiểu nhau, ngân hàng đã nắm được tình hình tài
chính và các khoản thu chi của doanh nghiệp nên các dịch vụ sẽ tiện lợi hơn.
1.2. Chất lượng tín dụng trung - dài hạn trong hoạt động của các
ngân hàng thương mại
1.2.1. Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng tín dụng trung - dài hạn
Trang 11
1.2.1.1. Nâng cao chất lượng tín dụng trung - đài hạn là đòi hỏi bức
thiết đối với sự phát triển kinh tế
Trước hết, ta hiểu chất lượng tín dụng là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng
phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo sự tồn tại và phát triển của
ngân hàng. Chất lượng tín dụng trung - dài hạn chính là vốn cho vay trung - dài
hạn của ngân hàng được khách hàng đưa vào quá trình sản xuất kinh doanh dịch vụ
… để tạo ra một số tiền lớn hơn thông qua đó ngân hàng sẽ thu được cả gốc và lãi
cho ngân hàng đúng thời hạn, bù đắp được chi phí và có lợi nhuận. Như vậy, qua
một quá trình chu chuyển vốn, ngân hàng sẽ thu hồi vốn và lãi cón khách hàng sử
dụng vốn có hiệu quả. Xét về tổng thể ngân hàng vừa tạo ra được hiệu quả kinh tế
vừa tạo ra được hiệu quả xã hội.
Sinh ra từ nền sản xuất hàng hoá, tín dụng đã có những đóng góp đáng kể
trong việc thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn để đẩy mạnh tiến trình phát
triển của nền kinh tế. Sinh ra từ nền sản xuất hàng hoá, tín dụng đã có những đóng
góp đáng kể trong việc thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn để đẩy mạnh
tiến trình phát triển của xã hội. lịch sử đã chứng minh điều đó thông qua sự ra đời
và phát triển của xã hội loài người qua các hình thái kinh tế -xã hội.
Ngày nay cùng với sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá, tín
dụng cũng ngày càng phát triển nhằm cung cấp thêm các phương tiện giao dịch để
đáp ứng nhu cầu giao dịch ngày càng tăng trong xã hội. Trong điều kiện đó, chất
lượng tín dụng ngày càng được quan tâm bởi vì:
Đảm bảo chất lượng tín dụng là điều kiện để ngân hàng làm tốt vai trò trung
lượng tín dụng trung - dài hạn được nâng cao sẽ góp phần tăng hiệu quả sản xuất
xã hội, đảm bảo sự phát triển cân đối giữa các vùng, các ngành trong cả nước, ổn
định và phát triển kinh tế.
Chất lượng tín dụng trung - dài hạn góp phần làm lanh mạnh quan hệ tín
dụng: hoạt động tín dụng được mở rộng với các thủ tục đơn giản hoá, thuận tiện
nhưng vẫn tuân thủ các nguyên tắc tín dụng sẽ góp phần cho vay đúng các đối
tượng cần thiết, giảm thiểu và đi đến xoá bỏ nạn cho vay nặng lãi chủ yếu hiện nay
đang hoành hành ở nông thôn và các vùng xa xôi hẻo lánh.
Tín dụng nói chung và tín dụng trung - dài hạn nói riêng có mối quan hệ
mật thiết với nền kinh tế - xã hội, thiết lập một mối cơ chế chính sách đồng bộ, có
hiệu quả sẽ có tác động tích cực với mọi mặt của nền kinh tế - xã hội, điều đó cũng
có thể hiện chất lượng hoạt động tín dụng trong nền kinh tế thị trường.
Trang 13
1.2.1.2. Nâng cao chất lượng tín dụng quyết định sự tồn tại và phát triển
của các ngân hàng thương mại
Chất lượng tín dụng trung - dài hạn tốt làm tăng khả năng cung cấp dịch vụ
của các ngân hàng thương mại do tạo thêm nguồn vốn từ việc tăng được vòng quay
vốn tín dụng và thu hút được nhiều khách hàng bởi các hình thức của sản phẩm,
dịch vụ tạo ra một hình ảnh về biểu tượng và uy tín của ngân hàng và sự trung
thành của khách hàng.
Chất lượng tín dụng trung - dài hạn tốt làm tăng khả năng sinh lợi của sản
phẩm, dịch vụ ngân hàng do giảm được sự chậm trễ, giảm chi phí nghiệp vụ, chi
phí quản lý, các chi phí thiệt hại do không thu hồi được vốn vay đã cho vay. Mặt
khác nó còn đảm bảo khả năng thanh toán và lợi nhuận của ngân hàng, tạo thế
mạnh cho ngân hàng trong cạnh tranh, tạo thuận lợi cho sự tồn tại lâu dài của ngân
hàng vì chất lượng tín dụng tốt tạo cho ngân hàng có nhiều khách hàng trung thành
và những khoản lợi nhuận để bổ xung vốn đầu tư. Bên cạnh đó, chất lượng tín
dụng tốt giúp ngân hàng củng cố các mối quan hệ xã hội bằng những điều kiện tốt
vay.
b. Các chỉ tiêu định lượng đó là:
- Chỉ tiêu nợ quá hạn: là chỉ tiêu cơ bản cho biết chất lượng một khoản cho
vay: Chỉ tiêu nợ quá hạn =
Nợ quá hạn của tín dụng trung – dài hạn
Tổng dư nợ tín dụng trung – dài hạn
Đến kỳ hạn trả nợ và lãi tiền vay, nếu bên đi vay không đủ tiền để trả và
không được gia hạn nợ thì ngân hàng sẽ chuyển số nợ đó sang nợ quá hạn. Nợ quá
hạn chính là điều mà ngân hàng không hề mong muốn nhưng nó không phải là
thước đo chuẩn để căn cứ vào đó đánh giá chất lượng tín dụng của món vay. Trên
thực tế, các ngân hàng luôn cố gắng tìm cách để hạ tỷ lệ nợ quá hạn tới mức thấp
nhất có thể được.
Tỷ lệ nợ quá hạn =
Nợ quá hạn của tín dụng trung – dài hạn
Tổng dư nợ tín dụng
Chỉ tiêu này cho biết tỷ lệ nợ quá hạn của trung - dài hạn chiếm bao nhiêu
Trang 15
phần trăm trong tổng dư nợ tín dụng. Tỷ lệ này không có hoặc càng nhỏ càng tốt.
- Chỉ tiêu nợ quá hạn khó đòi:
Tỷ lệ nợ quá hạn khó đòi =
Nợ quá hạn khó đòi của tín dụng trung – dài hạn
Tổng dư nợ tín dụng trung – dài hạn
Trang 16
Tổng dư nợ tín dụng trung - dài hạn bình quân
Chỉ tiêu này cho ta biết ngân hàng thu nợ theo kế hoạch trong hợp đồng tín
dụng được bao nhiêu để có thể lại cho vay dự án mới. Vòng quay của vốn càng lớn
thì càng tốt vì điều đó khẳng định ngân hàng thu được nhiều nợ và chứng tỏ nguồn
vốn trung - dài hạn ngân hàng đã đầu tư hoạt động có hiệu quả. Ngược lại, nếu
vòng quay của vốn càng nhỏ thì việc thu nợ của ngân hàng là kém và nguồn vốn
trung - dài hạn mà ngân hàng đã đầu tư hoạt động kém hiệu quả.
Như vậy khi xem xét đánh giá chất lượng tín dụng trung - dài hạn, ta không
thể căn cứ vào một chỉ tiêu cụ thể nào mà phải sử dụng tổng hợp một hệ thống các
chỉ tiêu để có thể đưa ra kết luận chính xác. Giữa chất lượng tốt và chất lượng chưa
tốt không phải lúc nào cũng rạch ròi mà có thể rất khó nhận ra. Ngay cả khi ta sử
dụng mọi chỉ tiêu thì ta cũng chưa thể đánh giá chính xác được chất lượng cho vay
vì chất lượng tín dụng vừa mang tính cụ thể vừa mang tính trìu tượng. Sự trìu
tượng, mơ hồ ở các dự án nhiều khi là rất lớn, đặc biệt thể hiện trong các dự án cho
vay vì mục tiêu xã hội hay theo định hướng phát triển kinh tế của đất nước.
Tóm lại, các chỉ tiêu đánh giá, xem xét chất lượng tín dụng phải luôn được
xem xét phân tích thường xuyên cả hai mặt định tính và định lượng, cả về lợi
nhuận thuần tuý và lợi ích xã hội, cả trên quan điểm ngân hàng và khách hàng.
Thực hiện được điều này sẽ giúp cho bản thân các ngân hàng cũng như khách hàng
đánh giá được chất lượng tín dụng một cách chính xác đầy đủ nhất. Qua đó có thể
giải quyết được những hạn chế, vướng mắc cũng như phát huy được những ưu
điểm để nâng cao chất lượng tín dụng trung - dài hạn, góp phần thúc đẩy sự phát
triển của nền kinh tế đất nước.
1.2.3. Những nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng trung - dài
hạn
1.2.3.1. Những nhân tố khách quan
a. Môi trường kinh tế:
Môi trường kinh tế dù thay đổi theo chiều hướng nào cũng đều tác động tới
chất lượng tín dụng của ngân hàng. Nếu sự thay đổi theo chiều hướng tốt thì chất
Tuy nhiên, không chỉ có tình hình chính trị xã hội mà cả tình hình chính trị -
xã hội ở nước ngoài cũng có ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng trung - dài hạn bởi
vì hiện nay các quan hệ kinh tế - xã hội ngày càng được mở rộng cho nên các loại
hình doanh nghiệp đa quốc gia cũng ngày càng tăng cả về số lượng và quy mô hoạt
động. Vì vậy, mọi biến động về kinh tế - xã hội ở nước ngoài đều có ảnh hưởng tới
Trang 18
tình hình kinh tế, chính trị, xã hội trong nước và ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng
trung - dài hạn.
c. Môi trường pháp lý
Pháp lý là một bộ phận không thể thiếu của nền kinh tế thị trường có sự
điều tiết của nhà nước. Không có pháp luật hoặc pháp luật không phù hợp với
những yêu cầu phát triển của nền kinh tế thì mọi hoạt động của nền kinh tế không
thể trôi chảy được. Pháp luật có nhiệm vụ tạo lập môi trường pháp lý cho mọi hoạt
động sản xuất kinh doanh tiến hành thuận lợi và đạt hiệu quả kinh tế cao, là cơ sở
để giải quyết khiếu nại khi có tranh chấp xảy ra. Môi trường pháp lý cho hoạt động
tín dụng của ngân hàng nói riêng và cho hoạt động của các doanh nghiệp trong nền
kinh tế nói chung là một nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng tới khả năng phát sinh
nợ quá hạn. Hệ thống pháp luật quốc gia với các bộ luật và văn bản dưới luật chưa
được đầy đủ, đồng bộ, hợp lý sẽ không đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh
cho các hoạt động kinh tế, là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến rủi ro trong sản xuất
kinh doanh của các doanh nghiệp, gây nên các khoản nợ quá hạn cho ngân hàng.
Như vậy, pháp luật có vị trí hết sức quan trọng đối với hoạt động ngân hàng nói
chung và chất lượng tín dụng trung - dài hạn nói riêng.
d. Chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng là kim chỉ nan đảm bảo cho hoạt động tín dụng đi đúng
quỹ đạo, nó có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của mọi ngân hàng. Một chính
sách tín dụng đúng đắn sẽ thu hút được nhiều ngân hàng, đảm bảo khả năng sinh
lời của hoạt động tín dụng trên cơ sở phân tán rủi ro, tuân thủ pháp luật, đường lối
chính sách của nhà nước và đảm bảo công bằng xã hội. Ngược lại, nếu chính sách
thẩm định một cách kỹ càng trước khi ra quyết định cho vay. Nhưng việc sử dụng
vốn vay sai mục đích của khách hàng đã góp phần không nhỏ vào việc đổ bể của
các tổ chức tín dụng.
Chẳng hạn như sử dụng vốn vay đầu tư vào tài sản cố định, vào bất động
sản, sau đó các tài sản này bị sụt giá dẫn đến việc doanh nghiệp không trả được nợ
cho ngân hàng. Các doanh nghiệp còn chiếm dụng vốn lẫn nhau dẫn đến các doanh
nghiệp làm ăn nghiêm chỉnh gặp khó khăn trong việc trả nợ ngân hàng.
- Rủi ro trong công việc kinh doanh của khách hàng
Rủi ro trong kinh doanh của doanh nghiệp sẽ xảy ra nếu việc tính toán triển
khai dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp trong khoa học, không
thực hiện kỹ càng… Tuy nhiên trong một số trường hợp cho dù phương án sản
Trang 20
xuất kinh doanh của người đi vay đã được tính toán một cách chi tiết, khoa học,
chính xác đến mức tối đa thì công việc đầu tư vẫn luôn chứa đựng khả năng xảy ra
rủi ro do những thay đổi bất ngờ, ngoài ý muốn và bất khả kháng của các điều
kiện sản xuất kinh doanh, gây tác động xấu đến công việc làm ăn, mang lại rủi ro
cho doanh nghiệp. Ví dụ các thiệt hại doanh nghiệp phải gánh chịu do sự biến
động của thị trường cung cấp như: khi giá cả nguyên vật liệu biến động tăng vọt
làm tăng giá thành công xưởng của sản phẩm, nếu giá bán của sản phẩm không
thay đổi nó sẽ làm cho thu nhập tạo ra trên một sản phẩm giảm, làm giảm tổng lợi
nhuận được của cả dự án, ảnh hưởng xấu tới việc trả nợ ngân hàng. Nếu đảm bảo
thu nhập của mình, doanh nghiệp nâng giá bán của sản phẩm lên thì điều này sẽ
làm cho việc tiêu thụ sản phẩm gặp khó khăn, khả năng thu hồi vốn sản xuất bị
chậm trễ, dễ dàng vi phạm việc trả nợ ngân hàng về mặt thời hạn.
b. Về phía ngân hàng
Công tác thẩm định
Tín dụng trung - dài hạn được tiến hành chủ yếu dựa trên các dự án đầu tư.
Muốn xem xét dự án có đủ độ tin cậy để có thể cho vay được hay không,
chất lượng.
. Đánh giá những sản phẩm có khả năng thay thế sản phẩm của dự án trong
tương lai, độ bền của nhu cầu sử dụng của sản phẩm thay thế.
. Khả năng đáp ứng các nguồn cung cấp đầu vào: tính ổn định và tính
thường xuyên của nguồn cung ứng.
+ Căn cứ vào khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp về sản phẩm:
. Ưu thế tương đối của sản phẩm do dự án sản xuất về: giá thành, chất
lượng, mẫu mã, điều kiện lưu thông và tiêu thụ.
. Khả năng và uy tín của doanh nghiệp trong quan hệ thị trường về sản
phẩm, kênh phân phối, khả năng nắm bắt thông tin.
. Những con số cụ thể về khả năng tiêu thụ sản phẩm trong quá khứ và
tương lai.
- Thẩm định về phương diện kỹ thuật:
+ Xem xét việc lựa chọn địa điểm và mặt bằng xây dựng dự án, việc lựa
chọn hình thức đầu tư và công suất của dự án.
+ Khai thác tiềm năng sẵn có và lâu dài, có khả năng đáp ứng được nhu cầu
cần thiết, tối ưu hoá hiệu quả của dự án.
+ Nhu cầu về dây chuyền công nghệ và lựa cho thiết bị máy móc, khả năng
Trang 22
tìm kiếm, lựa chọn công nghệ thích hợp, kiểm tra tính pháp lý của hợp đồng
chuyển giao công nghệ.
+ Thẩm định tiến độ thực hiện của dự án.
- Thẩm định về phương diện tổ chức:
+ Xem xét cơ cấu tài chính: vấn đề về quyền lợi và trách nhiệm được kết
nối như thế nào.
+ Năng lực tài chính, quản lý của nhóm điều hành, của nhân viên: có những
hoạt động đào tạo trước mắt và lâu dài.
- Thẩm định về mặt tài chính của dự án
Đây chính là vấn đề cốt lõi nhất khi thẩm định dự án đầu tư đối với bất kỳ
* 100
Tổng vốn đầu tư
Nếu tỷ suất lợi nhuận của dự án > lãi suất tiền gửi thì nên đầu tư
+ Thời gian hoàn vốn: là số năm mà dự án cần thiết phải hoạt động để tổng
số lợi nhuận và khấu hao thu được bù đắp số vốn đầu tư bỏ ra ban đầu.
Thời gian hoàn vốn =
Vốn đầu tư
(Lợi nhuận + khấu hao) Bình quân một năm
Thời gian hoàn vốn phản ánh hiệu quả của đầu tư, thời gian hoàn vốn càng
nhanh thì hiệu quả đầu tư càng có hiệu quả.
+ Giá trị hiện tại ròng (NPV): cho ta biết quy mô của thu nhập từ dự án
trong suốt quá trình hoạt động từ khi khởi đầu cho đến khi kết thúc.
NPV =
i
n
i
i
n
i
r
Ci
r
Ti
)1()1(
00
Suất thu hồi nội bộ là lãi suất lớn nhất mà dự án có thể chịu đựng được. Dự
án có tính khả thi khi IRR > lãi suất vay dự án vì khi đó doanh nghiệp vừa trả được
nợ ngân hàng và vừa có lãi.
Ngoài các công tác thẩm định nêu trên, ngân hàng còn phải thẩm định độ
nhạy của dự án đối với sự thay đổi của các yếu tố, lãi suất tỷ giá, xu thế biến động
của nền kinh tế…
Hơn nữa ngân hàng còn phải tiến hành thẩm định khách hàng vay vốn bao
gồm: thu nhập và phân tích tài liện trong hồ sơ cho vay, phân tích tài chính khách
hàng: phân tích tình hình tài chính qua các năm, phân tích các chỉ số tác nhân
chung để đánh giá doanh nghiệp… và đưa ra đánh giá, kết luận tổng quát về tình
hình tài chính, sản xuất kinh doanh của khách hàng.
Tóm lại, do đặc điểm của tín dụng trung - dài hạn là thời gian dài, độ rủi ro
cao nên công tác thẩm định theo đúng và đầy đủ các trình tự nêu trên thì sẽ góp
phần nâng cao chất lượng món vay và đảm bảo cho sự an toàn của bản thân ngân
hàng.
Chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng của một ngân hàng là kim chỉ nan cho hoạt động tín
dụng của ngân hàng đó. Bên cạnh việc phải phù hợp với đường lối phát triển của
nhà nước thì chính sách tín dụng còn phải đảm bảo kết hợp hài hoà quyền lợi của
người gửi tiền, người đi vay và quyền lợi của chính bản thân ngân hàng. Chính
sách tín dụng phải tạo ra sự công bằng, không những phải đảm bảo an toàn cho
hoạt động của ngân hàng mà còn phải đảm bảo đủ sức hấp dẫn đối với khách hàng.
Một chính sách tín dụng đồng bộ, thống nhất và đầy đủ, đúng đắn sẽ xác định
phương hướng đúng đắn cho cán bộ tín dụng. Ngược lại, một chính sách tín dụng
không đầy đủ, đúng đắn và thống nhất sẽ tạo ra định hướng lệch lạc cho hoạt động
tín dụng, dẫn đến việc cấp tín dụng không đúng đối tượng tạo kẽ hở cho người sử
dụng vốn không đem lại hiệu quả kinh tế, dẫn đến rủi ro tín dụng.
Ví dụ về chính sách lãi suất, khi lãi suất cho vay quá cao thì khách hàng sẽ
làm ảnh hưởng tới thời gian ra quyết định đối với món vay, không đáp ứng kịp thời
các yêu cầu của khách hàng, không theo dõi sát sao được công việc.
Sự phân công công việc nếu không hợp lý, khoa học sẽ dẫn đến sự không rõ
ràng, chồng chéo khiến cho các cán bộ tín dụng ỷ lại, thiếu trách nhiệm đối với
công việc của mình. Công tác tổ chức ở đây cũng đề cập tới vấn đề giao việc đúng