Về thị trờng Mỹ và triển vọng xuất khẩu hàng hoá của Việt nam sang thị trờng Mỹ
lời mở đầu
Cho đến nay , Việt nam đã ký hiệp định thơng mại với trên 100 quốc gia và
vùng lãnh thổ , nhng việc ký kết hiệp định thơng mại Việt - Mỹ ngày 13-7-2000 tại
thủ đô Washington đợc đánh giá là có ý nghĩa quan trọng đặc biệt , đánh dấu một b-
ớc tiến mới trên con đờng hội nhập của Việt nam .
Với dân số chỉ khoảng 265 triệu dân, nhng do thu nhập quốc dân cao nên
Mỹ hiện là thị trờng có sức mua lớn nhất trên thế giới . Hầu hết các loại hàng hoá
của toàn bộ các quốc gia trên thế giới đều đợc xuất khẩu vào thị trờng Mỹ . Khả
năng xuất nhập khẩu của Hoa Kỳ đã lên trên 1000 tỷ USD mỗi năm , chiếm 1/4 khả
năng xuất nhập khẩu của toàn cầu và chiếm khoảng 18% tổng thơng mại thế giới .
Đây là một thị trờng khổng lồ tuy luật lệ phức tạp và có nhiều loại luật khác nhau
nhng nhìn chung là khá thông thoáng và hấp dẫn ( trừ một số mặt hàng có hạn
ngạch và quy định về tiêu chuẩn vệ sinh , môi trờng ). Chỉ cần đợc ngời tiêu dùng
chấp nhận là họ có thể sẽ nhận đợc những đơn đặt hàng lớn , lâu dài với mức lợi
nhuận tơng đối hấp dẫn.
Bên cạnh đó , Mỹ còn có ảnh hởng rất lớn đến nền kinh tế toàn cầu , hoạt
động của nhiều tổ chức quốc tế nh WTO, IMF, WB, ADB đều có vai trò quan trọng
của Mỹ.
Kinh nghiệm của một số quốc gia đang phát triển nh Thái lan, Mêhicô, Trung
quốc cho thấy việc mở rộng quan hệ thơng mại với Mỹ không những sẽ tạo điều kiện
thuận lợi để các doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trờng Mỹ, tăng kim
ngạch xuất khẩu, nhanh chóng tiếp cận đợc với một thị trờng rộng lớn, đa dạng, có
tiềm lực khoa học công nghệ mà còn giúp nền kinh tế Việt nam hội nhập với nền
kinh tế khu vực và thế giới nhanh chóng hơn và hiêụ quả hơn.
Vậy làm thế nào để các doanh nghiệp Việt nam (DNVN) có thể thâm nhập
vào thị trờng Mỹ? Đó là câu hỏi đang đợc rất nhiều ngời quan tâm, đặc biệt là sau
1
khi hiệp định TM có hiệu lực. Trong một chừng mực nào đó bài viết này sẽ góp phần
giải quyết có hiệu quả vấn đề trên.
Nội dung của bài viết bao gồm hai phần lớn:
doanh nghiệp Mỹ Fax, Email sang hỏi về một mặt hàng mà DNVN không có cũng nên
Fax, Email lại cho họ nói rõ (DN chỉ cần trả lời khoảng 20 chữ trở lại là vừa lòng họ).
Rất không nên lờ đi vì rất có thể họ sẽ liên hệ lại tìm hiểu khả năng cung cấp , làm gia
3
công những mặt hàng mà DN có thế mạnh. Một vấn đề
nữa là trong đàm phán, nếu ngời kinh doanh đi thơng lợng hợp đồng mà phải thông
qua phiên dịch thì khó gây cho họ một thiện cảm , tín nhiệm để làm ăn lâu dài. Vì vậy,
biết tiếng Anh là một yêu cầu bức xúc khi làm ăn với doanh nhân Mỹ.
Trên đây là một vài nét cơ bản trong văn hoá kinh doanh của ngời Mỹ mà trong
thời gian qua các DNVN rất hay vấp phải. Những việc tởng chừng nh nhỏ nhặt vậy nh-
ng đôi khi lại gây ra những thiệt hại rất lớn không chỉ về lợi nhuận mà còn về vấn đề uy
tín làm ăn về sau. Chú ý nắm bắt rút kinh nghiệm sẽ giúp các DNVN có chỗ đứng vững
hơn trong mắt các đối tác Mỹ.
Vấn đề thứ hai, cũng rất quan trọng, đặc biệt là trong kinh doanh quốc tế đó là
nắm bắt thị hiếu của khách hàng. Trớc hết phải thấy rằng Mỹ là một dân tộc chuộng
mua sắm và tiêu dùng. Họ có tâm lý là càng mua sắm nhiều càng kích thích sản xuất và
dịch vụ tăng trởng, do đó nền kinh tế sẽ phát triển. Ngày nay , tâm lý này không chỉ của
riêng nền kinh tế Mỹ mà còn có tác động sâu rộng đến các nhà xuất khẩu trên toàn
thế giới.
Hàng hoá dù chất lợng cao hay vừa đều có thể đợc bán trên thị trờng Hoa kỳ vì
các tầng lớp dân c ở nớc này đều tiêu thụ nhiều hàng hoá. Các nớc đang phát triển và
Việt nam khi xuất hàng vào thị trờng Hoa kỳ cần phải lấy yếu tố giá cả làm trọng, mẫu
mã có thể không quá cầu kỳ nhng phải đa dạng và hợp thị hiếu.
Những đặc điểm riêng về địa lý và lịch sử đã hình thành nên một thị trờng ngời
tiêu dùng khổng lồ và đa dạng nhất thế giới. Tài nguyên phong phú, không bị ảnh h-
ởng nặng nề của hai cuộc chiến tranh thế giới cộng với chiến lợc phát triển kinh tế lâu
dài đã tạo cho Hoa kỳ một sức mạnh kinh tế khổng lồ và thu nhập cao cho ngời dân.
Với thu nhập đó, việc mua sắm đã trở thành nét văn hoá không thể thiếu trong văn hoá
hiện đại của nớc này. Cửa hàng là nơi họ đến mua hàng, dạo chơi, gặp nhau, trò
chuyện và mở rộng giao tiếp xã hội. Qua thời gian, ngời tiêu dùng Hoa kỳ gần nh tin t-
5
Nh phần trên đã trình bày, Mỹ là một thị trờng khổng lồ với sức mua lớn, nhu
cầu đa dạng. Đây là một thị trờng xuất khẩu đầy tiềm năng đối với toàn bộ các nớc
trên thế giới, trong đó có Việt nam.
Tuy nhiên, để thành công, nhà xuất khẩu phải nắm đợc một điểm hết sức cơ bản là hệ
thống chính sách luật lệ và thủ tục của chính quyền liên bang liên quan đến tiếp cận
thị trờng.
ở Mỹ có nhiều quy định chặt chẽ và chi tiết trong buôn bán: các quy định về kỹ
thuật, chất lợng Vì thế khi ch a nắm rõ hệ thống các quy định, luật lệ này các nhà
xuất khẩu thờng thấy rất khó làm ăn ở thị trờng này.
Tại thị trờng Mỹ, mậu dịch đợc thực hiện tự do không đòi hỏi giấy phép. Hàng
hoá nhập khẩu của Mỹ chỉ cần theo đúng quy định: doanh nghiệp nhập khẩu hàng hoá
làm thủ tục đăng ký và nộp thuế. Chỉ có vài chủng loại hàng hoá phải có giấy phép
nhập khẩu đặc biệt nh vũ khí, chất phóng xạ
Luật pháp Mỹ quy định các nhãn hiệu hàng hoá phải đợc đăng ký tại cục hải
quan Mỹ. Dấu hiệu nớc sản xuất bắt buộc phải có đối với tất cả hàng hoá nhập khẩu
vào Mỹ. Dấu hiệu này phải đợc viết bằng tiếng Anh và rõ ràng. Có thể ghi MADE
IN ; ASSEMBLE IN ; hoặc PRODUCT OF . Hàng hoá mang nhãn hiệu giả hoặc
sao chép, bắt chớc một nhãn hiệu đã đăng ký bản quyền của một công ty Mỹ hoặc một
công ty nớc ngoài đã đăng ký bản quyền đều bị cấm nhập khẩu vào Mỹ. Bản sao đăng
ký nhãn hiệu hàng hoá phải nộp cho cục hải quan Mỹ và đợc lu giữ theo quy định.
Hàng nhập khẩu vào Mỹ có nhãn hiệu giả hoặc sao chép các thơng hiệu đã đăng ký
mà không đợc phép của ngời có bản quyền sẽ bị bắt giữ và tịch thu.
Tiêu chuẩn thơng phẩm đối với hàng hoá nhập khẩu vào Mỹ đợc quy định rất chi tiết
và rõ ràng đối với từng nhóm hàng. Ví dụ, theo quy chế của Tổ chức nông nghiệp và
nông sản Mỹ thì nông sản. thực phẩm, tân dợc phải đ ợc kiểm định, có dấu, có ghi
thời hạn sử dụng, một số loại trái cây phải bảo đảm kích cỡ; một số mặt hàng điện tử,
dân dụng phải đảm bảo tiêu chuẩn tiết kiệm điện năng; đồ chơi trẻ em phải an toàn
Trên bao bì của sản phẩm phải ghi rõ quy cách, hớng dẫn sử dụng và cảnh báo, chẳng
6
vào Mỹ đợc hởng mức thuế quan thấp trong một thời gian nhất định, nếu vợt quá sẽ bị
đánh thuế cao.
Hạn ngạch phi thuế quan quy định số lợng hàng hoá đợc phép nhập khẩu trong
một thời gian xác định, nếu vợt quá sẽ không đợc phép nhập khẩu.
Có thể thấy rằng các nhà kinh doanh tại thị trờng Mỹ phải chấp nhận cạnh
tranh rất gay gắt nh nhiều ngời mô tả là: một mất một còn. Cái giá phải trả cho sự
nhầm lẫn là rất lớn, ngời tiêu dùng Mỹ nôn nóng nhng lại mau chán vì thế nhà sản
xuất phải sáng tạo và thay đổi nhanh đối với sản phẩm của mình, thậm chí phải có
phản ứng trớc .
Có thể tiếp cận thị trờng Mỹ thông qua một trong hai cách: bán hàng trực tiếp
cho ngời mua hoặc bán hàng thông qua đại lý. Lựa chọn cách nào là tuỳ thuộc mỗi
doanh nghiệp. Đa ra đợc và có quyết tâm thực hiện mục tiêu xuất khẩu của mình là
doanh nghiệp đã thành công bớc đầu trên con đờng tiến tới chinh phục thị trờng Mỹ.
2. Triển vọng xuất khẩu hàng hoá của Việt nam vào thị
trờng Mỹ.
Kể từ khi tổng thống Mỹ Bill Clinton chính thức tuyên bố bãi bỏ lệnh cấm vận
TM và nối lại quan hệ mậu dịch với Việt nam (3-2-1994), sau đó hai nớc chính thức
thực hiện bình thờng hoá quan hệ ngoại giao (11-7-1995) đến nay, song song với việc
giải quyết các vấn đề quá khứ gây cản trở đến tiến trình bình thờng hoá hoàn toàn
quan hệ kinh tế thơng mại, Việt nam và Hoa kỳ đã từng bớc thiết lập những cơ sở
pháp lý cần thiết cho việc mở rộng các quan hệ kinh tế thơng mại song phơng
thông qua việc ký kết các hiệp định, văn bản pháp lý.
Có thể kể ra một số mốc thời gian đáng chú ý trong tiến trình thiết lập quan hệ TM
Việt nam Hoa kỳ nh sau:
*5-8-1995: Bộ trởng ngoại giao Mỹ đến thăm Việt nam.
*10-1995: Chủ tịch nớc CHXHCN Việt nam dự lễ kỷ niệm 50 thành lập Liên
Hiệp Quốc và lần đầu tiên thăm Mỹ, tiếp xúc với nhiều quan chức cấp cao của chính
8
quyền Mỹ. Hội đồng thơng mại Mỹ tổ chức Hội nghị về bình thờng hoá quan hệ, bớc
tiếp theo trong quan hệ Việt- Mỹ.
triển khai đờng lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phơng hoá, đa dạng hoá của
Đảng và nhà nớc Việt Nam và là một bớc mới trong quá trình Việt nam chủ động hội
nhập với nền kinh tế thế giới . Hoa kỳ cũng đánh giá hiệp định này là một bớc tiến
quan trọng của việc Việt nam tham gia tổ chức thơng mại thế giới và khẳng định tích
cực ủng hộ Việt nam tham gia tổ chức này.
Trên cơ sở các nguyên tắc của tổ chức thơng mại thế giới (WTO) trong khi đàm
phán , hai bên đã thống nhất với nhau 5 nguyên tắc:
*Bình đẳng cùng có lợi.
*Không phân biệt đối xử, dành cho nhau quy chế Tối huệ quốc.
*Tuân thủ pháp luật và thông lệ quốc tế.
*Tính đến điều kiện của Việt nam là nớc đang phát triển, có thu nhập
thấp và đang chuyển đổi sang cơ chế thị trờng Việt nam cần có thời kỳ chuyển đổi để
điều chỉnh luật lệ, chính sách của mình cho phù hợp với các chuẩn mực quốc tế.
*Quan hệ hai nớc sẽ xây dựng tơng tự nh Mỹ đã xây dựng với các nớc
khác, Mỹ đòi hỏi Việt nam không hơn những điều Mỹ đòi hỏi các nớc khác.
Trong điều kiện hiệp định đợc phê chuẩn, hàng hoá Việt nam sẽ đợc cạnh tranh
lành mạnh với hàng hoá của các nớc khác và hàng hoá của Hoa kỳ trên một sân chơi
công bằng. Bởi khi đợc hởng quy chế u đãi Tối huệ quốc thì mức thuế bình quân hàng
xuất khẩu của Việt nam sẽ giảm từ 40-50% còn khoảng 3%. Nhờ vậy, theo ớc tính của
ngân hàng thế giới, xuất khẩu của Việt nam sang Mỹ năm đầu tiên sau khi phê chuẩn
hiệp định có thể tăng lên khoảng 1,3 tỷ USD tức là gần gấp đôi so với mức của năm
2000, đạt 3 tỷ USD vào năm 2005 và 8 tỷ USD năm 2010
Rõ ràng là hiệp định thơng mại Việt- Mỹ sẽ mở ra cơ hội làm ăn, hợp tác mới
cho các nhà đầu t Mỹ tại Việt nam. Đồng thời cũng có tác động tích cực trong khuyến
khích đầu t nớc ngoài vào Việt nam vì họ coi Việt nam là cầu nối để từ đó hàng hoá
10
của họ xuất khẩu vào thị trờng Hoa kỳ với mức thuế thấp. Với điều này, hàng hoá đợc
sản xuất ở Việt nam sẽ tăng cả về số lợng và chất lợng , cơ hội nâng cao tổng kim
ngạch hàng xuất sang Mỹ cũng vì thế mà tăng lên.
Chúng ta biết rằng, với mô hình đàn sếu bay Mỹ chú trọng vào phát triển
Việc phê chuẩn hiệp định thơng mại cũng giúp Việt nam tiến gần hơn đến việc
đợc hởng chế độ u đãi thuế quan phổ cập chung (GSP) của Hoa kỳ áp dụng mức thuế
suất bằng 0 cho 4284 mặt hàng xuất khẩu từ các nớc đang phát triển .
Tuy nhiên, cần phải khẳng định một điều là không phải mọi mặt hàng xuất khẩu
đều có khả năng tăng nhiều là nhờ vào việc chuyển sang mức thuế mới. Đơn cử các
mặt hàng nông sản nh cà phê nhân , tiêu và dầu thô đã đ ợc hởng mức thuế suất rất
thấp gần 0% kể từ năm 94 khi Hoa kỳ bỏ cấm vận với Việt nam. Triển vọng tăng kim
ngạch xuất khẩu là do tự bản thân hàng hoá có sức cạnh tranh nếu đợc sự quan tâm,
đầu t, quy hoạch hợp lý.
Chơng II
Thực trạng xuất khẩu hàng hoá của Việt
nam sang Mỹ và việc đáp ứng nhu cầu thị
trờng Mỹ của các DNVN
1. Thực trạng xuất khẩu hàng hoá của Việt nam sang thị tr-
ờng Mỹ.
12
Từ khi chính phủ huỷ bỏ lệnh cấm vận đối với Việt nam đến nay, mặc dù cha đ-
ợc hởng quy chế MFN trong quan hệ thơng mại với Mỹ, nhng hoạt động thơng mại
giữa Mỹ và Việt nam vẫn phát triển liên tục cán cân thơng mại của Việt nam và Mỹ từ
thâm hụt đã chuyển sang tình trạng thặng d trong những năm gần đây: Bảng
1: Thơng mại Việt nam Hoa kỳ 1994-2000.
Đơn vị : Triệu USD.
Năm XKVn sang Mỹ NKVn từ Mỹ Tổng KN buôn bán Cán cân TM
1994 50.45 172.22 222.67 -121.77
1995 198.97 252.86 451.83 -53.89
1996 319.04 616.05 935.09 -297.01
1997 388.19 277.79 665.98 +110.40
1998 553.441 274.22 827.63 +279.19
1999 601.90 277.30 879.20 +324.60