Câu hỏi ôn tập môn luật hiến pháp tư sản - Pdf 11

Câu hỏi ôn tập môn luật hiến pháp tư sản
1. Phân tích vai trò của đảng phái chính trị trong việc tổ chức và hoạt động của
nhà nước tư sản?
- Đảng phái chính trị (ĐPCT) : là tổ chức chính trị thể hiện lợi ích của một giai cấp xã
hội nhất định, sự tồn tại của đảng gắn liền cuộc đấu tranh giành chính quyền để bảo vệ lợi
ích của giai cấp mình
* Phân tích :
- ĐPCT vai trò rất quan trọng đối với việc tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước tư
sản. Hoạt động của đảng phải chính trị đôi khi đã làm cho các cơ quan nhà nước tổ chức và
hoạt động không theo đúng tinh thần của pháp luật.
Ví dụ : Theo quy định của pháp luật Anh, nữ hoàng được quyền bổ nhiệm Thủ tướng.
Tuy nhiên, hiện nay nữ hoàng Anh không thể bổ nhiệm ai khác ngoài thủ lĩnh của Đảng chiếm
đa số ghế trong nghị viện làm Thủ tướng.
- Ỏ nhà nước tư sản, bầu cử là cuộc đấu tranh công khai giữa các đảng phái chính trị. các
đảng phái chính trị trở thành Đảng cầm quyền thông qua các cuộc bầu cử nghị viện và bầu cử
Tổng thống (ở chính thể cộng hòa tổng thống và cộng hòa lưỡng tính)
- Ở nhà nước tư sản, nếu không phải là đảng viên của các đảng phái chính trị thì rất khó
trở thành Thủ tướng (hoặc tổng thống ở chính thể cộng hòa tổng thống và cộng hòa lưỡng
tính).
- Các đảng phái chính trị không cầm quyền, đóng vai trò đối lập với Đảng cầm quyền.
Ví dụ : Ở nước Anh, ngoài chính phủ đang cầm quyền, pháp luật còn cho phép thành lập
“Nội các bóng tối” của Đảng đối lập. Nhiệm vụ cụ thể của Đảng đối lập là tìm ra những
khiếm khuyết của Đảng cầm quyền để công kích và tiến tới lật đổ Chính phủ của Đảng cầm
quyền. Chính sự đối lập này có tác dụng nhất định, làm cho Đảng cầm quyền thận trọng hơn
khi đưa ra những quyết định của mình.
2. Tại sao nói sự hoạt động của đảng phái chính trị làm cho các cơ quan nhà nước
hoạt động không theo quy định của pháp luật?
- Đảng phái chính trị : là tổ chức chính trị thể hiện lợi ích của một giai cấp xã hội nhất
định, sự tồn tại của đảng gắn liền cuộc đấu tranh giành chính quyền để bảo vệ lợi ích của giai
cấp mình.
- Đảng phái chính trị có vai trò rất quan trọng đối với việc tổ chức, hoạt động của bộ máy

đánh giá cao khi đất nước gặp khủng hoảng.
+ Khác nhau:
Tiêu chí Quân chủ đại nghị Cộng hòa đại nghị
Nguyên thủ quốc gia Vua (nữ hoàng), được
hình thành bằng con
đường thế tập truyền
ngôi, nhiệm kỳ suốt đời
Tổng thống, do nghị viện bầu ra
trong số đại biểu của mình, hoạt
động theo nhiệm kỳ nhất định.
- Giữa chính thể quân chủ đại nghị và chính thể cộng hòa tổng thống:
+ Giống nhau: Tổ chức nhà nước được phân chia thành ba nhánh quyền lập pháp, hành
pháp và tư pháp. Quyền lập pháp do nghị viện nắm, quyền hành pháp do chính phủ nắm và
quyền tư pháp do Tòa án nắm. Đảng phái chính trị và Chính phủ có vai trò rất quan trọng.
Nghị viện đều do dân bầu ra
+ Khác nhau:
Tiêu chí Quân chủ đại nghị Cộng hòa tổng thống
Nguyên thủ quốc gia Vua (nữ hoàng), được
hình thành bằng con
đường thế tập truyền
ngôi, nhiệm kỳ suốt đời
Tổng thống, do dân bầu ra, có
quyền lực rất lớn, nắm toàn bộ
quyền hành pháp, hoạt động theo
nhiệm kỳ nhất định
Cách thức thành lập
chính phủ
Nghị viện thành lập ra
Chính phủ, Thủ lĩnh
đảng chiếm đa số trong

pháp và tư pháp. Quyền lập pháp do nghị viện nắm, quyền hành pháp do chính phủ nắm và
quyền tư pháp do Tòa án nắm. Đảng phái chính trị và Chính phủ có vai trò rất quan trọng.
Ngoài ra, hai chính thể này còn có sự giống nhau nữa là đều có chức danh thủ tướng và Chính
phủ đều phải chịu trách nhiệm trước nghị viên.
+ Khác nhau:
Tiêu chí Quân chủ đại nghị Cộng hòa lưỡng tính
Nguyên thủ quốc gia Vua (nữ hoàng), được
hình thành bằng con
đường thế tập truyền
ngôi, nhiệm kỳ suốt đời
Tổng thống, do dân bầu ra, hoạt
động theo nhiệm kỳ nhất định
Cách thức thành lập
chính phủ
Nghị viện thành lập ra
Chính phủ, Thủ lĩnh
đảng chiếm đa số trong
nghị viện làm thủ tướng
Tổng thống bổ nhiệm các thành
phần của Chính phủ nhưng phải
được nghị viện thông qua
Cơ chế chịu trách
nhiệm của Chính phủ
Chịu trách nhiệm trước
nghị viện
Vừa chịu trách nhiệm trước Nghị
viện vừa chịu trách nhiệm trước
Tổng thống
Vai trò của nguyên thủ
quốc gia

nghị viện làm thủ tướng
đứng đầu chính phủ
Tổng thống bổ nhiệm nhiệm các
thành phần của Chính phủ.
Không có chức danh thủ tướng.
Cơ chế chịu trách
nhiệm của Chính phủ
Chịu trách nhiệm trước
nghị viện
Không phải chịu trách nhiệm
trước nghị viện, chỉ chịu trách
nhiệm trước tổng thống
Vai trò của nguyên thủ
quốc gia
Rất hình thức, nặng tính
lễ tân và tính ngoại giao
Rất lớn, vừa đứng đầu nhà nước
vừa đứng đầu chính phủ
Áp dụng thuyết tam
quyền phân lập
Rất mềm dẻo, ít có sự
tách biệt vì có sự gắn
bó chặt chẽ giữa đảng,
chính phủ và nghị viện
Có sự tách biệt rõ ràng giữa của
ba nhánh quyền lập pháp, hành
pháp và tư pháp
- Giữa chính thể cộng hòa đại nghị và chính thể cộng hòa lưỡng tính:
+ Giống nhau: Tổ chức nhà nước được phân chia thành ba nhánh quyền lập pháp, hành
pháp và tư pháp. Quyền lập pháp do nghị viện nắm, quyền hành pháp do chính phủ nắm và

nhà nước vừa đứng đầu chính
phủ và lãnh đạo chính phủ
Áp dụng thuyết tam
quyền phân lập
Rất mềm dẻo, ít có sự tách
biệt vì có sự gắn bó chặt chẽ
giữa đảng, chính phủ và
nghị viện
Có sự tách biệt hơn giữa chính
phủ và nghị viện
- Giữa chính thể cộng hòa tổng thống và chính thể cộng hòa lưỡng tính:
+ Giống nhau: Tổ chức nhà nước được phân chia thành ba nhánh quyền lập pháp, hành
pháp và tư pháp. Quyền lập pháp do nghị viện nắm, quyền hành pháp do chính phủ nắm và
quyền tư pháp do Tòa án nắm. Đảng phái chính trị và Chính phủ có vai trò rất quan trọng. Đều
có nguyên thủ quốc gia là tổng thống do dân bầu ra, có quyền lực lớn, hoạt động theo một
nhiệm kỳ nhất định.
+ Khác nhau:
Tiêu chí Công hòa tổng thống Cộng hòa lưỡng tính
Nguyên thủ quốc gia Có quyền lực rất lớn, nắm
toàn bộ quyền hành pháp
Có quyền lực lớn, là người lãnh
đạo chính phủ
Cách thức thành lập
chính phủ
Tổng thống bổ nhiệm nhiệm
các thành phần của Chính
phủ. Không có chức danh
thủ tướng
Tổng thống bổ nhiệm các thành
phần của Chính phủ nhưng phải

+ Lập danh sách cử tri:
+ Đơn vị bầu cử
+ Giới thiệu ứng cử viên: Đảng nào dành được số lượng ghế nhất định trong Nghị viện
ở cuộc bầu cử trước thì được giới thiệu ứng cử viên. Đảng mới thành lập có thể trình cơ quan
bầu cử về cương lĩnh, điều lệ hoạt động của mình và sẽ được bầu một số số lượng ghế nhất
định.
* Cách thức giới thiệu :
Thông qua ủy ban lựa chọn (2 -3 Đảng viên cao cấp mang tính chất bí mật);
Tất cả đảng viên tham dự (Chi bộ cử đại diện - Đại diện họp hội nghị đảng địa
phương(ứng cử viên) - ứng cử viên đưa về trung ương phê chuẩn.
Qua đại hội Đảng để chọn ứng cử viên (bầu cử sơ bộ) đa số tương đối hay đa số tuyệt
đối.
+ Cơ quan phụ trách bầu cử.
Thành lập thường xuyên cho các cuộc bầu cử (thường thuộc bộ nội vụ)
Thành lập theo các cuộc bầu cử - Bầu cử kết thúc thì các cơ quan này cũng kết thúc
nhiệm kỳ.
+ Lập danh sách ứng cử viên:
Quyền giới thiệu thuộc về đảng phái chính trị
Quyền lập danh sách ứng cử viên thuộc về các cơ quan phụ trách bầu cử (gạt tên những
ứng cử viên không theo quy định của pháp luật)
Điều này đảm bảo cơ chế kiềm chế, đối trọng lẫn nhau giữa đảng phái chính trị và nhà
nước.
+ Vận động tranh cử
Đây là 1 giai đoạn rất quan trọng góp phần quyết định sự thành bại của các ứng cử
viên. Pháp luật bầu cử tư sản quy định tương đối chi tiết về giai đoạn này nhằm bảo đảm sự
bình đẳng giữa các ứng cử viên như : Thời gian bắt đầu vận động và thời gian kết thúc vận
động; Thời gian được quyền phát biểu trên phương tiện thông tin đại chúng; việc đối thoại
trực tiếp và chương trình hành động của các ứng cử viên.
- Phương pháp xác định kết quả bầu cử
+ PP đa số tương đối : Căn cứ vào số lượng đại biểu mà đơn vị bầu cử được bầu những

cử tri của bang lớn sẽ đông hơn số cử tri của bang nhỏ trong Hạ viện. Vì vậy cần xuất hiện
thêm một thiết chế nữa trong nghị viện để đảm bảo sự công bằng giữa các bang. Thiết chế
Thượng viện đáp ứng được điều này, bởi Thượng viện đại diện cho ý chí của các bang và mối
liên hệ giữa các bang với nhau do cử tri của từng bang bầu ra. Số thượng nghị sĩ của mỗi bang
là bằng nhau trong Thượng viện. Thiết chế này sẽ đem lại sự công bình cho quyền lợi trong
toàn liên bang. Một dự luật do Hạ viện tạo ra cần phải có sự thông qua của Thượng viện,
chính là để đảm bảo cho điều đó.
- Đối với nhà nước đơn nhất, các nhà làm luật tư sản về thiết chế Nghị viện. Họ cho rằng,
Hạ viện thường đại diện cho các tầng lớp dân cư trong xã hội và thường được coi như cái
nhiệt kế của đời sống xã hội, trong khi đó Thượng viện thường đại diện cho trường phái bảo
thủ nên ít chịu sự tác động của áp lực xã hội. Do vậy, thiết chế Thượng viện trong nhiều
trường hợp đã cản trở được những đạo luật ban hành trong những thời điểm bức xúc của cuộc
sống, phản ánh đòi hỏi nhất thời của xã hội nhưng thiếu tính bền vững.
Tóm lại, các nhà nước tư sản tổ chức thiết chế nghị viện thành 2 viện là Thượng viện và
Hạ viện. Để hướng tới một sự dung hòa về quyền lợi giữa các tầng lớp trong xã hội, các vùng
lãnh thổ trong quốc gia, đặc biệt là trong cơ quan lập pháp, vì đó là nơi thể hiện ý chí của toàn
thể nhân dân, là nơi tạo ra các đạo luật để điều hành đất nước.
7. Hiện nay nghị viện của các nước tư sản đang bị khủng hoảng nghiêm trọng do
sự lấn quyền của bộ máy hành pháp. Nhận định đó đúng hay sai? Vì sao?
Khi cuộc cách mạng tư sản vừa mới thắng lợi thì không khí của đấu tranh vẫn còn sôi nổi,
ý thức làm chủ của người dân còn cao thì Nghị viện với thiết chế là đại diện của nhân dân có
rất nhiều quyền lực nhưng đến khi nhà nước tư sản đi vào ổn định thì quyền lực nhà nước tập
trung vào bộ máy cai trị đó là Chính phủ (Ngay cả đối với các nước theo chính thể đại nghị
thiết lập nguyên tắc nghị viện tối thượng nhưng hiện nay vai trò của Nghị viện cũng bi giảm
sút nghiêm trọng vì:
- Trong lĩnh vực lập pháp: Thời kỳ đầu Nghị viện có quyền ban hành bất kỳ đạo luật gì
nếu Nghị viện thấy là cần thiết (quyền lập pháp Nghị viện nắm được tuyệt đối) nhưng đến giai
đoạn hiện nay quyền lập pháp của Nghị viện bị hạn chế. Mặc dù Hiến pháp vẫn quy định Nghị
viện có quyền lập pháp nhưng trên thực tế Nghị viện chỉ được phép ban hành nhưng đạo luật
mà không can thiệp quá sâu vào lĩnh vực hành pháp. Các văn bản lập quy hướng dẫn thi hành

các thành viên Chính phủ trong các văn bản được Hoàng đế ban hành. Hoạt động của Hoàng
đế theo phương châm “Hoàng đế chỉ vì chứ không cai trị”.
- Hình thức chính thể cộng hòa đại nghị:
NTQG là Tổng thống được hình thành bằng con đường bầu cử dựa trên cơ sở Nghị viện.
Vị trí Tổng thống ở chính thể này giống như vị trí của Hoàng đế ở Chính thể Quân chủ đại
nghị.
- Chính thể Cộng hòa Tổng thống:
NTQG là Tổng thống do nhân dân trực tiếp bầu ra và có quyền lực rất lớn. Tổng thống
vừa là người đứng đầu nhà nước, vừa là người đứng đầu Chính phủ. Tất cả quyền hành pháp
nằm trong tay Tổng thống, các bộ trưởng chỉ là người giúp việc cho Tổng thống, đồng thời
phải chịu trách nhiệm trước Tổng thống.
- Cộng thể Cộng hòa lưỡng tính:
NTQG là Tổng thống do nhân dân trực tiếp bầu ra và có quyền lực rất lớn. Tổng thống
vừa là người đứng đầu nhà nước, vừa lãnh đạo trực tiếp tới bộ máy hành pháp.
9. Tại sao nói vị trí của nguyên thủ quốc gia được miêu tả như một mắt xích nằm giữa
hành pháp và lập pháp. Nếu nghiêng về lập pháp thì mang tính hình thức còn nghiêng về
hành pháp thì có thực quyền?
Quyền lực nhà nước thì chỉ có ba nhánh quyền là lập pháp, hành pháp và tư pháp, Nghị
viện nắm quyền hành pháp, Chính phủ nắm quyền hành pháp và Tòa án nắm quyền tư pháp.
Do đó, vị trí Nguyên thủ quốc gia chỉ có vai trò phối kết hợp 3 nhánh quyền này, chứ không
thuộc về nhánh một quyền nào. Tuy nhiên, trong 3 nhánh quyền này, người ta thường gạt đi
nhánh quyền tư pháp vì nhánh quyền này mang tính chất chuyên môn và ít mang tính chất
chính trị nên khi nói đến quyền lực nhà nước chủ yếu là quyền lập pháp và hành pháp. Do vậy,
Nguyên thủ quốc gia muốn có quyền lực thì phải xâm lấn vào một trong hai nhánh quyền hành
pháp hoặc lập pháp. Chính vì nhánh quyền hành pháp hiện nay bị suy giảm quyền lực do
nhánh quyền hành pháp xâm lấn và hoạt động của bô máy nhà nước khi đã ổn định chủ yếu là
hoạt động của nhánh quyền hành pháp nên khi Nguyên thủ quốc gia nghiêng về nhánh quyền
hành pháp sẽ có thực quyền còn nghiêng về nhánh quyền lập pháp chỉ mang tình hình thức. Ví
dụ ở chính thể Cộng hòa tổng thổng thì tổng thống vừa là nguyên thủ quốc gia vừa nắm toàn
bộ quyền hành pháp nên có quyền lực rất lớn còn ở chính thể cộng hòa đại nghị nguyên thủ

của Chính phủ gắn liền với hoạt động của Đảng cầm quyền, khống chế mọi hoạt động của các
cơ quan nhà nước khác.
11. Tại sao nói chính thể cộng hòa lưỡng tính kế thừa những đặc điểm của chính thể đại
nghị và chính thể cộng hòa tổng thống?
Vì ở chính thể cộng hòa lưỡng tính vừa mang một số đặc điểm của chính thể cộng hòa đại
nghị vừa mang một số đặc điểm của chính thể cộng hòa tổng thống:
- Đặc điểm kế thừa của chính thể cộng hòa tổng thống:
+ Tổng thống do dân bầu ra và lãnh đạo chính phủ.
+ Các thành viên của Chính phủ và Thủ tướng do Tổng thống bổ nhiệm
+ Chính phủ phải chịu trách nhiệm trước Tổng thống
- Đặc điểm của chính thể cộng hòa đại nghị:
+ Có chức danh Thủ tướng đứng đầu Chính phủ
+ Thông qua việc bổ nhiệm các thành viên của Chính phủ và Thủ tướng của Tổng thống
+ Chính phủ cũng phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện
12. Có quan điểm cho rằng: “Ở chính thể Cộng hòa Tổng thống thuyết phân chia
quyền lực được áp dụng 1 cách triệt để”. Quan điểm đó đúng hay sai ? Tại sao ?
Quan điểm đó: Đúng, bởi vì như chúng ta đã biết Chính thể này thuyết phân chia quyền
lực (tam quyền phân lập) được dùng 1 cách mạnh mẽ, đặc biệt là thưyết phân chia quyền lực
of Môngtexkiơ và Rútxô. Thuyết phân chia quyền lực nhằm không cho nhánh quyền lực nào
lộng quyền mà để các nhánh quyền lực này luôn luôn kiềm chế, đối trọng lẫn nhau. Nghị viện
có toàn quyền trong lĩnh vực lập pháp, Tổng thống có toàn quyền trong lĩnh vực hành pháp;
Nghị viện không có quyền lật đổ Chính phủ và Tổng thống không có quyền giải tán Nghị
viện; Nghị viện làm luật nhưng Tổng thống công bố luật; Tổng thống có quyền ký kết các điều
ước quốc tế nhưng Nghị viện lại là cơ quan phê chuẩn. Còn Tòa án độc lập trong lĩnh vực tư
pháp. Cơ chế bảo hiến được giao cho Tòa án thường.
13. Có quan điểm cho rằng chế định: “Giám sát việc thi hành Hiến pháp và bảo vệ
Hiến pháp” là 1 chế định rất tiến bộ và cần phải được áp dụng vào nước ta. Quan điểm
đó đúng hay sai ? Tại sao ?
Quan điểm đó: Đúng, Bởi vì Hiến pháp là đạo luật cơ bản của nhà nước cho nên để đảm
bảo tính chủ đạo, tính quyền lực và tính tối cao của Hiến pháp thì phải kiểm tra tính hợp hiến


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status