Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ - Pdf 11

MỞ ĐẦU
Tính tất yếu của đề tài
Được biết đến là một cường quốc kinh tế hàng đầu trên thế giới. Với dân số
đông, diện tích địa lý trải rộng, môi trường đa văn hoá, đa chủng tộc. Kim ngạch
nhập khẩu hàng năm lên tới 1750 tỷ USD chiếm ≈ 20% tổng kim ngạch nhập khẩu
toàn thế giới. Thị trường Hoa Kỳ thực sự hấp dẫn với bất kì doanh nghiệp nào: Thu
nhập Quốc dân GDP luôn duy trì ở mức cao, thu nhập bình quân đầu người cao, nhu
cầu tiêu dùng đối với các loại hàng hoá là rất đa dạng – Đây là thị trường khổng lồ
đối với các loại hàng hoá mà trong đó chứa đựng hầu hết các loại hàng hoá Việt Nam
có thể xuất khẩu.
Việt Nam là quốc gia đang bước trên tiến trình hội nhập Kinh tế quốc tế, chủ
trương phát triển kinh tế theo đuổi chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu,
đa dạng hoá thị trường cũng như mặt hàng xuất khẩu. Và Hoa Kỳ là thị trường có
tầm quan trọng đặc biệt trong chiến lược phát triển xuất khẩu của Việt Nam. Quan hệ
Việt - Hoa Kỳ đã được chính thức bình thường hoá từ năm 1995. Sau hơn mười năm
tái thiết lập quan hê, việc bình thường hoá đã khép lại quá khứ và mở ra tương lai có
lợi cho cả hai bên. Thực tế là kim ngạch xuất khẩu của hàng hoá Việt Nam sang Hoa
Kỳ đã tăng nhanh chóng qua các năm và tính đến tháng 2/2007 Hoa Kỳ vẫn là thị
trường xuất khẩu của Việt Nam với kim ngạch là 1.339.565 nghìn USD tăng 35.41%
so với cùng kì năm 2006. Năm 2006 đã đánh dấu bước phát triển cao hơn trong quan
hệ hai nước khi quy chế PNTR cho Việt Nam đã được Hoa Kỳ thông qua. Bên cạnh
đó do tác động của BTA mang lại, hàng hoá Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ được
cạnh tranh bình đẳng hơn, mức thuế áp dụng đối với các mặt hàng nhập khẩu của ta
đã giảm xuống khiến cho sự cạnh tranh về giá cả phát huy được hiệu quả,…Tuy
nhiên, trong quan hệ thương mại với các đối tác Hoa Kỳ, doanh nghiệp Việt Nam vẫn
gặp nhiều khó khăn khi quy mô của các doanh nghiệp nội địa là nhỏ trong khi nhu
cầu thị trường là lớn, các đơn đặt hàng từ phía Hoa Kỳ thường yêu cầu với số lượng
lớn, thời gian giao hàng nhanh, điều này là vượt quá khả năng của doanh nghiệp.
Những trở ngại trong hàng rào phi thuế quan của Hoa Kỳ (Việc ban hành thuế chống
1
bán phá giá đối với hàng dệt may đang được xem xét); tính phức tạp trong hệ thống

thức bình thường hoá quan hệ thương mại từ năm 1995 đến nay.
Phương pháp nghiên cứu
Chuyên đề sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, nghiên cứu các số liệu
thống kê và những phân tích thực tế những vấn đề liên quan, kết hợp với phân tích dự
báo
3
Chương 1: Lý luận chung về xuất khẩu hàng hóa
và sự cần thiết phải thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa
của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ trong điều kiện
hội nhập kinh tế quốc tế
1.1.Lý luận chung về xuất khẩu hàng hóa
1.1.1.Khái niệm và vai trò
1.1.1.1.Khái niệm
Thế giới đã bước sang một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên hội nhập và phát triển.
Để thành công trong nền kinh tế toàn cầu này đòi hỏi các quốc gia cũng như các nhà
kinh doanh phải hiểu rõ về kinh doanh quốc tế. Kinh doanh quốc tế là một lĩnh vực
rộng lớn liên quan đến nhiều vấn đề: con người, văn hóa, kinh tế, chính trị và nhiều
yếu tố khác liên quan đến môi trường xung quanh mà chủ thể trực tiếp của các hoạt
động này là các công ty kinh doanh trên trường quốc tế, thực hiện giao dịch buôn bán
với nhau. Trên thực tế các công ty có thể tiến hành giao dịch với nhau qua nhiều hình
thức nhưng phổ biến nhất là thông qua hoạt động xuất nhập khẩu.
Một cách cơ bản nhất có thể định nghĩa: Xuất khẩu là hoạt động đưa hàng hóa
dịch vụ từ quốc gia này sang quốc gia khác.
Trong chiến lược kinh doanh quốc tế, doanh nghiệp cần xác định được một
trong những yếu tố quan trọng mang lại thành công cho chiến lược của mình đó là
cách thức thâm nhập thị trường. Xuất khẩu được đánh giá là hình thức thâm nhập thị
trường ít rủi ro với chi phí thấp so với các hình thức khác. Nếu xét dưới góc độ kinh
doanh thì xuất khẩu là việc bán hàng hóa dịch vụ từ quốc gia này sang quốc gia khác,
còn xét dưới góc độ phi kinh doanh (quà tặng, viện trợ) thì hoạt động xuất khẩu là
việc lưu chuyển hàng hóa dịch vụ qua biên giới một quốc gia.

5
doanh nghiệp có nhiều điều kiện để quan tâm, đầu tư nhiều hơn vào việc hiện đại hóa
dây chuyền sản xuất của mình.
Thứ tư, xuất khẩu tác động mạnh tới cơ cấu kinh tế của toàn bộ nền kinh tế cũng
như tác động tới cơ cấu của ngành theo hướng sử dụng có hiệu quả nhất lợi thế so
sánh. Mỗi quốc gia đều có những ưu thế nhất định về một hoặc một vài chủng loại
sản phẩm. Trong thương mại quốc tế, các quốc gia luôn phải cạnh tranh với nhau vì
thế để thu được lợi ích cao nhất buộc mỗi quốc gia phải tìm một hướng đi đúng cho
mình, phải tìm kiếm và khai thác tối đa những thế mạnh của riêng mình. Khi đã biết
được mình có điểm mạnh gì, các quốc gia sẽ chuyên biệt hóa, đầu tư nhiều hơn tới
việc phát triển thế mạnh của mình, nghĩa là cơ cầu của nền kinh tế dần chuyển đổi
theo hướng ưu tiên cho các ngành, các mặt hàng mang lại giá trị và hiệu quả kinh tế
tốt hơn.
Thứ năm, xuất khẩu có tác động tích cực và trực tiếp tới việc nâng cao mức
sống của người dân, góp phần xóa đói giảm nghèo. Khi kim ngạch xuất khẩu của một
mặt hàng, ngành hàng nào đó không ngừng tăng lên, quy mô sản xuất của ngành đó
sẽ được mở rộng. Sản xuất mở rộng, nhu cầu về lao động tăng, số lượng việc làm
nhiều hơn, điều đó đồng nghĩa là sẽ có thêm một bộ phận lao động trong xã hội có
việc làm, thu nhập người dân ổn định hơn, cuộc sống của họ được đảm bảo, khi đó
họ sẽ có nhiều điều kiện để nâng cao điều kiện sống cho gia đình, tỷ lệ đói nghèo sẽ
dần giảm bớt.
Thứ sáu, xuất khẩu giúp mở rộng và làm sâu sắc thêm các mối quan hệ đối
ngoại giữa các quốc gia với nhau. Xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại có tác
động qua lại lẫn nhau: xuất khẩu là một trong những lĩnh vực của kinh tế đối ngoại,
xuất khẩu có sớm hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác, tạo điều kiện thúc đẩy
các quan hệ này phát triển như quan hệ về tín dụng, quan hệ đầu tư, quan hệ vận
tải…Xuất khẩu tạo tiền đề cho hợp tác quốc tế trong những lĩnh vực này, ngược lại
khi quan hệ quốc tế của những lĩnh vực này tốt đẹp sẽ kích thích cho xuất khẩu trao
đổi buôn bán giữa các quốc gia phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.
6

chế phạm vi giới hạn hoạt động của người phân phối đồng thời đặt hoạt động của các
kênh phân phối này trong sự kiểm soát của mình. Mặc dù nằm dưới sự kiểm soát của
công ty ủy thác nhưng đại lý phân phối phải chịu trách nhiệm, chấp nhận toàn bộ rủi
ro liên quan đến việc bán hàng của công ty ủy thác trên thị trường đã được phân định
và sẽ được hưởng phần lợi nhuận thu được từ chênh lệch giá mua và giá bán hàng
hóa.
1.1.2.2.Xuất khẩu gián tiếp
Xuất khẩu gián tiếp là hình thức bán hàng hóa, dịch vụ của công ty ra thị trường
nước ngoài thông qua trung gian (qua người thứ ba). Nếu trong loại hình xuất khẩu
trực tiếp thì người mua tìm tới người bán, người bán tìm gặp người mua, giữa hai bên
tiến hành trao đổi gặp gỡ trao đổi thông tin hàng hóa cho nhau một cách trực tiếp thì
trong loại hình xuất khẩu gián tiếp, việc thiết lập quan hệ người mua – người bán
cũng như các điều kiện liên quan đến giao dịch mua bán hàng hóa được thực hiện
thông qua người thứ ba được gọi là trung gian mua bán. Các trung gian mua bán này
không chiếm hữu hàng hóa của người ủy thác mà chỉ đóng vai trò người trợ giúp, là
cầu nối đưa hàng hóa của người xuất khẩu ra thị trường nước ngoài. Xuất khẩu gián
tiếp có các hình thức chủ yếu sau:
a) Đại lý
Đại lý là tự nhiên nhân hay pháp nhân tiến hành một hoặc nhiều hành vi theo sự
ủy thác của người ủy thác, quan hệ giữa người ủy thác và đại lý là quan hệ hợp đồng
đại lý. Trên thực tế đại lý chỉ thực hiện một công việc nhất định nào đó cho người ủy
thác và nhận được khoản thù lao của mình, đại lý không chiếm hữu và sở hữu hàng
hóa mà chỉ là người thiết lập quan hệ hợp đồng giữa người xuất khẩu và khách hàng
ở thị trường nước ngoài.
b) Công ty quản lý xuất khẩu
Là công ty nhận ủy thác và quản lý công tác xuất khẩu hàng hóa. Công ty quản
lý xuất khẩu hoạt động dựa trên danh nghĩa của người ủy thác với chức năng cơ bản
là thực hiện các hoạt động cũng như hoàn thiện các thủ tục xuất khẩu và thu phí dịch
vụ xuất khẩu. Xét về bản chất, các công ty quản lý xuất khẩu là trung gian thực hiện
8

9
thực hiện hợp đồng xuất khẩu với nước ngoài. Trong hai khâu đó, thu mua hàng xuất
khẩu là tiền đề vật chất của xuất khẩu hàng hóa.
1.1.3.1.Thu mua, cung ứng hàng xuất khẩu
Khi doanh nghiệp tiến hành hoạt động xuất khẩu, trước hết doanh nghiệp phải
có được nguồn hàng và phải biết được những quy định của Nhà nước đối với mặt
hàng đó. Đối với các doanh nghiệp thương mại, để có nguồn hàng xuất khẩu doanh
nghiệp phải tiến hành hoạt động thu mua. Để tổ chức tốt việc thu mua, bên cạnh việc
quán triệt tốt quan điểm, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về khuyến
khích phát triển sản xuất hàng xuất khẩu thì doanh nghiệp còn phải làm tốt việc quản
lý nguồn hàng xuất khẩu của mình một cách chủ động, có biện pháp phát triển nguồn
hàng đó cũng như phương thức huy động thích hợp.
Đối với phân loại nguồn hàng xuất khẩu, có ba chỉ tiêu phân loại:
Thứ nhất theo chế độ phân cấp quản lý bao gồm nguồn hàng thuộc chỉ tiêu
kế hoạch Nhà nước và nguồn hàng ngoài kế hoạch
Thứ hai phân loại nguồn hàng theo đơn vị giao hàng gồm: từ các xí nghiệp,
các cơ sở sản xuất, các hợp tác xã…
Thứ ba phân loại theo phạm vi phân công của đơn vị kinh doanh xuất khẩu
bao gồm nguồn hàng trong địa phương và nguồn hàng ngoài địa phương.
Việc nghiên cứu nguồn hàng xuất khẩu, đây là công việc bắt buộc để doanh
nghiệp có thể khai thác và phát triển nguồn hàng. Thông qua nghiên cứu nguồn hàng
doanh nghiệp có thể nắm được khả năng cung cấp hàng xuất khẩu của từng đơn vị
nguồn hàng đồng thời nó là cơ sở đảm bảo chắc chắn cho doanh nghiệp tiến hành ký
kết và thực hiện hợp đồng xuất khẩu. Có hai phương pháp nghiên cứu nguồn hàng
xuất khẩu:
Thứ nhất, lấy mặt hàng làm đơn vị nghiên cứu. Phương pháp này chủ yếu
nghiên cứu tình hình và khả năng cung ứng cũng như tiêu thụ của một mặt hàng từ đó
có quyết định kinh doanh xuất khẩu mặt hàng đó không.
Thứ hai, lấy cơ sở sản xuất làm đơn vị nghiên cứu. Theo phương pháp này
người ta theo dõi năng lực sản xuất và cung ứng sản phẩm của từng cơ sở sản xuất

11
với sản phẩm ra sao để có những điều chỉnh nhất định đối với sản phẩm. Sự khác
nhau về yếu tố văn hóa của một quốc gia sẽ tạo ra sự khác nhau về mặt hàng xuất
khẩu sang thị trường đó.
Thứ hai, môi trường chính trị luật pháp. Không một doanh nghiệp xuất khẩu nào
muốn bán sản phẩm của mình sang thị trường có thể chế chính trị bất ổn với tâm lý lo
ngại sự mất ổn định chính trị sẽ khiến cho các doanh nghiệp nhập khẩu trong trường
hợp xấu không thể thanh toán mọi chi phí tiền hàng. Yếu tố luật pháp cũng ảnh
hưởng đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp thông qua tác động của hàng rào
thuế quan và phi thuế quan. Nếu mức thuế suất đối với các sản phẩm nhập khẩu cao
hoặc mức độ bảo hộ sản xuất trong nước của quốc gia đó lớn sẽ làm giảm kim ngạch
xuất khẩu của các quốc gia khác sang thị trường nước đó, ngược lại mức thuế mà
một quốc gia áp dụng cho sản phẩm nhập khẩu ở mức trung bình cũng như các hàng
rào yêu cầu kỹ thuật không quá khắt khe, sản phẩm của doanh nghiệp dễ dàng hơn
trong việc tiếp cận thị trường và từ đó sẽ làm tăng lượng hàng hóa xuất khẩu sang
những thị trường dễ tính
Thứ ba, môi trường kinh tế. Môi trường kinh tế của một quốc gia bao gồm tốc
độ tăng trưởng kinh tế, quy mô của nền kinh tế và quy mô thị trường, cơ cấu của nền
kinh tế… Một quốc gia luôn đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định tức
là tổng thu nhập quốc dân cao, theo đó thu nhập bình quân đầu người cũng ở mức
cao, đời sống nhân dân được nâng lên, nhu cầu tiêu dùng của người dân và toàn nền
kinh tế sẽ tăng lên, lượng hàng hóa nhập khẩu sẽ nhiều hơn, điều này sẽ kích thích
hoạt động xuất khẩu từ các công ty nước ngoài vì họ nhìn thấy tiềm năng thị trường
lớn của quốc gia. Quy mô của nền kinh tế lớn cũng khiến cho nhu cầu nhập khẩu tăng
lên, và cũng tạo ra những điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp xuất khẩu. Cơ cấu
của nền kinh tế ảnh hưởng đến cơ cấu xuất khẩu vào một quốc gia. Các nhà xuất
khẩu khi lựa chọn thị trường xuất khẩu thường phải có những đánh giá xem thị
trường nội địa của quốc gia đó đang sản xuất được cái gì, chủng loại ra sao để từ đó
sẽ quyết định đưa mặt hàng nào xuất khẩu, khi lựa chọn mặt hàng xuất khẩu doanh
nghiệp cũng cần phải đánh giá yếu tố thị trường, thị trường nào đang có nhu cầu về

13
đối. Trên thực tế việc đánh giá một sản phẩm là khác nhau giữa các thị trường: thị
trường EU đánh giá và lựa chọn sản phẩm dựa trên kiểu dáng mẫu mã tức là tính
thẩm Hoa Kỳ sản phẩm, dựa trên thương hiệu của sản phẩm; trong khi đó thị trường
Hoa Kỳ lại đánh giá sản phẩm trên góc độ giá cả và chất lượng , trong xu hướng tiêu
dùng của mình, người Hoa Kỳ không quá đòi hỏi cầu kỳ, chỉ cần một chất lượng đảm
bảo với giá cả hợp lý là có thể chính phục thị trường Hoa Kỳ… Như vậy yếu tố sản
phẩm có ảnh hưởng tới quyết định lựa chọn thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp.
1.2.Sự cần thiết phải thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa Việt Nam
sang thị trường Hoa Kỳ trong điều kiện hội nhập KTQT
Sau hơn 1 năm kể từ khi Hoa Kỳ bãi bỏ cấm vận, ngày 11/7/1995, tổng thống
Hoa Kỳ Bill Clinton đã chính thức tuyên bố bình thường hóa quan hệ thương mại,
ngoại giao với Việt Nam. Đây là sự kiện quan trọng ghi nhận những nỗ lực không
ngừng của cả hai quốc gia trong tiến trình cải thiện mối quan hệ phức tạp. Với chiến
lược hướng mạnh vào xuất khẩu, phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
Chính phủ Việt Nam đã chủ trương mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại trong đó
Hoa Kỳ là thị trường trọng điểm. Quan hệ Việt Hoa Kỳ trong những năm qua được
xây dựng trên tinh thần tự nguyện hợp tác hữu nghị, hai bên đều có nhu cầu hướng
tới mối quan hệ hợp tác kinh tế, mở rộng xuất nhập khẩu các mặt hàng mang tính bổ
sung lẫn nhau. Hoa Kỳ đang hướng tới Việt Nam như một thị trường đông dân đầy
tiềm năng, một thị trường sản xuất hàng nông, thủy sản đầy tiềm năng của châu Á.
Còn Việt Nam hướng tới thị trường Hoa Kỳ như một thị trường tiêu thụ khổng lồ có
nền công nghệ kỹ thuật hiện đại và có nguồn vốn dồi dào vào bậc nhất thể giới. Có
thể thấy tính quy mô của thị trường này qua bảng 1.1 dưới đây:
Bảng 1.1.Nhu cầu nhập khẩu của thị trường Hoa Kỳ và xuất khẩu của Việt Nam
trong một số mặt hàng
Đơn vị: Triệu USD
14
Nhóm hàng
Tổng nhập khẩu của

gia, trong đó có Việt Nam. Khi trở thành thành viên chính thức của WTO, chúng ta sẽ
được hưởng sự đãi ngộ như các quốc gia thành viên khác vì thế các doanh nghiệp
xuất khẩu của Việt Nam phải biết khai thác mọi lợi thế để thúc đẩy xuất khẩu hàng
hóa của mình sang thị trường này, xuất khẩu sang Hoa Kỳ thuận lợi sẽ tạo điều kiện
cho xuất khẩu sang các thị trường khác. Và phát triển quan hệ hợp tác với Hoa Kỳ
15
không chỉ đơn thuần là hợp tác kinh tế để khai thác lợi ích lẫn nhau, mà phát triển
quan hệ thương mại là cơ sở đảm bảo cho phát triển các quan hệ trên mọi lĩnh vực
khác nhau mà nhất là quan hệ đối ngoại giữa hai Chính phủ. Chính vì vậy, Đảng và
Nhà nước ta vẫn luôn rất coi trọng việc phát triển quan hệ mọi mặt với Hoa Kỳ vì lợi
ích của nền kinh tế, lợi ích quốc gia của cả hai nước.
1.3.Kinh nghiệm của Trung Quốc trong đẩy mạnh xuất khẩu
hàng hóa sang thị trường Hoa Kỳ
Năm 2006 đánh dấu việc Trung Quốc tròn 5 năm gia nhập WTO, đánh giá
chung của các tập đoàn, các tổ chức quốc tế như WB hay IMF đối với sự phát triển
của nền kinh tế Trung Quốc trong những năm trước và cho tới thời điểm hiện tại đều
rất tích cực với tốc độ tăng trưởng nhanh, hiệu suất cao và lạm phát thấp. Với tốc độ
tăng trưởng 2 con số liên tục giúp Trung Quốc trở thành nền kinh tế lớn thứ 4 trên thế
giới. Theo số liệu thống kê, kim ngạch xuất khẩu năm 2006 của Trung Quốc đạt 960
tỷ USD tăng 26,8% so với mức trung bình hàng năm, thặng dư thương mại đạt 150 tỷ
USD và Hoa Kỳ là đối tác thương mại lớn thứ 2 của Trung Quốc (sau EU) với kim
ngạch thương mại đạt 142,16 tỷ USD. Có thể nói không chỉ gia tăng về lượng xuất
khẩu một cách nhanh chóng mà điểm cần nhấn mạnh trong xuất khẩu của Trung
Quốc đó là cơ cấu xuất khẩu ngày một hoàn thiện hơn theo hướng xuất khẩu các sản
phẩm máy móc điện tử và hàng công nghệ cao: trong 4 tháng đầu năm 2006, tốc độ
tăng trưởng xuất khẩu là 25,8% trong đó tăng trưởng của các mặt hàng truyền thống
như dệt may chỉ khoảng 24%, giày dép là 19% trong khi đó mức tăng của các ngành
công nghiệp nặng và khoa học công nghệ cao lại khá nhiều (đồng hồ điện tử là 46%,
xe ô tô và linh kiện tăng 43%…) trong đó xuất khẩu sang Hoa Kỳ của Trung Quốc
cũng đạt được những hiệu quả mà Việt Nam cần tham khảo.

tăng 2 tỷ so với năm 2004 và chiếm 48% thị phần nhập khẩu mặt hàng này của Hoa
Kỳ. Nguyên nhân của điều này là: giá thành của các sản phẩm của Trung Quốc ngày
một thấp trong khi chất lượng lại ngày càng nâng cao; nhiều công ty nước ngoài thậm
chí kể cả một số công ty hàng đầu của Hoa Kỳ đã di chuyển sản xuất sang Trung
Quốc để tận dụng giá lao động rẻ làm tăng khả năng cung của nước này; chi phí vận
tải thấp; quan hệ giữa nhà sản xuất ở Trung Quốc với các nhà bán lẻ của Hoa Kỳ
ngày càng chặt chẽ. Với những phân tích trên, Việt Nam cần tham khảo kinh nghiệm
của Trung Quốc trong việc thu hút đầu tư sản xuất từ các nhà đầu tư nước ngoài mà
17
nhất là nhà đầu tư Hoa Kỳ vào những ngành mà chúng ta có lợi thế, đồng thời cần gia
tăng củng cố quan hệ với hệ thống bán lẻ của Hoa Kỳ, đây là cầu nối quan trọng cho
hàng hóa Việt Nam đến được với người tiêu dùng.
Đối với các mặt hàng công nghiệp có hàm lượng khoa học công nghệ cao,
Trung Quốc cũng là nhà cung cấp lớn cho thị trường Hoa Kỳ. Hiện nay Trung Quốc
là nước xuất khẩu lớn nhất hàng điện tử vào Hoa Kỳ, năm 2005 giá trị xuất khẩu của
ngành này là 86,7 tỷ USD tăng 25,4% so với năm 2004 chiếm 28,5% tổng nhập khẩu
hàng điện tử của Trung Quốc. Còn xuất khẩu máy tính và phụ kiện của Trung Quốc
vào Hoa Kỳ cũng chiếm thị phần lớn nhất với tốc độ tăng trưởng cao nhất, năm 2005
kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này đạt khoảng 40,3 tỷ USD tăng 18,6 % so với năm
2004 chiếm 43% thị phần của Hoa Kỳ. Nguyên nhân chủ yếu của sự tăng trưởng xuất
khẩu cao các mặt hàng này là do nhiều nhà sản xuất lớn trên thế giới đã chuyển vào
đầu tư sản xuất tại Trung Quốc do giá nhân công rẻ. Việt Nam cũng là quốc gia có
một đội ngũ lao động cần cù sáng tạo, chi phí lao động của nước ta không cao vì thế
chúng ta nên học hỏi kinh nghiệm của Trung Quốc để thu hút nhiều hơn các nhà đầu
tư nước ngoài vào đầu tư sản xuất trong nước, mà trước hết cần phải xây dựng hệ
thống các khu công nghệ cao, các khu chế xuất và hoàn thiện các chế tài tạo môi
trường thuận lợi và tâm lý an toàn cho hoạt động đầu tư nước ngoài.
18
Chương 2: Thực trạng xuất khẩu hàng hóa Việt Nam
sang thị trường Hoa Kỳ trong điều kiện hội nhập

thiên nhiên phong phú như than đá, đồng chì…đã khiến cho trong giai đoạn những
năm 1880 và 1900, thậm chí tới tận ngày nay Hoa Kỳ vẫn nổi lên là một quốc gia
phát triển mạnh về công nghiệp với các ngành chủ chốt là sản xuất thép, xe hơi, cơ
khí điện và điện tử, ô tô, hàng không, viễn thông, chế biến thực phẩm, hóa chất…
trong đó riêng ngành công nghiệp chế tạo chiếm trên 80% giá trị toàn ngành.
2.1.1.1.Hoa Kỳ là thị trường có tính mở cao
Hoa Kỳ là quốc gia tiên phong trong việc ủng hộ tự do hóa thương mại vì vậy
các quy chế xuất nhập khẩu mà quốc gia này đã và đang áp dụng đều phù hợp với
những nguyên tắc cơ bản của WTO, đây là quốc gia nhập khẩu với khối lượng lớn
các mặt hàng có hàm lượng lao động cao: dệt may, giày dép…trong đó có nhiều mặt
hàng tiêu dùng thông thường mà Hoa Kỳ hầu như không sản xuất. Một thực tế là sự
phát triển của nền kinh tế Hoa Kỳ đã liên tục đóng góp cho sự phát triển toàn cầu nhờ
duy trì chính sách mở cửa thị trường. Thông qua chính sách mở cửa của mình, các
nhà sản xuất cũng như người tiêu dùng Hoa Kỳ có thể tiếp cận với hàng hóa dịch vụ
từ nước ngoài với những điều kiện ưu đãi nhất. Trong hầu hết các chính sách phát
triển kinh tế, Hoa Kỳ luôn chủ trương đặt hệ thống thương mại đa phương vào trung
tâm của các quan hệ thương mại quốc tế của mình, luôn có xu hướng mở cửa thị
trường một cách cao độ thông qua các cuộc đàm phán từ song phương cho tới khu
vực để đạt tới một chiến lược tự do hóa thương mại mang lại nhiều lợi ích quốc gia
nhất.
Tính mở của thị trường còn được thể hiện ở nhu cầu thị hiếu cũng như những
yêu cầu trong tiêu dùng của người Hoa Kỳ không quá khắt khe, nhu cầu tiêu dùng
nhiều nhưng họ không quá kỹ tính như những người tiêu dùng châu Âu hay Nhật
Bản. Mặt khác, là đất nước đa sắc tộc, các tầng lớp dân cư trong xã hội cũng có sự
phân hóa nhất định vì vậy nhu cầu tiêu dùng của các tầng lớp khác nhau thì cũng
20
khác nhau, hàng hóa bán trên thị trường Hoa Kỳ cũng sẽ đa dạng phong phú hơn cả
về chủng loại lẫn chất lượng. Sức tiêu thụ hàng hóa trên thị trường Hoa Kỳ là vô
cùng hấp dẫn với bất kỳ nhà xuất khẩu nước ngoài nào. Theo một khảo sát mới đây
thì bình quân một năm, một người phụ nữ Hoa Kỳ mua khoảng 54 bộ quần áo và 6

chức hoàn chỉnh. Tại Hoa Kỳ hiện nay có nhiều loại công ty lớn, vừa và nhỏ sử dụng
các kênh phân phối sản phẩm khác nhau. Các công ty lớn thường có hệ thống phân
phối riêng và tự mình thực hiện các khâu từ nghiên cứu, sản xuất, tiếp thị, phân phối
và tự nhập khẩu. Còn đối với các công ty vừa và nhỏ thì vận động xung quanh hệ
thống thị trường và được sự hỗ trợ từ phía Chính phủ. Các công ty vừa và nhỏ của
Hoa Kỳ tiến hành nhập khẩu hàng hóa về và bán tại thị trường trong nước thông qua
nhiều cách khác nhau: bán cho các cửa hàng bán lẻ, bán cho các nhà phân phối, tiến
hành bán lẻ trực tiếp…Khi nói tới các kênh phân phối trên thị trường Hoa Kỳ không
thể không nhắc tới vai trò của hệ thống bán lẻ. Hiện nay Hoa Kỳ có trên 1 triệu doanh
nghiệp bán lẻ chiếm khoảng 11,7% tổng số việc làm tại Hoa Kỳ, riêng trong ngành
may mặc đã có hàng trăm cửa hàng bán lẻ quần áo với doanh thu khoảng 93 tỷ USD/
năm. Với mặt hàng thủy sản, việc cung ứng cũng rất tiện lợi với hệ thống các nhà
hàng, hệ thống cung cấp cho các cơ sở ăn uống công cộng như trường học, hộ gia
đinh; hệ thống bán lẻ là các chuỗi siêu thị, các cửa hàng bán lẻ, các chợ, các cửa
hàng…
2.1.1.4.Hoa Kỳ là thị trường có cường độ cạnh tranh cao
Như đã biết, nhu cầu nhập khẩu của Hoa Kỳ hàng năm là lớn nhất thế giới, đây
là cái đích hướng tới của nhiều nhà xuất khẩu. Do đó trên thị trường này luôn có mặt
của rất nhiều nhà cung cấp lớn nhỏ từ khắp nơi trên thế giới, đó chính là nguyên nhân
cơ bản của sự cạnh tranh gay gắt giữa các nhà xuất khẩu với nhau, giữa nhà xuất
khẩu với nhà sản xuất nội địa, và trong những chiến lược cạnh tranh đó, giá cả và
chất lượng là hai yếu tố cơ bản nhất giữ vai trò quan trọng cần được các doanh
nghiệp xuất khẩu lưu tâm. Trong hai yếu tố đó, giá cả đôi khi có sức cạnh tranh hơn
so với chất lượng sản phẩm bởi người tiêu dùng Hoa Kỳ thường không muốn trả tiền
theo giá niêm yết, hàng hóa bán tại trị trường Hoa Kỳ phải kèm theo dịch vụ sau bán
22
hàng, số lượng và chất lượng của những dịch vụ này có ý nghĩa quan trọng trong sự
lựa chọn mua hàng của họ. Nắm được đặc điểm này mà các doanh nghiệp thường tập
trung cao vào phục vụ tốt các dịch vụ sau bán hàng cũng như tìm cách để hạ thấp giá
thành sản phẩm đến mức tối thiểu có thể. Các nhà kinh doanh tại thị trường Hoa Kỳ

nhà kinh doanh nước ngoài khi cần phải sử dụng các dịch vụ này phải hết sức lưu ý:
chuẩn bị đầy đủ và chu đáo mọi câu hỏi cần giải đáp cũng như nội dung cần tư vấn
để đi thẳng vào vấn đề, tiết kiệm tối đa thời gian sử dụng các dịch vụ này. Cũng
chính vì tiết kiệm thời gian mà các nhà kinh doanh Hoa Kỳ không có nhiều thời gian
cho những câu chuyện rông dài hoặc đọc những bức thư dài hoặc phải chờ đợi sự trả
lời chậm trễ. Do đó, các bức thư chào hàng hoặc giao dịch trước hết phải đảm bảo
được sự ngắn gọn súc tích thu hút được sự chú ý của đối tác, nội dung phải rõ ràng và
trả lời thẳng vào vấn đề mà đối tác quan tâm. Sự chậm trễ trả lời các thư hỏi hàng sẽ
làm mất cơ hội kinh doanh.
2.1.2.Rào cản thương mại đối với hàng hóa nhập khẩu vào Hoa Kỳ
Là một quốc gia theo thể chế Cộng hòa Liên bang do đó ngoài hệ thống pháp
luật liên bang thì mỗi bang đều có hệ thống pháp luật riêng nhưng không được trái
với Hiến pháp chung của quốc gia, trong trường hợp có sự mâu thuẫn giữa luật liên
bang, luật của bang hoặc luật địa phương thì luật liên bang sẽ có hiệu lực. Tất cả các
bang của Hoa Kỳ (trừ bang Luoisiana theo hệ thống Luật châu Âu) đều theo hệ thống
Luật Anh – Hoa Kỳ. Theo hệ thống Luật pháp này thì những giải thích luật của Tòa
án sẽ trở thành luật áp dụng trong các trường hợp sau và tương tự do đó với các nhà
xuất khẩu nước ngoài khi tìm hiểu luật pháp Hoa Kỳ cũng cần phải nghiên cứu tìm
hiểu các phán quyết của Tòa án.
Hệ thống luật pháp Hoa Kỳ phức tạp nhưng về cơ bản nó bao gồm:
Thứ nhất, Luật bồi thường thương mại được sử dụng với mục đích chống lại sự
cạnh tranh không công bằng của hàng nhập khẩu với hàng hóa được sản xuất trong
nước và bảo vệ lợi ích của các doanh nghiệp trong nước. Luật bồi thường thương mại
bao gồm 2 phân nhánh là Luật chống trợ giá và Luật chống bán phá giá.
24
Thứ hai, Luật hạn chế nhập khẩu bao gồm: Hạn chế nhập khẩu nông sản và
hàng dệt; Hiệp định đa sợi/ Hiệp định hàng dệt may; Nông nghiệp và Luật thực hiện
các Hiệp định vòng đàm phán Urugoay; Hạn ngạch thuế quan đối với sản phẩm
đường; Hạn ngạch thuế quan đối với thịt; và Luật cấm nhập khẩu một số loại rau quả
nếu không đáp ứng được phẩm cấp tiêu thụ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status