Hoàn thiện quy trình gia công hàng may mặc xuất khẩu sang thị trường mỹ tại xí nghiệp may xuất khẩu Thanh Trì - Pdf 11

Luận văn tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá dất nớc,
ngành công nghiệp dệt may là một trong những ngành công nghiệp quan trọng,
không chỉ đảm bảo việc cung cấp sản phẩm dệt may cho nhu cầu trong nớc ngày
một tăng cả về số lợng và chất lợng, mà còn tạo điều kiện mở rộng thơng mại
quốc tế thông qua việc xuất khẩu hàng dệt may.
Hoạt động gia công xuất khẩu hàng may mặc, với đặc điểm mức vốn đầu t
không nhiều, có khả năng thu hút nhiều lao dộng, gia công theo các kiểu mẫu của
đơn đặt hàng, với thị trờng sẵn có và khá rộng đang là một trong những hoạt động
chủ yếu của công nghiệp dệt may nớc ta, cho phép chúng ta giải quyết công ăn
việc làm cho nhiều lao động, tạo nguồn thu ngoại tệ đáng kể góp phần tăng nguồn
vốn phục vụ cho công cuộc công nghiệp hoá.
Trong những năm qua, hoạt động gia công xuất khẩu hàng may mặc của nớc ta
ra thị trờng nớc ngoài nói chung và sàn thị trờng Mỹ nói riêng đã có nhiều tiến bộ
: với thị phần ngày càng lớn, mặt hàng phong phú hơn và doanh thu bằng ngoại tệ
tăng rõ rệt. Tuy nhiên, cũng còn không ít hạn chế đang là những cản trở đến việc
mở rộng quy mô, khả năng cạnh tranh và tính hiệu quả của hoạt động gia công
xuất khẩu hàng may mặc sang thị trờng Mỹ.
Xuất phát từ những vấn đề trên, trong thời gian thực tậptốt nghiệp tại xí
nghiệp may xuất khẩu Thanh Trì , em đã chọn đề tài nghiên cứu “ hoàn thiện quy
trình gia công hàng may mặc xuất khẩu ang thị trờng mỹ tại xí nghiệp may xuất
khẩu Thanh Trì “ làm luận văn tốt nghiệp.
Mục tiêu nghiên cứu: tông qua việc hệ thống hoá các lý luận về gia công hàng
may mặc xuất khẩu và phân tích đánh giá đúng dắn thực trạng quy trính gia
cônghàng may mặc xuất khẩu sang thị trường Mỹ cảu xí nghiệp, tìm ra được
những hạn chế trong hoạt động này và nguyên nhân của nó,từ đó đề xuất các giải
pháp nhằm góp phần thúc đẩy sự phát triển hoạt động gia công hàng may mặc
sang thị trường Mỹ.
Sinh viên: Trần Phương Thúy 1 Lớp: K38-E4
Luận văn tốt nghiệp

cầu của bên đặt gia công. Toàn bộ sản phẩm làm ra bên nhận gia công sẽ giao lại
cho bên đặt gia công để nhận về một khoản thù lao ( gọi là phí gia công ) theo
thoả thuận.
1.2. Dặc điểm của gia công quốc tế
- Gia công quốc tế là phương thức uỷ thác gia công, trong đó hoạt động xuất
nhập khẩu gắn liền với hoạt động sản xuất.
- Trong quá trình gia công, người nhận gia công trong nước bỏ ra lao động, tiền
chi phí gia công là thù lao lao động. Do đó có thể nói gia công hàng may mặc
xuất khẩu là hình thức mậu dịch lao động, là hình thức xuất khẩu lao động tại
chỗ.
- Gia công quố tế là phương thức buôn bán gia công “hai đầu ở ngoài “ nghĩa là
thị trường nước ngoài vừa là nơi cung cấp nguyên vật liệu đồng thời cũng là thị
trường tiêu thụ sản phẩm may mặc đó.
- Gia công quốc tế có những đặc điểm khác với hình thức mua nguyên vật liệu và
bán thành phẩm trong xuất khẩu trực tiếp (mua đứt bán đoạn ) :
+ Không có sự chuyển dịch quyền sở hữu, hoặc nếu có sự chuyển dịch quyền
sở hữu trong nhập khẩu nguyên liệu nhưng chúng đều thuộc một cuộc giao dịch,
các việc có liên quan đều được quy định trong cùng một hợp đồng. Gia công hàng
may mặc xuất khẩu thuộc về uỷ thác gia công, do dó người cung ứng nguyên liệu
lại chính là người tiếp nhận thành phẩm,
Sinh viên: Trần Phương Thúy 3 Lớp: K38-E4
Luận văn tốt nghiệp
+ Trong hoạt động gia công quốc tế, sản phẩm làm ra do bên đặt gia công tiêu
thụ, bên nhận gia công chỉ tổ chức sản xuất không phải chịu rủi ro trong quá trình
tiêu thụ sản phẩm. Tuy nhiên, lợi nhuận thu được từ hoạt dộng này không cao do
số tiền gia công chỉ là tiền thù lao lao động.
1.3. Phân loại gia công quốc tế
1.3.1. Căn cứ vào quyền sở hữu nguyên vật liệu
Hình thức nhận nguyên liệu giao thành phẩm :Theo hình thức này bên đặt
gia công giao nguyên liệu hoặc bán thành phẩm cho bên nhận gia công và sau

công. Hinh thức này áp dụng với những hàng mà bên nhận gia công không có khả
năng đảm nhận sản xuất toàn bộ sản phẩm hoặc tên của sản phẩm đã gắn liền với
danh tiếng của bên đặt gia công. Do đó hình thức này khai thác triệt để lợi thế
của bên nhận gia công về nhập khẩu sản xuất, giá cả lao động rẻ, trình độ tay
nghề, máy móc thiết bị đủ yêu cầu đáp ứng gia công tốt phần công đoạn đó.
Gia công hoàn chỉnh sản phẩm : Bên nhận gia công nhận nguyên vật liệu
và tiến hành gia công từ công đoạn đầu tiên đến công đoạn cuối cùng để tạo ra
sản phẩm hoàn chỉnh. Sau đó đóng gói, kẻ ký mã hiệu ( nếu có ) rồi chuyển giao
cho bên đạt gia công theo thoả thuận trong hợp đồng gia công. Hình thức này áp
dụng với các hàng hoá thông dụng không phải là mũi nhọn hiện thời của bên đặt
gia công và bên nhận gia công phải có đầy đủ năng lực để hoàn chỉnh sản phẩm.
Gia công chi tiết : Bên nhận gia công sẽ gia công một chi tiết sản phẩm mà
bên đặt gia công yêu cầu. Hình thức này thường được áp dụng đối với các sản
phẩm công nghiệp hoặc chi tiết đó có thể là ưu thế tuyêt đối của bên nhận gia
công.
1.3.5. Căn cứ theo nghĩa vụ của bên nhận gia công
CM ( Cutting and making ) người nhận gia công chỉ tiến hành pha cắt, chế
tạo và chỉnh trang sản phẩm theo yêu cầu của bên dặt gia công.
CMP ( Cutting, making and packing ) sau khi hoàn thành cắt và may sản
phẩm, bên nhận gia công phải đóng gói sản phẩm như đã được quy định trong
hợp đồng.
Sinh viên: Trần Phương Thúy 5 Lớp: K38-E4
Luận văn tốt nghiệp
CMT (cutting, making and trimming ) người nhận gia công phải cắt may và
thực hiện tất cả các công đoan liên quan đến hoàn thiện sản phẩm như : hồ, là…
CMPQ ( cutting, making, packing and quota ), ở hình thức này, nghĩa vụ
của bên nhận gia công nhiều hơn. Ngoài việc cắt, may và đóng gói sản phẩm,
người nhận gia công còn phải trả phí hạn ngạch theo quy định đối với những mặt
hàng được quản lí bằng hạn ngạch.
Một điều đáng chú ý là khi kí kết hợp đồng gia công phải tính tới số quota

hỏi nhiều nhân công, nhiều công đoạn tỉ mỉ ( nhưng không yêu cầu người lao
động phải có trình độ khoa học công nghệ cao ) từ những nước có nền công
nghiệp phát triển sang các nước mới phát triển có nguồn lao động nhiều và rẻ.
Bằng phương thức thuê gia công, nhà kinh doanh ở những nước phát triển đã
tiết kiệm đến mức tối đa chi phí đầu vào cho sản xuất. Đó là do chi phí lao động ở
nước ngoài thấp, còn nếu tự sản xuất trong nước thì chi phí nhân công cao khiến
giá thành sản phẩm tăng làm giảm sức cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường.
Nguồn gốc lợi nhuận từ nhà kinh doanh gia công quốc tế chính là từ phần
lao động thặng dư của người lao đông nước ngoài, mức lợi nhuận này cao hơn so
với lợi nhuận của cùng một số tư bản như vậy nhưng đầu tư ở trong nước.
- Một lợi thế khác là bên đặt gia công có thể chủ động điều chỉnh được nguồn
hàng để phục vụ cho yêu cầu kinh doanh của mình một cách có hiệu quả.
Người đi thuê gia công thường có thế mạnh là thị trường tiêu thụ hoặc là các
thị trường truyền thống, hoặc là các thị trường khó tính mà chỉ họ mơi đáp ứng
được. Cho nên khi thị trường phát sinh những yêu cầu lớn thì họ có thể dấp ứng
được ngay mà không phải bỏ thêm vốn đầu tư mở rộng phân xưởng sản xuát, thu
hút công nhân…một cách không cần thiết (đôi khi vì tốn thời gian nên mất cơ hội
làm ăn). Do vậy, họ vừa giữ được thị trường tiêu thu vừa tiết kiệm được vốn đầu
tư mà vẫn thu được lợi nhuận cao.
Trong quá trình gia công, bên đạt gia công còn có thể tạo thêm thị trường tiêu
thụ hàng hoá cho mình ngay tại nước nhận gia công. Những quy cách mẫu mã,
kiểu dáng, chất lượng của hàng hoá đạt gia công cũng có thể đáp ứng được thị
Sinh viên: Trần Phương Thúy 7 Lớp: K38-E4
Luận văn tốt nghiệp
hiếu số đông người tiêu dùng ở nước nhận gia công, dần dần đi tới chiếm lĩnh thị
trường tiêu thụ ở nước đó và các nước lân cận. Đây là thực tế các nhà hoạch định
chính sách cần quan tâm.
2.2. Đối với bên nhận gia công
Trong hoạt động gia công, bên nhận gia công chỉ phải bỏ ra sức lao động và
vốn cố định ( nhà xưởng, kho bãi…)

3.1. Hoạt động nghiên cứu thị trường và tìm đối tác
Khi nói đến hoạt động gia công xuất khẩu, nhiều người cho rằng việc nghiên
cứu thị trường là công việc của phía đặt gia công, tức là phía nước ngoài, còn phía
doanh nghiệp của ta chỉ lo sản xuất gia công theo yêu cầu. Quan điểm này chỉ
đúng trong việc nghiên cứu thị trường tiêu thụ của sản phẩm trong giai đoạn đầu
của hình thức gia công quốc tế. Còn hiện nay, khi mà chúng ta đã cung cấp được
một phần nguyên phụ liệu, trình độ tay nghề của công nhân cũng đã được nâng
cao, máy móc công nghệ đang được hiện đại hoá dần dần thì việc nghiên cứu, tiếp
cận thị trường là hoạt động hết sức cần thiết để tiến tới xuất khẩu trực tiếp. Mặt
khác, đặc điểm của gia công xuất khẩu là việc thực hiện hợp đồng thường kéo dài
rất lâu, nên nó chịu tác động rất lớn của môi trườmg kinh doanh trong nước và
quốc tế.
Môi trưòng kinh doanh quốc tế bao gồm các yếu tố và lực lượng gây ảnh
hưởng trực tiếp hay gián tiếp tới kinh doanh của doanh nghiệp. Đó là các yếu tố
rất dễ thay đổi tạo thành một dòng chảy liên tục tạo nên những cơ hội hay đe doạ
cho doanh nghiệp. Khi nghiên cứu môi trường, người ta nghiên cứu hai loại môi
trường cơ bản : Môi trường bên trong và môi trường bên ngoài.
Nghiên cứu môi trường bên ngoài để thông qua đó xác định các cơ hội và đe
doạ. Phân tich môi trường bên trong là để xác định các điểm yếu và điểm mạnh
cùa công ty. Điểm yếu và diểm mạnh ở đây là phải so sánh vơi đối thủ cạnh tranh,
từ đó có các phương thức thích hợp trước những cơ hội và đe doạ của môi trường
kinh doanh.
Sinh viên: Trần Phương Thúy 9 Lớp: K38-E4
Luận văn tốt nghiệp
Nghiên cứu thị trường thực chất là nghiên cứu các điều kiện kinh tế, luật pháp,
chính sách kinh tế đối ngoại, các điều kiện về tín dụng, tỷ giá hối đoái, điều kiện
về vận tải, giá cước, … trên từng thị trường.
Nhận thức được vấn đề này, nên hoạt đông nghiên cứu thị trường rất được các
doanh nghiệp chú trọng quan tâm.
3.2. Giao dịch đàm phán và kí kết hợp đồng

xong, chỉ cần xác nhận một vài thông tin…Sau khi trao đổi bằng điện thoại
cần có thư xác nhận nội dung đã đàm phán thoả thuận.
- Đàm phán bằng cách gặp gỡ trực tiếp : Hình thức đàm phán bằng cách gặp
gỡ trực tiếp thường được áp dụng khi đàm phán các hợp đồng lớn, hợp
đồng có tính chất phức tạp,hàng hoá có tính chất phức tạp hoặc các bên có
nhiều điều kiện phải trao đổi để thuyết phục nhau. Đây là hình thức đặc
biệt quan trọng, nó đẩy nhanh tốc độ giải quyết mọi vấn đề giữâ hai bên và
niều khi là lối thoát cho các hình thức đàm phán khác đã kéo dài quá lâu
mà không có kết quả.
Việc hai bên trực tiếp gặp gỡ nhau để đàm phán tạo đièu kiện cho hai bên hiểu
biết lẫn nhau và duy trì môi quan hệ lâu dài với nhau. Song đây cũng là hình thức
đàm phán khó nhất, yêu cầu người đàm phán phải am hiểu về nghiệp vụ, hàng
hoá và đố phương, nhanh chóng có biện pháp đối phó trong mọi trường hợp hoặc
quyết định ngay tại chỗ khi cần thiết.
Trong đàm phán trực tiếp cố gắng tránh để đối phương biết được ý đồ chiến
lược của mình thông qua ngữ cảnh đàm phán. Chuẩn bị kĩ lưỡng trước khi đàm
phán là việc làm hết sức quan trọng.
3.2.2. Kí kết hợp đồng
Phương thức kí kết hợp đồng gia công xuất khẩu thường có các loại sau :
- Nhà máy trực tiếp kí hợp đồng với hãng nước ngoài và làm toàn bộ cácc
quá trình của nghiệp vụ gia công quốc tế, tự thu chi phí lao động.
- Công ty kinh doanh xuất nhập khẩu độc lập kí hợp đồng gia công xuất khẩu
với hãng nước ngoài, sau đó giao nguyên vật liệu, linh kiện mà bên hãng
nước ngoài cung cấp cho nhà máy đã liên hệ để tiến hành gia công lắp ráp,
Sinh viên: Trần Phương Thúy 11 Lớp: K38-E4
Luận văn tốt nghiệp
thành phẩm do công ty xuất nhập khẩu phụ trách giao hàng và thu nhận chi
phí lao động. Quan hệ giữâ công ty xuất nhập khẩu và nhà máy được xử lý
dựa vào hợp đồng đã kí giữâ hai bên.
- Công ty xuất nhập khẩu đại diện nhà máy, tiến hành đàm phán, đối thoại, kí

3.2.3.4. Quy định về giá cả gia công
Giá cả gia công được xác định trên các yếu tố tạo thành như tiền thù lao gia
công, chi phí nguyên phụ liệu, tỷ lệ thứ phẩm, các chi phí mà bên nhận gia công
phải ứng trước trong quá trình tiếp nhận nguyên vật liệu, phu liệu và quá trình sản
xuất , gia công hàng hoá.
Quy định thù lao gia công là vấn đề hết sức quan trọng vì về bản chất gia công
xuất khẩu là hình thức xuất khẩu lao động tại chỗ. Tính toán khi quy định định
mức thù lao gia công, bên nhận gia công cần xem xét các nhân tố sau : giá cả lao
động quốc tế, giá thành thực tế gia công sản phẩm đó của mình, mức độ chênh
lệch về năng suất lao động so với các nước khác, các chi phí như vận chuyển, bảo
hiểm dùng trong quá trình gia công do ai chịu nhằm vừa đảm bảo lợi ích kinh tế
của mình vừa tăng cường sức cạnh tranh, tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước.
3.2.3.5. Quy định về nghiệm thu
Trong điều khoản này các bên phải thoả thuận về địa điểm nghiệm thu,
phương pháp kiểm tra hàng ( nguyên vật liệu và thành phẩm ), thời gian nghiệm
thu và chi phí nghiệm thu.
3.2.3.6. Quy định về thanh toán
Diều khoản về phương thức thanh toán là diều khoản quan trọng được các bên
quan tâm khi thoả thuận ký kết hợp đồng. Nó quy định phương thức trả tiền, địa
điểm, thời điểm trả tiền, đồng tiền thanh toán. Trong hợp đồng gia công quốc tế,
các bên có thể áp dụng nhiều phương thức thanh toán khác nhau như : thanh toán
bằng thư tín dụng, chấp nhận trả tiền đổi lấy chứng từ, phương thức chuyển
tiền… Song dù bất kì hình thức thanh toán nào thì trong điều khoản này cũng quy
định chính xác ngày tiến hành thanh toán một phần hoặc toàn bộ hợp đồng.
3.2.3.7. Quy định về việc giao hàng:
Sinh viên: Trần Phương Thúy 13 Lớp: K38-E4
Luận văn tốt nghiệp
Điều khoản này quy định chính xác thời gian giao nguyên liệu chính và phụ,
thời gian giao sản phẩm. Đây là điều khoản quan trọng đảm bảo cho hợp đồng
được thực hiện đúng hạn không gây mất ổn định trong sản xuất kinh doanh, ảnh

thiết bị, máy móc cho bên nhận gia công; việc đào tạo thợ chuyên môn làm hàng
gia công; thưởng phạt; việc giải quýet tranh chấp…
3.3. Tổ chức thực hiện hợp đồng gia công
3.3.1. Thủ tục hải quan nhận nguyên vật liệu
3.3.1.1. Thủ tục tiếp nhận hợp đồng gia công
Sau khi kí hợp đồng gia công, hai bên tham gia hợp đồng phải thực hiện
những nghĩa vụ của mình như đã thoả thuận trong hợp đồng. Bên đặt gia công
phải tiến hành gửi nguyên phụ liệu để bên nhận gia công tiến hành gia công. Bên
nhận gia công phải tiến hành xin giấy phép gia công hàng xuất khẩu để đưâ số
nguyên phụ liệu đó vào trong nước.
Đầu tiên bên nhận gia công phải làm xuất trình hợp đồng gia công xuất khẩu
với cơ quan hải quan chậm nhất là 03 ngày làm việc trước khi làm thủ tục nhập
khẩu lô hàng đầu tiên thuộc hợp đồng. Theo nghị định 57/NĐ-Cp 31/07/1998.
Bộ hồ sơ xuất trình gồm :
- Hợp đông gia công và các phụ kiện kèm theo ( nếu có ) : 02 bản
- Bản sao giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh hoặc giấy phép đầu tư đối với
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ( nếu đăng kí lần đầu )
- Văn bản chấp nhận của Bộ Thương Mại nếu mặt hàng gia công thuộc danh
mục nhà nước Việt Nam cấm xuất nhập khẩu và tạm ngừng xuất nhập khẩu.
- Giấy chứng nhận của cục sở hữu công nghiệp Việt Nam ( đối với nhãn hiệu
hàng hoá và tên gọi, xuất xứ hàng hoá đã được đăng kí bảo hộ tại Việt Nam ).
Trách nhiệm của cơ quan hải quan khi tiếp nhận hợp đồng gia công và cho
phép gia công hàng xuất khẩu.
- Tiếp nhận hợp đồng gia công phù hợp với quy định của nghị định 57/NĐ-CP
quy định về gia công hàng xuất khẩu.
- Đóng dấu “ ĐÃ TIẾP NHẬN “ lên hợp đồng và các tài liệu kèm theo. Tron
thời gian không quá hai ngày làm việc kể từ khi nhận hồ sơ xin phép gia công
Sinh viên: Trần Phương Thúy 15 Lớp: K38-E4
Luận văn tốt nghiệp
hàng xuất khẩu hợp lệ của doanh nghiệp, cơ quan hải quan lưu lại một bản để

- Chuẩn bị các chứng từ để nhận hàng
- Kí kết hợp đồng uỷ thác cho cơ quan ga, cảng về việc giao nhận hàng từ
nước ngoài về.
- Xác nhận với cơ quan ga, cảng về kế hoạch giao nhận hàng, lịch tàu, cơ cấu
mặt hàng, điều kiện kĩ thuật khi bốc dỡ giao nhận và bảo quản hàng hoá.
- Cung cấp các taqì liệu cần thiết cho việc giao nhận hàng như vận đơn, lệnh
giao hàng ( D/O ) …
- Tiến hành nhận hàng: nhận về số lượng, xem xét sự phù hợp về tên hàng,
chủng loại kích thước thông số kĩ thuật, chất lượng bao bì, kí hiệu của hàng hoá
so với yêu cầu đã thoả thuận trong hợp đồng. Người nhập khẩu phải kiểm tra,
giám sát việc giao nhận, phát hiện các sai phạm và sử lí các tình huống phát sinh.
- Thanh toán chi phí giao nhận bốc xếp, boả quản hàng cho cơ ưuan cảng, ga.
* Nhận hàng chuyên chở bằng Container
- Nhận vận đơn và các chứng từ khác
- Trình vận đơn và các chứng từ khác ( hoá đơn thương mại, phiếu đóng gói
…) cho hãng tàu để đổi lấy lệnh giao hàng ( D/O)
- Nhà nhập khẩu đến bãi Container hoạc trạm để nhận hàng. Nếu hàng đủ
container (FCL), người nhập khẩu muốn nhận container về kiểm tra lại tại kho
riêng thì trước đó phải làm đơn đề nghị với cơ quan hải quan, đồng thời với hãng
tàu để mượn container. Khi được chấp thuận chủ hàng kiểm tra niêm phong, kep
chì của contianer, vận chuyển container về kho riêng, sau đó hoàn trả container
cho hãng tàu. Nếu hàng không đủ container (LCL), cảng cho container có nhiều
hàng nhất mang về cơ sở để bốc dỡ, phân chia với sự giám sát của hải quan. Nếu
cảng là người mở container thì nhà nhập khẩu làm thủ tục như nhận hàng lẻ.
3.3.2.2. Kiểm tra nguyên liệu
Đối với nguyên liệu để gia công cũng như hàng hoá nhập khẩu ở khâu tiếp
nhận đều phải qua khâu kiểm ra và có biên bản xác nhận.
Nội dung kiểm tra :
Sinh viên: Trần Phương Thúy 17 Lớp: K38-E4
Luận văn tốt nghiệp

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, viẹc ai thuê tàu, thuê tàu theo hình thức
nào dựa vào bao căn cứ chủ yếu ;
- Điều kiện cơ sở giao hàng của hợp đồng nhập khẩu
- Khối lượng hàng hoá và đặc điểm hàng hoá
- Điều kiện vận tải
Ngoài ra còn phải căn cứ vào các diều kiện khấc trong hợp đồng nhập khẩu
như: quy định mức tải trọng tối đâ của phương tiện, mức bốc dỡ …
Nếu điều kiện cơ sở giao hàng của hợp đồng là điều kiện CFR, CIF, CPT, CIP,
DAF, DES, DDU, DDP thì người xuất khẩu phải tiến hành thuê phương tiện vận
tải. Còn nếu điều kiện cơ sở gioa hàng là EXW, FCA, FAS ,FOB thì người nhập
khẩu phải tiến hành thuê phương tiện vận tải
Tuỳ theo đặc điểm hàng hoá kinh doanh, doanh nghiệp lựa chọn phương thức
thuê tàu cho phù hợp: Thuê tàu chợ, tàu chuyến, hay tàu bao . Nếu nhập khẩu
thường xuyên với khối lượng lớn thì thuê tài bao, nếu nhập khẩu không htượng
xuyên nhưng với số lượng lớn thì thuê tàu chuyến, nếu nhập khaaur với số lượng
nhỏ thì thuê tàu chợ.
Do thuê tàu phải lưu cước là một nghiệp vụ phức tạp đòi hỏi phải có kinh
nghiêm, có thông tin về tình hình vật giá và giá cước, hiểu biết tinh thông về các
điều kiện của hợp đồng thuê tàu, nên trong nhiều trường hợp đơn vị kinh doanh
xuất nhập khẩu phải uỷ thác thuê tàu cho môi giới
3.3.5. Mua bảo hiểm cho hàng hoá
Trong thương mại quốc tế hàng hoá phải vận chuyển đi xa, trong những điều
kiện phức tạp hàng hoá dễ bị hư hỏng mất mát, tổn thất trong quá trình vận
chuyển. Chính vì vậy các người kinh doanh thương mại quóc tế thường mua bảo
hiểm cho hàng hoá để giảm bớt rủi ro có thể xảy ra,
* Nghiệp vụ mua bảo hiểm
- Xác định nhu cầu bảo hiểm,.
+ Các điều kiện bảo hiểm.
Sinh viên: Trần Phương Thúy 19 Lớp: K38-E4
Luận văn tốt nghiệp

báo hải quan gồm : Tên hàng, kí mã hiệu, phảm chất, số lượng, khối lượng, đơn
giá, tổng giá trị, xuất xứ hàng hoá cùng các chứng từ liên quan khác.
- Xuất trình hàng hoá : Hàng hoá xuất nhập khẩu phải được sắp xếp trật tự,
thuận tiên cho việc kiểm soát…Yêu cầu của việc xuất trình hàng hoá là sự trung
thực của hàng.
- Thực hiện các quyết định của hải quan :Sau khi kiểm tra giấy tờ và hàng hoá
sẽ có một ttong các quyết định sau :
+ Cho hàng hoá đi xác nhận đã làm thủ tục hải quan
+ Cho hàng hoá đi nhưng phải nộp thuế (nếu hàng thuộc dạng phải nộp thúê)
+ Cho hàng đi nhưng phải bổ sung giấy tờ ( nếu giất tờ thủ tục không hợp
lệ )
+ Giữ hàng lại không cho xuất hoặc nhập khẩu (nếu hàng thuộc diện cấm
xuất , chưâ được sự chấp nhận của Bộ Thương Mại)
Bộ hồ sơ đăng kí làm thủ tục hải quan được thực hiện như đối với các hàng
hoá xuất khẩu khác. Ngoài ra, bên nhận gia công phải xuất trình mẫu nguyên vật
liệu đã niêm phong hải quan để hải quan làm thủ tục đối chiếu với nguyên vật liệu
cấu thành trên sản phẩm.
Trường hợp trong hợp đồng gia công có quy định về việc xuất trả nguyên vật
liệu dư thừa cho bên dặt gia công thì thủ tục hải quan khi xuất trả nguyên liệu
cần có thêm 01 bản sao có xác nhận của bên nhận gia công về yêu cầu xuất trả.
Sau khi đã hoàn thành tất cả các thủ tục hải quan cho việc xuất khẩu hàng gia
công. Hàng hoá sẽ được giao cho tàu hặc đại lí vận tải.
3.3.8. Giao sản phẩm
Hàng gia công xuất khẩu thường được vận chuyển bằng nhiều phương thức
khác nhau, có thể được giao bằng đường biển, băng container, bằng đường hàng
không.
* Nếu thành phẩm được giao bằng tàu biển, doanh nghiệp phải tiến hành các
bước như sau :
Sinh viên: Trần Phương Thúy 21 Lớp: K38-E4
Luận văn tốt nghiệp

Luận văn tốt nghiệp
phải xuát trình cho ngân hàng để uỷ thác cho ngân hàng để thu tiền sau khi kiểm
tra chứng từ trong một thời gian nhất định. Chứng từ thanh toán cần được lập hợp
lệ, chính xác và được nhanh chóng giao cho ngân hàng để sớm thu được thù lao
gia công. Nếu trong thời gian kiểm tra chứng từ, bên đặt gia công không có lí do
chính đáng từ chối thanh toán thì ngân hàng xem như yêu cầu thu tiền là hợp lệ.
Quá thời hạn quy định cho việc kiểm tra chứng từ, tranh chấp giữa bên đặt gia
công và bên nhận gia công về việc thanh toán sẽ được giải quyết giữa các bên
hoặc bằng trọng tài theo thoả thuận đã ghi trong hợp đồng.
3.3.10. Khiếu nại và giải quyết khiếu nại ( nếu có )
Khi thực hiện hợp đồng gia công xuất khẩu, nếu một bên có vấn đề cần phải
khiếu nại về nguyên vật liệu hay thành phẩm thì phải :
- Để nguyên hiệ trạng hàng hoá đồng thời báo cho bên kia biết để kiểm tra lại.
- Lập biên bản giám định tất cả những sai sót được phát hiện với sự tham gia của
cơ quan giám địn theo toả thuận trong hợp đồng.
- Gửi biên bản giám định cùng đơn khiếu nại cho bên kia.
Hai bên có thể gặp nhau cùng thoả thuận, trao đổi cùng nhau giải quyết vấn đề
khiếu nại sao cho thoả mãn nguyện vọng và yêu cầu của cả hai bên trong thời
gian ngắn nhất. Nếu việc khiếu nại không được giải quyết thoả đáng, các bên có
thể đưâ ra hội đồng trọng tài giải quyết.
3.3.11. Thanh khoản hợp đồng gia công
Sau khi làm xong tất cả các thủ tục thanh toán cần tihiết, nếu không có tranh chấp
hoặc khiếu nại nào thì bên nhận gia công sẽ tiến hành thanh khoản hợp đồng. Việc
thanh khoản hợp đồng được tiến hành với cơ quan hải quan, hồ sơ thanh khoản gồm:
- Bảng tổng số nguyên phụ liệu dẫ nhập
- Định mức nguyên phụ liệu đã sử dụng cho từng mã hàng
- Bảng tổng số nguyên phụ liệu đã xuất khẩu
Trên cơ sở các bảng định mức đã có, cơ quan hải quan sẽ xác định được số
nguyên phụ liệu nhập vào thừa hay thiếu để có phương hướng giải quyết. Thông
Sinh viên: Trần Phương Thúy 23 Lớp: K38-E4

nước tìm kiếm thị trường và đối tác làm ăn từ nhiều nước trên thế giới.
Trong xu thế hội nhập và phát triển đó, năm 1996, xí nghiệp may xuất khẩu
Thanh Trì được thành lập theo quyết định số 2032/QĐ-UB ngày 13/6/1996. Xí
nghiệp may xuất khẩu Thanh Trì là đơn vị trực thuộc tổng công ty sản xuất dịch
vụ xuất nhập khẩu tổng hợp Hà Nội ( Haprosimex ). Kể từ ngày có quyết định
thành lập, xí nghiệp có tư cách pháp nhân, có con dấu và trụ sở riêng, có tài
khoản mở tại ngân hàng Vietcombank Hà Nội, và là đơn vị hạch toán độc lập.
Để có thể đi vào hoạt động ngay sau khi có quyết định thành lập thì trước
đó, vào năm 1993, cơ sở hạ tầng của xí nghiệp gồm nhà xưởng, văn phòng,
Sinh viên: Trần Phương Thúy 25 Lớp: K38-E4

Trích đoạn Nhận và kiểm tra nguyờn vật liệu 1 Nhận nguyờn vật liệu Tổ chức gia cụng Làm thủ tục hải quan xuất sản phẩm Giao thành phẩm Tiến hành cụng tỏc thanh khoản hợp đồng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status