1
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HOÀNG HẢI LIÊN
THIẾT KẾ, CHẾ TẠO VÀ KIỂM TRA CÁC ĐẶC TÍNH
ĐIỆN CỦA TRANSISTOR HIỆU ỨNG TRƯỜNG (FET)
SỬ DỤNG ỐNG NANO CARBON
onto integrated circuits” (tạp chí Electronics 19/4/1965). Trong bài báo của mình TS.
Moore đã đưa ra dự đoán về sự phát triển của ngành chế tạo vi mạch và có một dự
đoán nổi tiếng cho đến những năm gần đây: “Khi mật độ transistor, phần tử cơ bản
trên một chip của mạch tổ hợp, tăng lên thì giá thành của mạch giảm xuống. Cứ sau 18
tháng thì mật độ đó lại tăng lên gấp đôi và giá thành của mạch giảm đi khoảng một
nửa” [17]. Những transistor theo xu hướng này chủ yếu được chế tạo dựa trên công
nghệ bán dẫn silicon.
Nhưng trong thời gian gần đây kích thước transistor chế tạo dựa trên công nghệ
bán dẫn silicon đã gần như đạt tới mức nhỏ nhất, tiếp cận các hạn chế về vật lí của linh
kiện khi chế tạo dựa trên nền vật liệu silicon. Do đó nhiều nghiên cứu đã và đang được
tiến hành nhằm đưa ra các giải pháp hiệu quả nhất trong việc tiếp tục thu nhỏ kích
thước của transistor, và một trong các giải pháp là chế tạo các transistor dựa trên các
vật liệu mới, có tính chất ưu việt hơn silicon trong việc thu nhỏ kích thước linh kiện.
Với cấu trúc đặc biệt cùng các tính chất điện, cơ ưu việt, ống nano carbon được
đánh giá là vật liệu tiềm năng của thế kỷ 21. Từ lúc phát hiện vào năm 1991 đến nay,
ống nano carbon (carbone nanotubes- CNTs) được chú trọng nghiên cứu và đưa vào
ứng dụng một cách mạnh mẽ trong nhiều ngành khoa học, trong đó việc nghiên cứu,
chế tạo các transisitor dựa trên CNTs đã và đang nhận được rất nhiều quan tâm bởi các
nhà khoa học.
Phương pháp chế tạo transistor sử dụng ống nano carbon được đánh giá là công
nghệ hứa hẹn, thay thế silicon khi linh kiện vi mạch chạm đến mức giới hạn kích
thước vật lý trong 10-15 năm tới.
Để tiếp nối các nghiên cứu trên và bước đầu tìm hiểu một cách có hệ thống về
công nghệ chế tạo, ảnh hưởng của các thông số công nghệ chế tạo đến các thông số
đặc trưng của transistor hiệu ứng trường sử dụng ống nano carbon, mục tiêu của luận
văn Thạc sỹ này là: “Thiết kế, chế tạo và kiểm tra các đặc tính điện của transistor hiệu
ứng trường (FET) sử dụng ống nano carbon”. Đề tài được thực hiện, sử dụng các thiết
bị chế tạo và đo đạc tại Phòng Thí Nghiệm Công Nghệ Nano, ĐHQG Tp.HCM.
Nội dung nghiên cứu được trình bày trong các phần chính sau:
Chương 1 – Tổng quan
được biết đến từ nhiều thế kỷ trước là than chì (graphite) và kim cương (diamond) đến
các cấu trúc nano mới được khám phá gần đây như Fullerene C60, ống nano carbon
(carbon nanotubes), sợi nano carbon đã mang đến nhiều ứng dụng trong công nghiệp
và thương mại.
Cho đến ngày nay, đã có một cấu trúc phi tinh thể (vô định hình) và bốn nhóm cấu
trúc tinh thể của carbon được phát hiện.
Hình 1.1: Một số cấu trúc của carbon
(a) Kim cương; (b) Than chì; (c) Lonsdaleite;
(d)(f) Cấu trúc Fullerene (C60, C540, C70);
(g) Vô định hình; (h) Ống nano carbon
Vào năm 1985, Smalley cùng các cộng sự khám phá ra một cấu trúc mới của
carbon bên cạnh các cấu trúc đã biết trước đây. Đó là các Buckminster fullerene C60,
gọi tắt là Fullerene, có cấu trúc khối cầu gồm 60 nguyên tử carbon liên kết thành các
vòng lục giác và ngũ giác.
Trước năm 1991, đã có nhiều khám phá về một loại cấu trúc có chiều dài lớn (cỡ
nhiều micro) và đường kính bé (chỉ vài nano). Lúc đầu, nó chỉ được xem như là cấu
trúc một chiều của các fullerene. Vào năm 1991, cấu trúc cơ bản và tính chất đặc trưng
của loại vật liệu mới này được Sumio Ijima công bố lần đầu tiên [19]. Khi nghiên cứu
tổng hợp fullerene bằng phương pháp hồ quang điện với xúc tác kim loại, Ijima tìm
thấy rất nhiều cấu trúc graphite bám tại tâm điện cực bao gồm các hạt nano và các ống
rất đặc biệt có đường kích ngoài cùng từ 4 – 30nm và chiều dài cỡ 1µm. Bởi vì các
ống này có cấu trúc gồm nhiều lớp vỏ là các tấm carbon graphite, cuộn lại theo hình
xoắn ốc, đường kính ngoài cùng ở kích thước nano nên Ijima gọi các ống này là ống
nano đa vách (Multi-wall nanotubes, MWNTs).
Hình 1.2: Ảnh điện tử của các ống micro nhiều vách graphite [5]
(a) ống 5 tấm, đường kính 6,7 nm; (b) ống 2 vách, đường kính 5,5 nm;
(c) ống 7 tấm, đường kính 6,5 nm, đường kính bên trong nhỏ nhất là 2,2 nm
- Nếu θ = 0
o
– 30
o
(n ≠ m), ống “chiral”
Đường kính d của ống nano được cho bởi công thức:
d=Lπ
trong đó:
L là chiều dài vector chiral:
L=Ch=an2+m2+nm
a = 2,49Å, là chiều dài một cạnh của graphite.
Hình 1.5: Ống nano carbon (a) zig – zag; (b) chiral; (c) armchair
Ngoài ra, các tham số chiral cũng cho biết tính chất điện tử của ống nano carbon.
Các ống nano carbon có thể hoặc là kim loại, hoặc là bán dẫn phụ thuộc vào hai tham
số m và n.
Một ống nano sẽ là kim loại khi tỷ số (m-m)/3 là số nguyên, còn lại tất cả đều là
chất bán dẫn.
6
Hình 1.6: Tính chất dẫn điện của ống nano carbon theo vector chiral
1.1.3. Các tính chất của ống nano carbon
Tính chất điện tử
Các đặc tính điện học của ống nano carbon được chú ý nhiều nhất trong các
nghiên cứu và ứng dụng của ống nano carbon. Với kích thước cực kỳ nhỏ và tính đối
xứng cao khiến CNTs có những hiệu ứng lượng tử đặc biệt cùng các đặc tính điện tử,
từ học và quang học khác thường. Các tính toán lý thuyết ban đầu và thực nghiệm sau
đó cho thấy nhiều tính chất điện tử lạ thường trong CNTs, ví dụ như cấu trúc lượng tử
Tính chất cơ học
Từ khi được khám phá, ống nano carbon đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà khoa
học và nghiên cứu do có độ bền và độ cứng rất cao mà lại có mật độ khối cùng tính
biến dạng thấp. Các tính toán lý thuyết và phép đo thực nghiệm đều cho thấy CNTs có
độ cứng tương tự hoặc hơn cả kim cương. Cho đến thời điểm này, ống nano carbon là
vật liệu có độ cứng, ứng suất Young và sức căng cơ học lớn nhất mà loài người tìm ra.
7
Tính chất cơ học của ống nano carbon không phụ thuộc vào độ xoắn chiral nhưng
phụ thuộc vào đường kính của ống. Độ cứng lớn nhất của một ống nano carbon đơn
vách có đường kính từ 1 đến 2 nm vào khoảng 1 TPa, còn ống nano carbon đa vách thì
lớn hơn, vào khoảng 1,1 đến 1,3 TPa. [4]
Bảng 1.1: Một số tính chất cơ học của hai loại ống than nano
Ứng suất Young (GPa) Độ cứng (Gpa) Tỷ trọng (g/cm
3
)
MWCNT
1.200 ~ 150 2,6
SWCNT
1.000 75 1,3
Tính chất từ và điện từ trường
Giống như vật liệu graphite, ống nano carbon có mật độ điện tử phát xạ cao và ổn
định, hiện đang là một nguồn phát xạ trường được chú ý trong nhiều ứng dụng điện tử.
Tính chất hóa học
Ống nano carbon có độ nhạy cao đối với các tương tác hóa học và môi trường,
được ứng dụng trong sinh học và hóa học. Những tính chất hóa học được chú ý như
mạch hở, phản ứng tráng kim, chất độn, chất gia cường, chất hấp phụ, vận chuyển hạt
mang điện, chất phụ gia được ứng dụng nhiều trong các cảm biến, thiết bị lọc, đầu dò,
dự trữ năng lượng và điện tử.
Hiệu suất của thiết bị kính hiển vi đầu dò phụ thuộc vào kích thước và hình dạng
đầu tip. Với kích thước nano, đường kính nhỏ và hệ số tỷ lệ cao khiến đầu dò CNT rất
được chú ý trong nhiều ứng dụng quan trọng. Đặc biệt đầu dò CNT rất bền về cơ học
nên có thể sử dụng trong một thời gian dài.
Hình 1.7: Ảnh SEM của một đầu dò CNT gắn trên thanh cantilever
Đầu dò CNT được dùng trong các đầu ghi đĩa chất lượng cao, đầu đọc ổ cứng, đầu
dò kính hiển vi lực hạt nhân (AFM), thiết bị vi khắc (lithography), đầu dò siêu nhạy
trong hóa học và sinh học,…
Làm dây dẫn nano trong các linh kiện và mạch điện tử
Ta có thể tổng hợp ống nano carbon làm dây dẫn với độ dài cỡ một micromet với
đường kính vài micromet, chúng dẫn điện, dẫn nhiệt tốt và có tính ổn định rất cao. Ta
có thể nhìn và thao tác bằng các kính hiển vi nguyên tử AFM, STM, đồng thời cũng có
thể tạo ra các tiếp điểm với các điện cực kim loại khác nhau. Ống nano carbon, đặc
biệt là ống nano carbon đơn vách, được xem là vật liệu lý tưởng cho các linh kiện điện
tử cỡ nanomet.
Các linh kiện điện tử sử dụng ống nano carbon
- Làm transistor CNTFET dựa trên cơ sở cấu hình MOSFET: nhờ ở dạng hình
ống các electron tự do trong ống có thể dẫn điện nhưng ít chịu sự tán xạ, người ta hay
gọi cơ chế dẫn này là kiểu dẫn đường đạn đạo (ballistic conduction). Sự tán xạ electron
là nguyên nhân gây ra sự suy giảm dòng điện và làm sản sinh ra nhiệt trong vật liệu
dẫn điện như ở trong chất bán dẫn hay kim loại. Ống nano carbon có khả năng tải điện
hữu hiệu nhờ ít sinh ra nhiệt. Hình 1.8 biểu thị sơ đồ của một CNTFET sử dụng ống
nano carbon có cực cổng điều khiển ở mặt sau.
Hình 1.8: Sơ đồ CNTFET có cực cổng điều khiển ở phía sau
- Ta có thể chế tạo bộ nhớ với việc tạo các ống nano carbon song song, chiều
thường lớp cách điện được dùng là lớp oxit nên còn gọi là metal-ocide-semiconductor
transistor (MOSFET). Có 2 loại MOSFET:
MOSFET kênh sẵn
MOSFET kênh cảm ứng
1.2.3. Transistor trường loại cực cửa cách ly (IGFET)
Đây là loại transistor trường có cực cửa cách điện với kênh dẫn điện bằng một lớp
cách điện mỏng. Lớp cách điện thường dùng là chất oxit nên ta thường gọi tắt là
transistor trường loại MOS (Metal-Oxide-Semiconductor).
MOSFET kênh sẵn
a. Cấu tạo
MOSFET kênh sẵn còn gọi là MOSFET-chế độ nghèo (Depletion-Mode MOSFET
- DMOSFET). Transistor trường loại MOS có kênh sẵn là loại transistor mà khi chế tạo
người ta chế tạo sẵn kênh dẫn.
Hình 1.9: Cấu tạo của MOSFET kênh sẵn loại P [2]
b. Nguyên lý hoạt động
10
Transistor loại MOSFET kênh sẵn có hai loại: kênh loại P và kênh loại N.
Nguyên lý làm việc của hai loại transistor kênh P và kênh N giống nhau chỉ có cực
tính của nguồn điện cung cấp cho các chân cực là trái dấu nhau.
Khi transistor làm việc, thông thường cực nguồn S được nối với đế và nối đất nên
U
s
=0. Các điện áp đặt vào các chân cực cửa G và cực máng D là so với chân cực S.
Nguyên tắc cung cấp nguồn điện cho các chân cực sao cho hạt dẫn đa số chạy từ cực
nguồn S qua kênh về cực máng D để tạo nên dòng điện I
D
= U
DS1
< 0 và giữ không đổi. Sau đó thay đổi điện áp trên
cực cửa U
GS
theo chiều dương hoặc theo chiều âm. Khi U
GS
= 0 thì dưới tác dụng của
điện áp U
DS
các lỗ trống chuyển động từ cực nguồn về cực máng tạo nên dòng điện I
D
.
Nếu U
GS
< 0, nhiều lỗ trống được hút về kênh làm nồng độ hạt dẫn trong kênh
tăng lên, độ dẫn điện của kênh tăng và dòng điện chạy trong kênh I
D
tăng lên. Chế độ
làm việc này gọi là chế độ giàu hạt dẫn.
Nếu U
GS
> 0, các lỗ trống bị đẩy ra xa kênh làm mật độ hạt dẫn trong kênh giảm
xuống, độ dẫn điện của kênh giảm và dòng điện chạy qua kênh I
D
giảm xuống. Chế độ
làm việc này gọi là chế độ nghèo hạt dẫn. Mối quan hệ này được thể hiện ở hình 1.11a.
- Xét họ đặc tuyến ra (hay quan hệ giữa dòng điện I
D
với điện áp U
DS
ứng với từng giá trị của điện
áp U
GS
khác nhau.
11
Trên họ đặc tuyến ra, khi điện áp U
DS
= 0V thì dòng điện qua kênh I
D
= 0, do đó
đặc tuyến xuất phát từ gốc tọa độ. Điều chỉnh cho U
DS
âm dần, với trị số còn nhỏ thì
dòng điện I
D
tăng tuyến tính với sự tăng trị số của điện áp U
DS
và mối quan hệ này
được tính theo định luật Ohm. Ta có vùng thuần trở của đặc tuyến.
Khi điện áp U
DS
đạt tới trị số bão hòa (U
DSb.h
) thì dòng điện cực máng cũng đạt tới
một trị số gọi là dòng điện bão hòa I
Db.h
.
Transistor trường loại MOS kênh cảm ứng còn gọi là MOSFET chế độ giàu
(Enhancement -Mode MOSFET viết tắt là E-MOSFET). Khi chế tạo MOSFET kênh
cảm ứng người ta không chế tạo kênh dẫn.
Hình 1.12: Cấu tạo MOSFET kênh cảm ứng [2]
b. Nguyên lý hoạt động
Nguyên lý làm việc của loại kênh P và kênh N giống nhau chỉ khác nhau về cực
tính của nguồn cung cấp đặt lên các chân cực. Trước tiên, nối cực nguồn S với đế và
nối đất, sau đó cấp điện áp giữa cực cửa và cực nguồn để tạo kênh dẫn.
- Tạo kênh dẫn và khả năng điều khiển của transistor
Ví dụ: ta trình bày nguyên lý hoạt động của MOSFET kênh cảm ứng loại P.
Theo nguyên tắc cấp nguồn điện cho các chân cực, ta cấp nguồn điện U
GS
<0, còn
U
DS
<0 để tác động cho các lỗ trống chuyển động từ cực nguồn về cực máng tạo nên
dòng điện.
Khi ta đặt một điện áp lên cực cửa âm hơn so với cực nguồn (U
GS
<0) đến một giá
trị gọi là điện áp ngưỡng (ký hiệu là U
GSth
) thì một số lỗ trống được hút về tạo thành
12
một lớp mỏng các lỗ trống trên bề mặt của lớp bán dẫn đế Si(N), nối liền cực nguồn S
với cực máng D và kênh dẫn điện được hình thành.
) khi U
DS
giữ không đổi
Điên áp đặt lên cực cửa yêu cầu phải đủ lớn để kênh dẫn đã được hình thành. Sau
đó, tat hay đổi điện áp U
DS
và theo dõi sự thay đổi của dòng I
D
theo điện áp U
DS
. Ta có
sơ đồ mạch nguyên lý đấu nối MOSFET kênh P mô tả trong hình 1.14a.
Xét đường cong đặc tuyến ra ứng với trị số U
GS
<0, ví dụ U
GS4
như trong hình
1.14b, ta thấy: Nếu U
DS
=0, thì các lỗ trống không chuyển động về cực máng nên dòng
I
D
=0
1.3. Transistor hiệu ứng trường ứng dụng ống nano carbon (CNTFET)
1.3.1. Giới thiệu CNTFET
Sự ra đời của transistor năm 1947 đã phần nào giải quyết được vấn đề tiêu hao
năng lượng trong hầu hết các thiết bị điện tử được thiết kế theo công nghệ bóng chân
không [21]. Transistor cũng là những viên gạch làm nên nhân của tất cả các bộ vi xử lý
mà chúng ta từng biết. Số lượng transistor trong bộ vi xử lý càng lớn, tốc độ xử lý
CNTFET cổng sau (back-gated CNTFET)
Linh kiện CNTFET cổng sau có cấu trúc tương đối đơn giản, bao gồm một ống
nano carbon đơn vách hoạt động như kênh dẫn, ống nano này được đặt trên đỉnh của
hai điện cực làm bằng kim loại quí (vàng hoặc platin), có chức năng như hai điện cực
nguồn và máng. Đế Silic được dùng như điện cực cổng, được ngăn cách với ống nano
và hai điện cực kim loại bằng một lớp SiO
2
dày 100 – 200nm.
Đặc điểm của CNTFET cổng sau: [3]
- Dòng điều khiển thấp
- Độ dẫn thấp (g=10
-6
S)
- Điện trở tiếp xúc lớn (> 1MΩ)
- Tần số hoạt động thấp
Cấu trúc CNTFET cổng sau là cấu trúc đầu tiên của CNTFET.
Hình 1.15: Cấu trúc CNTFET cổng sau [3]
CNTFET cổng trên (top-gated CNTFET)
Cấu trúc CNTFET cổng trước được chế tạo bằng cách gieo ống nano carbon đơn
vách trên một chất nền đã được oxy hoá. Cực nguồn và cực máng được chế tạo ở đầu
14
cuối bên trên ống nano. Một màng mỏng chất điện môi cổng dày từ 15-20nm được đặt
tại nhiệt độ 300
o
C qua quá trình lắng đọng bay hơi hoá học (CVD). Trên lớp điện môi
tạo điện cực cổng.
Đặc điểm của CNTFET cổng trên: [3]
dẫn của transistor và transistor sẽ ở trạng thái ngắt nếu điện áp cổng không được cung
cấp. [3]
1.3.4. Một vài ứng dụng điển hình của CNTFET
- CNTFET được sử dụng trong các mạch logic
15
Hình 1.18: Đường đặc trưng vào ra của một cổng đảo dùng CNTFET [3] Hình 1.19: Kết hợp số lẻ các cổng đảo và dẫn ra ngược lại ngõ vào
thu được mạch dao động vòng [3]
- CNTFET ứng dụng trong bộ nhớ
Hình 1.20: Một tế bào SRAM đơn giản được làm bằng CNTFET
nhờ nối chéo nhau với hai điện trở ngoài [3]
- Ứng dụng CNTFET để làm các biosensor.
Chương 2
THIẾT BỊ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Vật liệu, dụng cụ và thiết bị
2.1.1. Vật liệu
- Dichloroethane (C
2
H
4
Cl
2
)
- Tetra methyl ammonium hydroxide – TMAH ((CH
3
)
4
NOH)
- Hexa methyl disilazane (HMDS)
- Wafer Silic (Si)
- SWCNT (Ống nano carbon đơn vách)
Đường kính ống: 0.8nm
Chiều dài: 900nm
Chirality (6,5)
Lượng carbon > 90%
Lượng SWCNT: 80%
2.1.2. Dụng cụ và thiết bị thực nghiệm
16
- Cân điện tử
- Máy siêu âm (Branson 1510)
- Máy li tâm (Rotina 38)
- Bếp nung, tủ sấy
- Máy quay cơ (Spinner – Delta 6 RC TT)
- Máy nung (Delta 6 HP TT)
- Máy quang khắc (Mask Aligner – MJB4)
- Thiết bị phún xạ (Sputtering – Univex 350)
- Thiết bị bốc bay chùm điện tử (Electron beam)
Các thiết bị trên thuộc Phòng thí Nghiệm công nghệ nano – Đại Học Quốc Gia TP.
Hồ Chí Minh. a)
Hình 2.2: Hệ đo độ dày theo phương pháp cơ Hình 2.3: Hệ đo đặc trưng I – V Hình 2.4: Kính hiển vi lực nguyên tử (AFM)
Hình 2.5: Phổ kế micro Raman
17
Các thiết bị trên thuộc Phòng thí Nghiệm công nghệ nano – Đại Học Quốc Gia
TP. Hồ Chí Minh.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Oxy hoá nhiệt trong môi trường oxy khô (dry oxidation)
Việc chế tạo lớp ôxit cách điện SiO
2
trên bề mặt đế Si có thể thực hiện bằng nhiều
cách như: oxy hoá nhiệt, lắng đọng nhiệt phân, oxy hoá khí plasma trong đó phương
pháp oxy hoá nhiệt được sử dụng rộng rãi nhất.
Oxy hoá nhiệt là quá trình oxy hoá xảy ra giữa nguyên tử oxy trong môi trường và
nguyên tử Si có trên đế Si ở nhiệt độ cao, tạo nên lớp SiO
2
. Dải nhiệt độ oxy hoá
thường nằm trong vùng 900
o
C-1500
o
phân tử SiO
2
. Oxy hoá nhiệt trong môi trường khô cho chất lượng lớp SiO
2
tốt nhưng
tốc độ oxy hoá rất chậm.
Hình 2.6: Thiết bị oxy hoá nhiệt PEO 601 tại Phòng Thí Nghiệm CN Nano
2.2.2. Phương pháp phun phủ tạo lớp màng SWCNTs
Thiết bị bao gồm một súng phun được gắn với vòi phun áp suất thấp. Dung dịch
SWCNTs được đổ vào bình chứa sau đó được phun trực tiếp lên đế.
Hình 2.7: Thiết bị hỗ trợ việc phủ dung dịch SWCNT lên đế
a) bếp nung; b) súng phun
2.2.3. Quang khắc
Khái niệm
18
Quang khắc là kỹ thuật sử dụng trong công nghệ bán dẫn và công nghệ vật liệu nhằm
tạo ra các chi tiết của vật liệu và linh kiện với hình dạng và kích thước xác định bằng
cách sử dụng bức xạ ánh sáng làm biến đổi các chất cảm quang phủ trên bề mặt để tạo ra
hình ảnh cần tạo.
Hạn chế của quang khắc là do ánh sáng bị nhiễu xạ nên không thể hội tụ chùm
sáng xuống kích cỡ quá nhỏ, vì thế nên không thể chế tạo các chi tiết có kích thước
nano (độ phân giải của thiết bị quang khắc tốt nhất là 50 nm), do đó khi chế tạo các chi
tiết nhỏ cấp nanomet, người ta phải thay bằng công nghệ quang khắc chùm điện tử
(electron beam lithography).
Thiết bị quang khắc quang học của Phòng thí nghiệm Công nghệ Nano, ĐHQG
Tp. HCM cho phép chế tạo các cấu trúc với kích thước nhỏ nhất là 1 micromet. Có thể
tạo, sau đó nó được hội tụ trên bề mặt phiến đã phủ cảm quang nhờ một hệ thấu kính hội
tụ.
Qui trình quang khắc
Hình 2.9: Qui trình quang khắc
Hình 2.9 thể hiện một vài công đoạn quan trọng theo tứ tự của các bước trong
công nghệ quang khắc. Các bước chính bao gồm:
- Chuẩn bị dụng cụ, thiết bị, hoá chất, cảm quang, tủ sấy, đế bán dẫn và các
dụng cụ thiết bị cần thiết.
- Xử lý đế bán dẫn Si, sấy khô đế bán dẫn.
- Phủ lớp cảm quang lên đế bán dẫn bằng phương pháp quay li tâm.
- Sấy màng cảm quang trong lò.
- Lắp đặt các đế bán dẫn vào máy quang khắc, chiếu sáng UV.
- Hiện hình lớp cảm quang đã chiếu sáng trong các dung dịch thích hợp ứng với
từng loại cảm quang dương, âm.
- Ủ nhiệt cho lớp cảm quang.
- Ăn mòn lớp vật liệu màng mỏng vừa định hình tạo các cấu hình cửa sổ bằng
các dung dịch ăn mòn thích hợp.
- Tẩy lớp cảm quang dư thừa sau quang khắc, không để lại một vết bẩn hữu cơ
hay vô cơ nào trên vật liệu làm ảnh hưởng đến các công đoạn sau.
- Xử lý sạch các phiến đã ăn mòn tạo cửa sổ.
2.2.4. Phương pháp chế tạo màng kim loại làm điện cực
Có nhiều phương pháp hỗ trợ việc chế tạo màng kim loại làm điện cực, tuy nhiên
trong phạm vi luận văn chỉ đề cập đến hai phương pháp chính: bốc bay chùm tia điện
tử (được sử dụng để tạo điện cực nguồn, điện cực máng), phún xạ (tạo điện cực cổng).
+
được gia tốc về
phía catot làm bật ra các phần tử bia bay về phía anot tạo nên một màng mỏng trên bề
mặt đế bán dẫn. Các quá trình này cứ tiếp diễn. Gần catot có một vùng không gian gọi
là vùng tối catot.
Hình 2.11: Sơ đồ nguyên lý phún xạ bằng dòng điện một chiều
- Phương pháp phún xạ xoay chiều cao tần RF
Hình 2.12: Sơ đồ nguyên lý phún xạ xoay chiều cao tần RF
Nguyên lý phương pháp phún xạ RF được thể hiện như hình 2.12. Các phiến bán
dẫn được đặt trên một tấm điện cực nối đất, cực kia là bia mang vật liệu cần bốc bay
phún xạ, cực này được nối với nguồn phát tín hiệu cao tần. Tần số của máy phát cao
tần thường dùng là 13.56MHz. Vì các ion có khối lượng lớn hơn nhiều so với điện tử
nên chúng có quán tính lớn, vì thế chúng không thể phản ứng kịp với tần số RF, chúng
chỉ bị gia tốc bởi điện thế một chiều hình thành giữa hai điện cực bia và anot. Kết quả
là các ion dương sẽ bắn phá bia chọn lọc hơn, không còn các hạt điện tử bắn phá gây
nên các điện tử thứ cấp và một số hiệu ứng khác. Quá trình phún xạ này xảy ra tạo lên
trên bề mặt một lớp màng thích hợp. Theo tính toán, tần số RF thích hợp là 13.56MHz.
Phương pháp bốc bay bằng chùm tia điện tử
Phương pháp bốc bay bằng chùm tia điện tử là một phương pháp quan trọng dùng
để chế tạo các màng kim loại làm điện cực. Phương pháp này có thể thực hiện được
việc bốc bay các kim loại có nhiệt độ nóng chảy cao tới trên 3000
o
C.
Thông thường người ta dùng thuyền hay nồi có hình dạng nón cụt đặt trong một đế
vỏ bằng đồng, trong nồi để các kim loại cần bốc bay. Đế hay khối đồng có thế hiệu là
0V. Bên trong lòng khối đế bằng đồng có một hệ thống làm lạnh bằng nước lưu
chuyển. Bộ phận catot (súng điện tử) phát ra chùm điện tử, chúng được tăng tốc bởi
Hình 2.14: Mô hình mọc ống nano carbon với xúc tác là hạt kim loại
Tùy thuộc mối tương tác giữa hạt xúc tác kim loại và đế xúc tác mà quá trình tổng
hợp CNTs có thể từ phía dưới hình thành dần lên trên (base-growth) hoặc hình thành
từ đỉnh xuống (tip-growth) hoặc cả về hai phía của hạt xúc tác.
Cơ chế mọc của ống nano carbon có thể được diễn tả theo bốn bước như sau:
- Bước đầu tiên, khí hydrocarbon phân ly trên bề mặt kim loại thành carbon và
hydro.
- Bước thứ hai, bao gồm sự khuếch tán các nguyên tử carbon vào bề mặt kim
loại và lắng đọng dần bao quanh bề mặt hạt kim loại.
- Bước thứ ba, sau khi bao toàn bộ bề mặt hạt kim loại, trên đỉnh hạt xúc tác
hình thành mầm nhú của ống nano carbon.
- Cuối cùng, ống nano carbon mọc dần lên trên nền hạt kim loại xúc tác.
22
Quá trình mọc ống nano carbon diễn ra rất nhanh. Hầu hết quá trình mọc diễn ra
ngay trong thời điểm đầu tiên. Tốc độ mọc lên tới 60 µm/phút.
Tùy thuộc vào kích thước hạt nano kim loại, mà hình dạng và đường kính ống
nano carbon được tổng hợp trên nền xúc tác. Ngoài ra, chất lượng và hình dạng của
CNTs cũng phụ thuộc vào nhiệt độ tổng hợp. Thông thường, nhiệt độ tổng hợp từ 550
– 750
o
C cho ống nano đa vách và từ 850 – 1.000
o
C cho ống nano đơn vách.
Chiều dài ống nano phụ thuộc vào nguồn carbon (khí hydrocarbon) cung cấp cho
quá trình tổng hợp. Và không phải hạt xúc tác kim loại nào cũng tham gia vào sự hình
thành ống nano carbon.
Hình 2.15: Sơ đồ mô hình cơ chế mọc ống than nano với hạt xúc tác kim loại
C, và CNTs được hình thành trong pha khí thông qua sự liên kết cấu trúc giữa
các nguyên tử carbon. Trong suốt quá trình bốc bay bằng laser, một luồng khí trơ (He
23
hoặc Ar) được thổi vào buồng nhằm vận chuyển các ống nano đến ngưng tụ tại bộ
phận thu hồi được làm lạnh.
Về cơ bản, tia laser được sử dụng để bốc hơi bia graphite trong buồng. Như một
quá trình ngưng tụ nhiệt độ thấp, các nguyên tử carbon nhanh chóng liên kết thành các
nhóm cấu trúc carbon, trong đó có nano carbon. Một luồng khí trơ vận chuyển các ống
nano carbon đến thiết bị thu hồi.
Ống nano carbon được hình thành bằng phương pháp laser với bia carbon chủ yếu
là các ống nano đa vách, có độ dài tương đối ngắn (~ 300 nm), đường kính trong cùng
từ 1,5 đến 3,5 nm và tổng số vách là từ 4 đến 24 vách. Ống nano carbon đơn vách chỉ
có thể tổng hợp được nếu bia carbon có chứa vài phần trăm nickel và cobalt (~ 5%).
Sự bốc bay bằng laser cũng tương tự như phóng điện hồ quang nhưng ở nhiệt độ
cao hơn nhiều lần nhằm chuyển trạng thái carbon rắn thành pha hơi. Phương pháp
được coi là một trong những phương pháp tạo ống nano carbon có chất lượng cao,
đồng đều nhưng số lượng CNTs rất thấp.
Hình 2.17: Mô hình thiết bị phân ly bằng laser của bia carbon
Lắng đọng hơi hóa học
Hơn 25 năm trước đây, quá trình tổng hợp bằng lắng đọng hơi hóa học (CVD) với
xúc tác được dùng để tổng hợp các sợi carbon. Trong tổng hợp ống than nano, nó bao
gồm một dòng khí hydrocarbon chạy dọc theo một buồng nung nhiệt điện trở, và bên
trong buồng có thuyền chứa vật liệu xúc tác.
Nguồn khí carbon thường được sử dụng là một loại hydrocarbon (C
n
H
m
), như
quá trình mọc và khả năng ứng dụng trong quy mô sản xuất công nghiệp. Khuyết điểm
duy nhất có thể kể là ống nano carbon có tính chất cơ học yếu hơn so với CNTs được
tổng hợp bằng phóng điện hồ quang hoặc bốc bay laser.
25
Chương 3
CHẾ TẠO CNTFET
3.1. Cấu trúc CNTFET chế tạo
CNTFET được chế tạo theo dạng cổng sau (back-gated CNTFET).
Hình 3.1: Cấu trúc Back-Gated CNTFET thực nghiệm chế tạo
3.2. Chuẩn bị
3.2.1. Mặt nạ (mask)
Mặt nạ được thiết kế bằng chương trình Clewin để sử dụng trong quá trình quang
khắc gồm 6x6 vị trí được ký hiệu từ 11 đến 66 như hình 3.2a.
Hình 3.2: Cấu trúc mặt nạ
a) Cấu trúc mặt nạ; b) Cấu trúc điện cực S - D
Tại mỗi vị trí là 16 cặp điện cực được thiết kế với chiều rộng và chiều dài thay đổi.
Việc thiết kế nhằm mục đích tạo điều kiện khảo sát sự thay đổi các đặc tính điện của
các CNTFET tạo thành theo khoảng cách từ cực nguồn đến cực máng và chiều rộng
của cực máng, nguồn.
Chi tiết thiết kế bằng phần mềm Clewin tham khảo tại Phụ lục 2.
Bảng 2.1: Chiều rộng ứng với từng vị trí trên mặt nạ (đơn vị: µm)
11
(W2)
12
(W7)
36
(W10)
41
(W5)
42
(W7)
43
(W7)
44
(W10)
45
(W5)
46
(W7)
51
(W2)
52
(W5)
53
(W7)
54
(W10)
55
(W2)
56
(W5)
61
(W10)
62