Bài tiết của dạ dày
Ở niêm mạc dạ dày, ngoài tế bào bài tiết nhày nằm khắp bề mặt của dạ dày,
còn có hai loại tuyến quan trọng là tuyến acid và tuyến môn vị, bài tiết các
thành phần của dịch vị.
I. Hoạt động bài tiết HCl:
- HCl có vai trò chuyển pepsinogen thành pepsin và tạo môi trường acid cho
hoạt động của pepsin. Ngoài ra HCl còn có tác dụng diệt các vi khuẩn ăn
vào.
- Khi có kích thích, tế bào thành bài tiết một dung dịch điện giải chứa 160
milimols acid HCl/1 lít, pH khoảng 0,8. Để cô đặc được nồng độ Hydrogen
như thế cần phải dùng 1500 Calo để tạo thành HCl trong 1 lít dung dịch.
- Trong tế bào thành có các kênh nội bào (intracellular canaliculi) khi tế bào
bài tiết, những màng của các kênh này mở rộng ra và dịch sẽ bài tiết thẳng
vào lòng của tuyến acid.
1) Cơ chế bài tiết HCl:
Cơ chế bài tiết HCl là một hoạt động phức tạp. Tế bào thành bài tiết HCl vào
lòng các kênh nội bào, rồi từ đó vào lòng ống tuyến. Trong sự bài tiết
Hydrochloric acid: CO
2
và Carbonic Anhydrase (CA) đóng vai trò quan
trọng, HCO
3
-
khuếch tán ra khỏi tế bào thành để vào dịch ngoại bào (trao đổi
với Cl
-
vào tế bào).
Helicobacter Pylori).
+ Prostagladin E
2
(PGE
2
): có tác dụng ức chế adenylcyclase của tế bào
thành. PGE
2
cũng ức chế tế bào G.
II. Pepsinogen
Pepsinogen được bài tiết nhiều nhất ở giai đoạn não (trước khi thức ăn vào
dạ dày chưa có hoạt tính sinh học và sẽ được hoạt hoá bởi HCl để thành
Pepsin và pepsin lại có khả năng hoạt hoá pepsinogen.
Pepsin là men thuỷ phân protein hoạt động trong môi trường acid (pH tối
thuận khoảng 1,8 – 3,5) khi pH ≥ 5 thì mất hoạt tính.
Pepsin sẽ thuỷ phân một phần protein ở dạ dày thành các chuỗi peptid ngắn:
proteose, pepton, polypeptid. Các peptid này đóng vai trò quan trọng trong
cơ chế bài tiết của tế bào thành.
Đặc biệt pepsin có khả năng thuỷ phân collagen, là một protein ít bị ảnh
hưởng bởi các enzyme khác, giúp cho các enzyme tiêu hoá xâm nhập vào
thịt dễ dàng.
Khi pepsin được tạo ra quá nhiều có thể làm tổn thương niêm mạc dạ dày.
III. Bài tiết HCO
3
-
:
Bài tiết HCO
3
-