Vốn lưu động và các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng Vốn lưu động ở Công ty TNHH Vận TảI Và Sửa Chữa Ôtô Trường Thành - Pdf 11

Luận văn tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh bất kỳ một doanh nghiệp nào
cũng cần phải có một lượng vốn nhất định và nguồn tài trợ tương ứng; vốn chính
là tiền đề của sản xuất kinh doanh, song việc sử dụng vốn như thế nào để có hiệu
quả cao mới là nhân tố quyết định cho sự tăng trưởng của mỗi doanh nghiệp. Vì
vậy với bất cứ một doanh nghiệp nào khi sử dụng vốn sản xuất nói chung và vốn
lưu động nói riêng đều phải quan tâm đến hiệu quả của nó mang lại. Trong các
doanh nghiệp Vốn lưu động là một bộ phận quan trọng của vốn đầu tư nói riêng
và vốn sản xuất nói chung, quy mô của Vốn lưu động trình độ quản lý, sử dụng
Vốn lưu động là một nhân tố ảnh hưởng quyết định đến hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, do ở một vị trí then chốt như vậy nên việc quản lý sử
dụng Vốn lưu động được coi là một trọng điểm của công tác tài chính doanh
nghiệp
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường có nhiều thành phần kinh tế
cùng song song tồn tại và cạnh tranh gay gắt lẫn nhau. Mặt khác trong điều kiện
đổi mới cơ chế quản lý hiện nay, các doanh nghiệp thực sự là một đơn vị kinh tế
tự chủ, tự tổ chức quá trình sản xuất kinh doanh, tự chủ trong việc tìm đầu vào và
đầu ra của sản xuất, tự chủ về vốn. Ngoài số vốn điều lệ ban đầu thì doanh nghiệp
phải tự huy động thêm vốn để phát triển kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về
việc huy động vốn, do vậy để tồn tại phát triển, đứng vững trong cạnh tranh thì
bất cứ một doanh nghiệp nào cũng đều phải quan tâm đến vấn đề tạo lập, quản lý
và sử dụng vốn sản xuất nói chung và Vốn lưu động sao cho có hiệu quả nhất
nhằm đem lại lợi nhuận nhiều nhất cho doanh nghiệp.Việc quản lý và nâng cao
hiệu quả sử dụng Vốn lưu động có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với sự tồn tại và
phát triển của nền sản xuất nói chung và của mỗi doanh nghiệp nói riêng.
Từ việc nhận thức về tầm quan trọng của vốn sản xuất nói chung và Vốn
lưu động nói riêng trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, cũng như thấy được vai
trò quan trọng của việc cần thiết phải nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng Vốn
lưu động đối với Công ty TNHH Vận TảI Và Sửa Chữa Ôtô Trường Thành cũng
SV: Nguyễn Thiện Thắng 1 Khoá: 7A

NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VLĐ TRONG DOANH NGHIỆP
THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ.
I. VỐN LƯU ĐỘNG VÀ VAI TRÒ CỦA VỐN LƯU ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP
THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ.
1. Khái niệm vốn lưu động và đặc điểm của VLĐ.
a. Khái niệm.
Vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn ứng ra để hình thành nên tài sản
lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được thực
hiện thường xuyên, liên tục. Vốn lưu động chuyển toàn bộ giá trị của chúng vào
lưu thông và từ trong lưu thông toàn bộ giá trị của chúng được hoàn lại một lần
sau một chu kỳ kinh doanh.
b. Đặc điểm.
Vốn lưu động thường xuyên vận động và chuyển hoá qua nhiều hình thái
khác nhau.
Đối với doanh nghiệp sản xuất, vốn lưu động từ hình thái ban đầu là tiền
được chuyển hoá sang hình thái vật tư dự trữ và tiếp tục chuyển hoá lần lượt sang
hình thái sản phẩm dở dang, thành phẩm hành hoá và khi kết thúc quá trình tiêu
thụ lại trở về hình thái ban đầu là tiền.
Đối với doanh nghiệp thương mại thì sự vận động của vốn lưu động nhanh
hơn từ hình thái tiền chuyển hoá sang hình thái hành hoá và lại chuyển hoá về
hình thái tiền. Sự vận động của vốn lưu động như vậy được gọi là sự tuần hoàn
của vốn. Quá trình kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục không ngừng, vì
thế,sự tuần hoàn của vốn lưu động cũng diễn ra liên tục lặp đi lặp lại có tính chất
chu kỳ tạo thành sự chu chuyển của của vốn lưu động.
Trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh, vốn lưu động chuyển
toàn bộ giá trị ngay trong một lần và được hoàn lại toàn bộ sau khi doanh nghiệp
SV: Nguyễn Thiện Thắng 3 Khoá: 7A
Luận văn tốt nghiệp
tiêu thụ sản phẩm thu được tiền bán hàng. Như vậy, vốn lưu động hoàn thành một
vòng tuần hoàn sau một chu kỳ kinh doanh.

Trong đó:
Vốn bằng tiền cần thiết để thanh toán các khoản nợ đến hạn với nhà cung
cấp, thông thường là ngắn hạn, từ 1-3 tháng. Đây là phần vốn rất quan trọng,
phản ánh tài chính của doanh nghiệp. Vốn bằng tiền chính là số tiền thu được
trong bán hàng của doanh nghiệp. Vốn bằng tiền bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền
gửi ngân hàng, tiền đang chuyển. Trong đó tiền đang chuyển là số tiền doanh
nghiệp đã được khách hàng thanh toán nhưng đang trong giai đoạn chuyển khoản
giữa các ngân hàng hay đang trên đường về.
Vốn nằm trong thanh toán là khoản tiền doanh nghiệp cho khách hàng trả
chậm, tuỳ từng doanh nghiệp và mặt hàng kinh doanh của doanh nghiệp mà chính
sách tín dụng khách nhau.
Mỗi doanh nghiệp đều đặt ra một tiêu chuẩn tín dụng để cấp cho khách
hàng. Nếu chính sách của doanh nghiệp là tín dụng rộng rãi thì doanh thu sẽ tăng,
nhưng đồng thời sẽ làm tăng độ rủi ro của các khoản phải thu. Để đề phòng
những tổn thất từ những khoản nợ xấu, hạn chế ảnh hưởng của nó đến việc kinh
doanh của doanh nghiệp thì doanh nghiệp cần phải lập dự phòng.
3. Vai trò của vốn lưu động .
Vốn là tiền đề vật chất không thể thiếu trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp. Nó đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh diễn
ra một cách liên tục từ khâu mua hàng đến khâu tiêu thụ sản phẩm. Mỗi doanh
nghiệp phải có một số vốn nhất định phù hợp với quy mô kinh doanh của doanh
nghiệp, và số vốn này phải đủ để tồn tại trong cạnh tranh. Bởi vì trong hoạt động
thương mại, rất cần có lượng vốn lớn để dự trữ hàng hoá, phòng khi khan hiếm
hàng hoặc khi hàng tăng giá. Những lúc như thế, phần thắng trong cạnh tranh
luôn thuộc về các doanh nghiệp trường vốn.
II CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TRONG
DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ
1. Hiệu quả sử dụng vốn lưu động
SV: Nguyễn Thiện Thắng 5 Khoá: 7A
Luận văn tốt nghiệp

bình quân ngày quay VLĐ
Đây là chỉ tiêu bổ sung cho việc đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐ.Nó phản
ánh số VLĐ có thể tiết kiệm được do tăng tốc độ luân chuyển VLĐ ở kỳ này so
với kỳ gốc
2.3 Các hệ số thanh toán
SV: Nguyễn Thiện Thắng 6 Khoá: 7A
Luận văn tốt nghiệp
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động còn được đánh giá thông qua việc xem xét
khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
Để đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp ta nên so sánh giữa số
tiền phải thanh toán với số tiền dùng để thanh toán. Nếu số tiền dùng thanh toán
lớn hơn số tiền phải thanh toán thì tình hình tài chính của doanh nghiệp bình
thường và ngược lại. Khả năng thanh toán của doanh nghiệp được chia làm 3 loại:
Hệ số khả năng thanh
toán hiện thời
=
Σ TSLĐ và ĐTNH
Nợ ngắn hạn

Hệ số khả năng thanh toán nhanh =
Σ Tài sản lưu động + Đầu tư ngắn hạn
Nợ ngắn hạn
Hệ số thanh toán tức thời =
(Vốn bằng tiền + Tương đương tiền)
Nợ ngắn hạn
Nếu như các hệ số thanh toán đều lớn hơn 1 thì tình hình thanh toán của
doanh nghiệp tương đối tốt, doanh nghiệp có thể đáp ứng ngay được yêu cầu thanh
toán các khoản nợ phải trả của mình. Còn nếu hệ số này nhỏ hơn 1 thì chứng tỏ
tình hình thanh toán của doanh nghiệp đang gặp khó khăn, doanh nghiệp buộc phải
bán vật tư, hàng hoá dự trữ để trang trải các khoản nợ. Điều này sẽ làm giảm khả

Lợi nhuận trước thuế
VLĐ bình quân trong kỳ
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế / VLĐ =
Lợi nhuận sau thuế
VLĐ bình quân trong kỳ
Các chỉ tiêu này phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận trước và sau thuế
với VLĐ bình quân trong kỳ của doanh nghiệp. Nó thể hiện, khi thực hiện 1đồng
VLĐ trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận.
II. CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TRONG
CÁC DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ.
1. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong các
doanh nghiệp thương mại.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
ngày càng gia tăng. Nhà nước chỉ đóng vai trò điều tiết hoạt động kinh tế bằng
pháp luật và các chính sách kinh tế- xã hội. Sự tồn tại và phát triển của các doanh
SV: Nguyễn Thiện Thắng 8 Khoá: 7A
Luận văn tốt nghiệp
nghiệp phụ thuộc rất lớn vào việc sử dụng đồng vốn đưa vào kinh doanh sao cho
có hiệu quả, phải nâng cao được hiệu quả sử dụng vốn.Việc nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn còn là điều kiện quan trọng giúp doanh nghiệp đạt được các mục tiêu
kinh doanh.
2. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp
a. Các nhân tố khách quan:
- Yếu tố sản xuất và tiêu dùng: chu kỳ của sản xuất, tính thời vụ của sản
xuất và tiêu dùng ảnh hưởng trực tiếp đến mức lưu chuyển hàng hoá. Loại hàng
nào có chu kỳ sản xuất dài, vốn hàng hoá sẽ làm tăng mức lưu chuyển hàng hoá.
Có những loại hàng hoá được sản xuất quanh năm nhưng nhu cầu tiêu dùng mang
tính thời vụ,, hoặc có loại hàng hoá sản xuất mang tính thời vụ nhưng tiêu dùng
lại quanh năm, như vậy để đảm bảo cho bán hàng kịp thời và đều đặn thì lượng
hàng hoá dự trữ phải tăng lên, thời gian dự trữ cũng tăng lên làm cho tốc độ chu

sử dụng hợp lý các nguồn vốn. Doanh nghiệp nào cũng cần huy động những
nguồn vốn bổ
xung nhằm đảm bảo sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục và là
điều kiện để mở rộng qui mô kinh doanh cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.
Ngoài vốn tự có thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp có thể sử dụng lâu dài,
doanh nghiệp còn có rất nhiều nguồn khác; nguồn vốn đơn vị bổ xung, vay
ngân hàng. Việc lựa chọn nguồn vốn nào là rất quan trọng cần dựa trên
nguyên tắc hiệu quả kinh tế.
3.3 Tổ chức thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh.
Tổ chức thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh làm cho quá trình kinh doanh
được thông suốt, nhịp nhàng đều đặn qua các khâu.
Đối với khâu dự trữ: Vốn dự trữ hàng hoá phục vụ kinh doanh là khoản
vốn chiếm tỉ trọng lớn trong tổng số vốn lưu động của doanh nghiệp. Dự trữ hợp
lý có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của
doanh nghiệp.
Đối với khâu lưu thông: Vốn lưu động trong khâu lưu thông chiếm tỉ trọng
đáng kể trong tổng số vốn lưu động của doanh nghiệp Thương mại. Vì vậy nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong khâu này có ý nghĩa quan trọng đối với
doanh nghiệp Thương mại.
SV: Nguyễn Thiện Thắng 10 Khoá: 7A
Luận văn tốt nghiệp
3.4 Quản lý tốt chi phí kinh doanh.
Bên cạnh việc tăng doanh thu, doanh nghiệp cần tổ chức thực hiện tốt công
tác quản lý chi phí và ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận và là một trong những
yếu tố xác định nên lợi nhuận của doanh nghiệp. Quản lý chi phí chính là việc
xác định các định mức chi phí cho từng bộ phận sau đó là dự toán theo tháng, quí,
năm cuối cùng áp dụng và điều chỉnh trong thực tế. Do vậy, sử dụng chi phí một
cách hợp lý góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
3.5 Quản lý kinh tế tài chính.
Qua các tài liệu, số lượng kế toán, các báo cáo tài chính, doanh nghiệp sẽ

trong thương trường, tự chủ trong sản xuất kinh doanh. Để có thể tồn tại phát
triển, cạnh tranh với các thành phần kinh tế khác, các đơn vị sản xuất khác. Công
ty TNHH Vận TảI Và Sửa Chữa Ôtô Trường Thành đã vạch ra chiến lược đáp
ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng, đạt lợi nhuận tối đa. Công ty đã phấn đấu
hạ giá thành, tiết kiệm chi phí trong sản xuất, thực hiện phương châm kinh doanh
có hiệu quả để tích luỹ sản xuất và nâng cao thu nhập cho người lao động, đảm
bảo đời sống cho CBCNV của Công ty. Hiện nay toàn Công ty có 60 công nhân
viên với 6 phòng ban và 3 phân xưởng sản xuất. Mục tiêu của Công ty trong
những năm tới là duy trì nâng cao chất lượng phục vụ, cải tiến thiết bị, mở rộng
thị trường.
1. Đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.
Công ty TNHH Vận TảI Và Sửa Chữa Ôtô Trường Thành là một đơn vị sửa
chữa và kinh doanh phụ tùng ôtô, các trang thiết bị của Công ty chủ yếu là các
máy loại chuyên dùng có chức năng khác nhau. Công ty có 3 phân xưởng riêng
SV: Nguyễn Thiện Thắng 12 Khoá: 7A
Luận văn tốt nghiệp
biệt theo dây chuyền sản xuất, mỗi phân xưởng có chức năng nhiệm vụ khác
nhau kết hợp với nhau trong việc hoàn thành sản phẩm. Mỗi phân xưởng được
chia ra làm nhiều tổ sản xuất tuỳ theo từng bước hoàn thiện sản phẩm.
- Phân xưởng I: Chuyên lắp ráp linh kiện phụ tùng ôtô.
- Phân xưởng II: Chuyên đánh bóng và phun sơn.
- Phân xưởng III:Là phân xưởng quan trọng nhất trong công ty chuyên hoàn
thiện sản phẩm và giao trả khách hàng .
Về đặc điểm tổ chức quản lý, Công ty có quy mô thuộc loại vừa và nhỏ, cho
nên bộ máy quản lý của công ty rất gọn nhẹ.
Đứng đầu công ty là Giám đốc,người trực tiếp quản lý, điều hành mọi hoạt
động của công ty, sau đó là các phòng ban như phòng Kế toán, phòng Quản lý và
3 phân xưởng .
Sơ đồ bộ máy quản lý và tổ chức sản xuất ở cty TNHH Vận TảI Và
Sửa Chữa Ôtô Trường Thành.

Sơ đồ bộ máy kế toán của Công ty.
3. Vài nét về tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty thời gian qua.
Hai năm qua, với uy tín và chất lượng công ty đã giữ được mối quan hệ tốt
với các khách hàng. Chính vì vậy mà công ty liên tục nhận được sự tín nhiệm từ
phía khách hàng, điều đó khẳng định sự năng động của công ty trong môi trường
cạnh tranh gay gắt giữa các thành phần kinh tế như hiện nay.
Để đáp ứng yêu cầu sản xuất và mở rộng thị trường, công ty đã đầu tư mua
sắm mới các máy móc thiết bị phục vụ sản xuất. Sản phẩm chính của công ty chủ
yếu là phụ tùng thay thế.
SV: Nguyễn Thiện Thắng 14 Khoá: 7A
Kế toán trưởng kiêm kế toán
chi phí sản xuất tính giá
Kế toán tài sản
cố định
Kế toán tiền
lương kiêm kế
toán thanh toán
Thủ quỹ
Luận văn tốt nghiệp
Trong điều kiện sản xuất kinh doanh hiện nay để duy trì sản xuất làm ăn có
lãi là điều mong muốn của tất cả các doanh nghiệp, công ty TNHH Vận TảI Và
Sửa Chữa Ôtô Trường Thành là một doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả điều nằy
đựơc thể hiện qua một số chỉ tiêu ( Bảng 1 ).
Qua bảng ta có thể thấy tổng doanh thu năm 2004 là 4.680 trđ đến năm
2005 là 6.072 trđ tăng 1.392 trđ tương ứng tỷ lệ là 29,7% . Doanh thu thuần năm
2005 cũng tăng lên 29,7% so với năm 2004.Vì công ty được miễn thuế TNDN
trong 2 năm, cho nên lợi nhuận trước thuế bằng lợi nhuận sau thuế năm 2005 so
với năm 2004 giảm tương ứng tỷ lệ 71%. Qua đó ta thấy vốn sản xuất kinh doanh
chưa được sử dụng hiệu quả.
Sau đây chúng ta cùng đi sâu tìm hiểu tình hình tổ chức và sử dụng vốn lưu

tổng vốn.
TSCĐvà ĐTDH: 1311 trđ chiếm 74%
Căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn thì nguồn tài trợ VLĐ của
công ty được chia thành
Nguồn VLĐ thường xuyên = Tổng TSLĐ - Nợ ngắn hạn
Nguồn VLĐ tạm thời = Vốn vay ngắn hạn + vốn chiếm dụng hợp pháp.
Ta có thể xem xét cụ thể nguồn VLĐ của Công ty được sắp xếp bằng số
liệu( Bảng 4 – Bảng 5 ):
Vào thời điểm 31/12/2004, nguồn VLĐ thường xuyên chiếm tỷ trọng 73,7%
trong tổng VLĐ, tuy nhiên đến 31/12/2005 nguồn VLĐ thường xuyên chỉ còn
chiếm 63,4%, Nguồn VLĐ thường xuyên cần thiết của Công ty được tài trợ chủ
yếu bằng nguồn vốn dài hạn và nguồn VLĐ tạm thời được tài trợ bằng nguồn vốn
ngắn hạn. Đây là mô hình tài trợ cho VLĐ khá phổ biến ở các doanh nghiệp vì có
ưu điểm là xác lập được sự cân bằng về thời hạn sử dụng vốn và nguồn vốn hạn
chế bớt các chi phí sử dụng phát sinh thêm trong kinh doanh, mô hình tài trợ này
còn phù hợp và đặc điểm của Công ty là sản xuất theo yêu cầu của khách hàng là
chủ yếu.
Trong năm 2004 công ty chưa khai thác hết khả năng vay ngắn hạn mà tập
trung vay dài hạn điều này đã làm cho công ty phải chịu khoản chi phí trả lãi tiền
vay lớn hơn do lãi tiền vay dài hạn thường cao hơn lãi tiền vay ngắn hạn. Cũng
SV: Nguyễn Thiện Thắng 16 Khoá: 7A
Luận văn tốt nghiệp
như vậy năm 2005 nguồn VLĐ của công ty được tài trợ chủ yếu bằng nguồn vốn
thường xuyên (chiếm 63,4% tổng số VLĐ). Nợ dài hạn năm 2005 có xu hướng
tăng thêm cũng làm tăng thêm một phần chi phí cho các khoản vay dài hạn bên
cạnh đó việc giảm các khoản nợ khác do giảm bớt các chi phí về đầu tư máy móc
thiết bị và sửa chữa nhà xưởng.
Trong quá trình hoạt động SXKD, các doanh nghiệp ngoài số vốn tự có,
phải huy động thêm nguồn vốn khác nữa vay nợ là một hình thức tài trợ về vốn
khá phổ biến. Đối với Công ty TNHH Vận TảI Và Sửa Chữa Ôtô Trường Thành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status