4 Tạp chí Y tế Công cộng, 9.2009, Số 13 (13)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Đuối nước và phòng chống đuối nước
cho trẻ em
Phạm Việt Cường
Đuối nước được coi là một vấn đề y tế công cộng quan trọng đứng thứ 2 trong các nguyên nhân tử
vong chấn thương hàng đầu trên thế giới. Đuối nước có thể xảy ra ở tất cả các lứa tuổi, tuy nhiên trẻ
em dưới 15 tuổi là nhóm đối tượng có nguy cơ nhất, đặc biệt là ở những khu vực có tình trạng kinh
tế phát triển thấp và trung bình. Ở Việt Nam, đuối nước là nguyên nhân hàng đầu về tử vong đối với
trẻ em dưới 20 tuổi, theo ước tính thì có từ 20-30 trẻ bò đuối nước hàng ngày tại Việt Nam. Đuối nước
có thể phòng ngừa được thông qua các biện pháp đơn giản phù hợp với từng đòa bàn và lứa tuổi. Đuối
nước có thể phòng được qua việc loại bỏ các nguy cơ nước trong, xung quanh hộ gia đình. Đối với
những đứa trẻ lớn hơn, đuối nước có thể được dự phòng bằng cách dạy cho trẻ các kỹ năng bơi an
toàn và các khả năng an toàn, cứu trợ khi cần thiết. Các bằng chứng trên thế giới, tại các nước trong
khu vực châu Á, cũng như ban đầu tại Việt Nam cũng đã chỉ ra việc triển khai các hoạt động dạy bơi
và phòng chống đuối nước cho trẻ là hoàn toàn khả thi và góp phần giảm đuối nước ở trẻ em một
cách có hiệu quả.
Từ khóa: Đuối nước, phòng chống đuối nước, bơi an toàn, dạy bơi
Drowning intervention
for children
Pham Viet Cuong
Drowning is the second leading cause of unintentional injury worldwide. Drowning could affect all
age groups, but children under 15 years of age, especially those living in low and middle income
countries are at the highest risk. Drowning is the leading cause of death among children under 20
years of age in Viet Nam. It is estimated that there are from 20 to 30 drowning cases per day in the
country.
Drowning is preventable through appropriate intervention measures at or nearby home. Drowning
could also be prevented by teaching children safe swim and other safe-water skills
Evidences around the world and in Asia, as well as in Vietnam, also show that implementing safe
swim training and other interventions are feasible and potentially effective to prevent child drowning.
Key words: drowning, drowning intervention, safe swim, swim training
Nam năm 2001 [8] đã chỉ ra đuối nước là nguyên
nhân hàng đầu dẫn đến tử vong do chấn thương của
trẻ em từ 0-20 tuổi. Biểu đồ 2 bên dưới chỉ ra các
nguyên nhân khác nhau của tử vong do chấn thương
trên các nhóm tuổi và cho thấy đuối nước là nguyên
nhân gây tử vong hàng đầu trong mọi lứa tuổi đối
với các nhóm trẻ dưới 15 tuổi.
Tỷ suất đuối nước theo nghiên cứu VMIS là
39,2/100.000 trẻ - năm và theo ước tính từ nghiên
cứu này thì hàng năm ở Việt Nam sẽ có khoảng gần
10.000 trẻ em tử vong do đuối nước, và nguy cơ tử
vong ở trẻ em trai do đuối nước bao giờ cũng cao
hơn nhiều so với trẻ em gái (tỷ suất tương ứng 31,4
so với 9,8/100.000 trẻ). Các nghiên cứu cộng đồng
khác ở Việt Nam cũng chỉ ra các tỷ suất tương tự và
cũng khẳng đònh rõ ràng đuối nước là nguyên nhân
tử vong hàng đầu ở trẻ em dưới 18 tuổi ở Việt Nam.
Các nghiên cứu này cũng đã chỉ ra sự thiếu giám sát
của người lớn, môi trường thiếu an toàn, trẻ em
không biết bơi là những nguy cơ đuối nước ở trẻ em
[2-6, 17].
1. Đuối nước có thể được phòng ngừa?
Mô hình đuối nước ở Việt Nam cũng như các
nước trong khu vực châu Á có sự khác biệt rất lớn
so với các nước phát triển như Mỹ, Úc hay các nước
Tây Âu. Tại các nước này, đuối nước thường có mối
liên quan đến rượu, các nguy cơ trong nhà như bể
bơi, hoặc liên quan nhiều đến các hoạt động giải trí
như bơi lội, đi thuyền [7, 8]. Tuy nhiên, tại các nước
có thu nhập thấp và trung bình, đuối nước xảy ra
là có hiệu quả.
Chiến lược này được chia làm hai nhóm chính
để phù hợp với sự phát triển của các nhóm tuổi trong
đó khả năng bơi lội được coi là chủ chốt. (i) Chiến
lược phòng ngừa thứ nhất phù hợp đối với nhóm trẻ
dưới 5 tuổi. Chiến lược này sẽ tập trung vào phòng
ngừa các yếu tố nguy cơ đuối nước ở trẻ tại gia đình,
và tập trung vào việc tăng cường sự giám sát của
người lớn và cách ly các yếu tố nguy cơ với nước
trong hoặc gần nhà bằng các vật che/chắn hoặc rào
cản khác nhau. Chiến lược này có thể triển khai dựa
trên các mô hình can thiệp tại hộ gia đình hoặc cộng
đồng. (ii) Chiến lược dự phòng thứ 2 phù hợp cho
trẻ trên 5 tuổi, ở độ tuổi này rất khó có thể bảo vệ
và tránh cho trẻ tiếp xúc với những yếu tố có hại của
nước vì trẻ đã bắt đầu tham gia vào các hoạt động
vui chơi, đi học trong cộng đồng và biện pháp phù
hợp đó là loại bỏ yếu tố nguy cơ đuối nước bằng
cách dạy cho trẻ tập bơi. Trong chiến lược dự phòng
thứ 2 này trẻ từ 10 tuổi trở lên sẽ được cung cấp các
khả năng cứu người đuối nước và hồi sức tim phổi
/hô hấp nhân tạo (CPR).
2. Kỹ năng bơi an toàn: Một biện pháp
phòng ngừa thích hợp của đuối nước
Hiện tại thì chưa có bất kỳ một qui đònh thế nào
là khả năng bơi an toàn được thống nhất trên thế
giới. Tuy nhiên một số tiêu chuẩn được dùng chung
nhất tại các chương trình phòng chống đuối nước
cho trẻ em như Safe Swim, Survival Swim hoặc
Royal Life Saving [3] đó là trẻ được coi là có khả
cách và mọi lúc khi tham gia giao thông, đó là một
biện pháp phòng chống thụ động và được chứng
minh là có hiệu quả cao. Kỹ năng bơi lội cũng là
một biện pháp phòng ngừa thụ động, các kỹ năng
có thể được sử dụng trong trường hợp chúng rơi vào
nguy cơ và các kỹ năng này có thể phòng ngừa được
đuối nước. Điều này cũng có thể coi tương tự như
việc tiêm chủng phòng các bệnh truyền nhiễm, việc
Biểu đồ 3. Chiến lược phòng ngừa theo độ tuổi
(Nguồn: Dự án PRECISE/Bangladesh)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tạp chí Y tế Công cộng, 9.2009, Số 13 (13) 7
dạy kỹ năng bơi an toàn ngay từ những giai đoạn
đầu đời có thể giúp cho trẻ có được những khả năng
phòng được nguy cơ đuối nước trong suốt quãng đời
phát triển của trẻ.
3. Dạy bơi cho trẻ em ở Việt Nam và vai
trò của hệ thống y tế công cộng trong việc
triển khai chiến lược này
Các nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy khả năng
bơi của trẻ em là quá thấp. Nghiên cứu của UNICEF
cho thấy chỉ có 2,2% trẻ trên 15 tuổi biết và đã từng
học bơi [3], nghiên cứu tại Đà Nẵng năm 2006 cũng
cho thấy trong số trẻ tử vong do đuối nước cũng chỉ
có dưới 10% trẻ được tham gia học bơi, hoặc đã
được người nhà dạy [2].
Tại Việt Nam, bên cạnh các chương trình phòng
chống đuối nước cho trẻ tại gia đình, việc dạy bơi
cũng đã được triển khai tại một số tỉnh có nguy cơ
cao như Đồng Tháp, An Giang, Đà Nẵng và tại các
bơi đó là tạo ra những bể bơi theo tiêu chuẩn thể
thao vì chúng rất tốn kém. Tuy nhiên, để tạo ra một
bể bơi đủ tiêu chuẩn để dạy bơi an toàn thì chi phí
sẽ thấp hơn rất nhiều. Đã có nhiều giải pháp đơn
giản và phù hợp cho vấn đề này như tạo các bể bơi
tại các ao/hồ/biển ở Đồng Tháp, An Giang, Huế, Đà
Nẵng hoặc Bangladesh. Hoặc các bể bơi di động đủ
tiêu chuẩn tại các thành phố lớn như Đà Nẵng,
Bangkok. Những giải pháp này hiện đang phát huy
hiệu quả một cách tích cực trong việc dạy bơi cho
trẻ và chi phí để duy trì là hoàn toàn có thể chấp
nhận được ở cộng đồng.
- Khái niệm Bơi an toàn và dạy bơi là một biện
pháp được coi như "tiêm chủng" để phòng chống
đuối nước cho trẻ là những quan điểm rất mới. Do
vậy, việc hình thành khái niệm bơi an toàn phòng
chống đuối nước cho trẻ cần phải được sự hỗ trợ của
cha mẹ/cộng đồng và các cấp chính quyền có liên
quan. Hệ thống y tế công cộng cần phải có những
hoạt động triển khai can thiệp, chứng minh sự hiệu
quả và hơn nữa là sự vận động và hỗ trợ về hệ thống
trong việc triển khai hoạt động phòng chống đuối
nước cho trẻ em tại Việt Nam.
- Cuối cùng, chúng ta đều nhất trí rằng một can
thiệp cần phải có chí phí-hiệu quả tốt và phải được
hướng vào nhóm đối tượng đích. Khác với việc vào
bệnh viện, nơi mà quyết đònh chi trả là thuộc về cá
nhân và gia đình, các can thiệp Y tế công cộng cần
phải có sự ủng hộ của Chính phủ và các hệ thống
Nhà nước. Các chi phí để dạy bơi, tuyên truyền và
Dương, Thừa Thiên Huế và Đồng Tháp. in Hội nghò khoa
học quốc tế phòng chống tai nạn thương tích – xây dựng cộng
đồng an toàn. Hà Nội, Việt Nam.
7. UNICEF (2007). Báo cáo Quốc gia về tình hình thương
tích trẻ em trong năm 2001. Bộ Y tế: Hà Nội.
Tiếng Anh
8. Quan, L. and P. Cummings, Characteristics of drowning
by different age groups. Inj Prev, 2003. 9(2): p. 163-168.
9. Brenner, R.A., Prevention of drowning in infants, children
and adolescents. Pediatrics, 2003. 112(2): p. 440-445.
10. Brenner, R.A., G. Saluja, and G.S. Smith, Swmiming
lessons, swiming ability, and the risk of drowning. Injury
Control and Safety Promotion, 2003. 10(4): p. 211-215.
11. Brenner, R.A., et al., Association Between Swimming
Lessons and Drowning in Childhood: A Case-Control Study.
Arch Pediatr Adolesc Med, 2009. 163(3): p. 203-210.
12. Fang, Y., et al., Child drowning deaths in Xiamen city
and suburbs, People's Republic of China, 2001 5. Inj Prev,
2007. 13(5): p. 339-343.
13. Linnan, M., et al., Child Mortality and Injury in Asia, in
Innocenti Working Paper. 2007.
14. Murray, C.J.L. and A.D. Lopez, eds. The global burden
of Disease: A comprehensive assessment of mortality and
disability from diseases, injuries, and risk factors in 1990
and projected to 2020 1990: Geneva, Switzerland.
15.Organization, W.H., The global burdern of Disease: 2004
update. 2008: Geneva, Switzerland.
16. Organization, W.H. Factsheet on drowning. 2009
26/7/2009 [cited.
17. Rahman, A., et al., Analysis of the childhood fatal