Bài 20
chiến sự lan rộng ra cả nước.
Nhà nước phong kiến Việt Nam sụp đổ - phong trào kháng chiến của nhân
dân ta từ năm 1873 đến năm 1884
I. Mục tiêu bài học
1. Về kiến thức
Giúp học sinh nắm được:
- Từ 1873 Pháp mở rộng xâm lược cả nước, những diễn biến chính trong quá
trình mở rộng xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp.
- Diễn biến cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Bắc Kỳ, Trung Kỳ, kết
quả, ý nghĩa.
2. Về tư tưởng
- Ôn lại truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm.
- Giáo dục ý thức tôn trọng bảo vệ di tích lịch sử kháng chiến chống Pháp.
- Đánh giá đúng mức trách nhiệm của nhà Nguyễn trong việc để mất nước.
3. Về kỹ năng
- Rèn kỹ năng phân tích, đánh giá, nhận xét, rút ra bài học lịch sử, liên hệ với
hiện tại.
- Sử dụng lược đồ trình bày các sự kiện.
II. Thiết bị, tài liệu dạy - học
- Lược đồ trận Cầu Giấy lần 1 và lần 2.
- Tư liệu về các cuộc kháng chiến ở Bắc Kỳ.
- Tranh ảnh một số nhân vật lịch sử có liên quan đến tiết học.
- Văn thơ yêu nước đương thời.
III. Gợi ý tiến trình tổ chức dạy học
1. Kiểm tra bài cũ
1. Tóm tắt diễn biến của cuộc khởi nghĩa Trương Định.
2. Hoàn cảnh, nội dung của điều ước Nhâm Tuất.
3. Em hãy nhận xét, so sánh tinh thần chống Pháp của triều đình và của nhân
dân ta từ năm 1858 - 1873.
2. Dẫn dắt vào bài mới
bảo thủ “bế quan tỏa cảng”, không tính đến việc
lấy lại 6 tỉnh Nam Kỳ.
Nội bộ quan lại bước đầu có sự phân hóa giữa
I. Thực dân Pháp tiến đánh Bắc Kỳ
lần thứ nhất (1873) kháng chiến lan
rộng ra Bắc Kỳ.
1. Tình hình Việt Nam trước khi
Pháp đánh Bắc Kỳ lần thứ nhất.
- Sau khi Pháp chiếm 6 tỉnh Nam Kỳ
(1867 tình hình nước ta càng khủng
hoảng nghiêm trọng.
- Về chính trị, nhà Nguyễn tiếp tục
chính sách bảo thủ “bế quan tỏa
cảng”. Nội bộ quan lại phân hóa
bước đầu thành 2 bộ phận chủ chiến,
chủ hòa.
- Kinh tế: ngày càng kiệt quệ.
bộ phận chủ chiến và chủ hòa.
+ Về kinh tế: Nền kinh tế của đất nước ngày
càng bị kiệt quệ vì triều đình huy động tiền để
trả chiến phí cho Pháp.
+ Xã hội: Đời sống ngày càng khó khăn, mâu
thuẫn xã hội ngày càng gay gắt, nhân dân bất
bình đứng lên chống triều đình ngày càng
nhiều.
+ Một số quan lại có tư tưởng tiến bộ đã đề nghị
cải cách, song triều đình không chấp nhận. Tiêu
biểu là Nguyễn Trường Tộ đã mạnh dạn dâng
lên triều đình bản điều trấn, bày tỏ ý kiến cải
cách duy tân, ông đã nhiều lần gửi điều trấn đề
Kỳ lần thứ nhất 1873.
- Giáo viên đặt câu hỏi đến 1867 Pháp đánh
chiếm được những vùng nào? Theo em Pháp có
dừng lại không?
- Học sinh trả lời: Năm 1867 Pháp chiếm được
6 tỉnh Nam Kỳ, và tất yếu Pháp không dừng lại
vì mục tiêu của Pháp lúc đầu là cả Việt Nam,
nên Pháp mới đánh Đà Nẵng để làm bàn đạp
đánh thốc lên Huế, buộc nhà Nguyễn đầu hàng,
vì vậy sau khi chiếm xong Nam kỳ Pháp tất yếu
sẽ mở rộng đánh chiếm toàn bộ Việt Nam.
- Giáo viên đặt vấn đề vậy nơi tiếp theo chúng
đánh chiếm là đâu? Bắc Kỳ? hay Trung Kỳ?
Giáo viên trực tiếp trả lời: Nơi tiếp theo Pháp
đánh không phải là Huế mà là Bắc Kỳ? Ngay
sau khi Pháp chiếm Nam Bộ Pháp âm mưu xâm
lược Bắc Kỳ.
- Giáo viên nêu câu hỏi: Tại sao Pháp xâm lược
Bắc Kỳ mà chưa phải là kinh đô Huế?
- Học sinh dựa vào những kiến thức đã học và
suy nghĩ trả lời:
- Giáo viên nhận xét, kết luận: Vì nước Pháp
vừa ra khỏi chiến tranh Pháp - Phổ 1870; tình
hình kinh tế chính trị chưa ổn định vì vậy Pháp
chưa thể kết thúc chiến tranh xâm lược Việt
Nam. Nhưng bọn thực dân Pháp ở Nam Kỳ nôn
nóng muốn hành động chúng luôn nhòm ngó
Bắc Kỳ nhất là từ khi Nam Kỳ được củng cố, vì
Bắc Kỳ là vùng đất giàu tài nguyên, khoáng
sản, mà nhu cầu nguyên liệu của Pháp càng lớn
quân lính kéo tới Bắc Kỳ tháng 11/1872. ỷ thế
nhà Thanh, Đuypuy tự tiện cho tầu ngược sông
Hồng lên Vân Nam (Trung Quốc) mặc dù chưa
được phép của triều đình Huế. Hắn còn ngang
ngược đòi đóng quân bên bờ sông Hồng, có
nhượng địa ở Hà Nội, được cấp than đá để đưa
sang Vân Nam. Lính Pháp và Thổ phỉ dưới
trướng Đuy-puy còn cướp gạo của Triều đình,
bắt quan lính và dân đem xuống tầu, khước từ
lời mời tới thương thuyết của tổng đốc Nguyễn
Tri Phương.
Quan hệ giữa Triều đình và Pháp trở nên căng
thẳng, lấy cớ “giải quyết vụ Đuy-puy” đang gây
rối ở Hà Nội bọn thực dân hiếu chiến Pháp ở
Sài Gòn đã đem quân ra Bắc. Đội quân do Đại
úy Gác-ni-e đứng đầu, bề ngoài với danh nghĩa
giải quyết tại chỗ vụ Đuy-puy, nhưng bên trong
chính là để kiếm cớ can thiệp sâu vào vấn đề
Bắc Kỳ.
- Pháp cho gián điệp do thám tình
hình Miền Bắc
- Tổ chức các đạo quân nội ứng.- Lấy cớ giải quyết vụ Đuy-puy đang
gây rối ở Hà Nội thực dân Pháp đem
quân ra Bắc.
* Hoạt động 3: Cả lớp/cá nhân
- GV yêu cầu học sinh theo dõi tiếp SGK để
thấy được quá trình Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ
- Học sinh theo dõi SGK: sau đó trả lời câu hỏi:
- Giáo viên nhận xét, bổ sung:
+ Khi pháp nổ súng đánh thành Hà Nội: 100
- Ngày 5/11/1873 đội quân Tàu chiến
của quân Pháp do Gác-ni-e chỉ huy ra
đến Hà Nội, giở trò khiêu khích quân
ta.
- Ngày 19/11/1873 Pháp gửi tối hậu
thư cho Tổng đốc thành Hà Nội.
- Không đợi trả lời 20/11/1873 Pháp
tấn công thành Hà Nội → chiếm được
thành sau đó mở rộng đánh chiếm các
tỉnh đồng Bằng Sông Hồng.
3. Phong trào kháng chiến ở Bắc
Kỳ trong những năm 1873 - 1874.
nghĩa binh triều đình đã chiến đấu anh dũng và
hy sinh đến người cuối cùng tại Ô Quan
Trưởng. Giáo viên cung cấp thêm tư liệu về Ô
Quan Trưởng. Đây là một trong những cửa Ô
còn sót lại của tòa thành Thăng Long cũ, được
xây dựng vào năm Cảnh Hưng thứ 10 (1749)
đến năm Gia Long thứ 3 được xây dựng lại và
giữ nguyên kiểu cách đến ngày nay. (Giáo viên
có thể cho học sinh xem ảnh của Ô Quan
Trưởng hoặc trình chiếu powerpoint). Hiện ở
cửa ô còn nguyên cửa chính và hai cửa phụ 2
bên. Bên trên cửa lớn có ghi ba chữ Hán “Đông
Hà Môn” tức là cửa ô Đông Hà, tên gọi một
phường thời Lê bao gồm khu vực Hàng Chiếu,
Thanh Hà, Đào Duy Từ. Sở dĩ cửa ô còn có tên
sinh, thành Hà Nội thất thủ, quân
triều đình nhanh chóng tan rã.
Định. Ông đã cho xây dựng đại đồn Chí Hòa để
chặn giặc. Nhưng lần này đại đồn của ông
không chịu nổi sức công phá bởi vũ khí đại bác
của Pháp. Vì vậy đại đồn thất thủ.
Lần thứ 3 vào năm 1872, ông được triều đình
điều đi giữ chức Tuyên sát đổng sứ đại thần,
thay mặt triều đình xem xét việc quân sự ở Bắc
Kỳ, làm tổng đốc thành Hà Nội, lúc này ông đã
73 tuổi, lần này liệu ông có giữ được thành Hà
Nội không? Khi Pháp tới Hà Nội khiêu chiến,
quan quân triều đình tỏ ra lúng túng, bị động,
vũ khí thô sơ. Thành cao, hào sâu giờ đây
không còn là biện pháp phòng thủ tối ưu nữa,
nó chỉ phù hợp với thời Trung đại khi mà vũ khí
của đối phương còn thô sơ (cung tên, giáo mác)
vì vậy mặc dù chiến đấu anh dũng, Nguyễn Tri
Phương đã lên cửa Thành phía Nam trực tiếp
chỉ huy cuộc chiến đấu; song thành Hà Nội vẫn
thất thủ, Nguyễn Tri Phương bị trúng đạn ở
bụng. Thực dân Pháp đã dùng thuốc Tây của
chúng để chữa trị hòng mua chuộc ông nhưng
ông đã xé băng, nhịn ăn gần một tháng và mất,
thọ 73 tuổi. Con trai ông Nguyễn Lâm cũng hi
sinh tại trận địa, quân triều đình nhanh chóng
tan rã.
Quân triều đình không thiếu lòng dũng cảm
song do vũ khí thô sơ, cách tổ chức đánh giặc
nặng về phòng thủ, kém linh hoạt cho nên
nhỏ SGK trang 121). Chiến thắng Cầu Giấy có
ý nghĩa lớn, khiến cho nhân dân ta vô cùng
phấn khích, ngược lại làm cho thực dân Pháp
hoang mang lo sợ, chúng tìm cách thương
lượng với triều đình Huế. Tình hình đó mở ra
một cơ hội để quân ta tấn công tiêu diệt địch
buộc chúng rút khỏi Bắc Kỳ bằng tấn công quân
sự. Song triều đình lại một lần nữa ký hiệp ước
với Pháp chịu nhiều thiệt thòi.
* Hoạt động 3: Cả lớp / cá nhân
- Giáo viên yêu cầu học sinh đọc nội dung cơ
bản của hiệp ước trong sách giáo khoa, và đánh
giá về hiệp ước. Giáo viên cung cấp thêm thông
tin sau hiệp ước 1874: Triều đình còn ký với
Pháp một bản thương lượng gồm 29 khoản cho
phép thực dân Pháp xác lập những đặc quyền
kinh tế của chúng trên khắp đất nước Việt Nam.
- Phong trào kháng chiến của nhân
dân:
+ Khi Pháp đến Hà Nội, nhân dân chủ
động kháng chiến, không hợp tác với
giặc.
+ Khi thành Hà Nội thất thủ nhân dân
Hà Nội và nhân dân các tỉnh đồng
bằng Bắc Bộ vẫn tiếp tục chiến đấu
→ buộc Pháp phải rút về các tỉnh lỵ
cố thủ.
+ Ngày 21/12/1873 quân ta phục kích
địch ở Cầu Giấy, Gácniê tử trận →
Thực dân Pháp hoang mang chủ động
một. Từ thập kỷ 70 của thế kỷ XIX nước Pháp
đã bước vào giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, nhu
cầu thuộc địa trở nên cấp thiết
→
thực dân Pháp
ráo riết xúc tiến âm mưu xâm lược toàn bộ Việt
Nam.
- Giáo viên yêu cầu học sinh đọc sách giáo khoa
để thấy được quá trình Pháp xâm lược Bắc Kỳ
- Năm 1874 triều đình ký với thực
dân Pháp điều ước Giáp Tuất, dâng
toàn bộ 6 tỉnh Nam Kỳ cho Pháp.
→ Hiệp ước gây nên làn sóng bất
bình trong nhân dân → Phong trào
kháng chiến kết hợp giữa chống thực
dân với chống phong kiến đầu hàng.
II. Thực dân Pháp tiến đánh Bắc
Kỳ lần thứ hai. Cuộc kháng chiến ở
Bắc Kỳ và Trung Kỳ trong những
lần thứ hai:
- HS theo dõi SGK quá trình Pháp xâm lược
Bắc Kỳ lần hai, trình bày trước lớp.
- Giáo viên bổ sung kết luận:
+ Trước khi xâm lược, Pháp phái người ra điều
tra tình hình Bắc Kỳ. Năm 1882 Pháp vu cáo
triều đình Huế vi phạm hiệp ước 1874 đế lấy cớ
kéo quân ra Bắc.
+ Ngày 3 - 4 - 1882 quân Pháp do Đại tá Hải
Quân Rivie chỉ huy bất ngờ đổ bộ lên Hà Nội.
Ngày 25 - 4 sau khi được tăng viện binh, chúng
Huế vi phạm hiệp ước 1874 để lấy cớ
kéo quân ra Bắc
- Ngày 3 - 4 - 1882 Pháp bất ngờ đổ
bộ lên Hà Nội
- Ngày 25 - 4 - 1882 Pháp nổ súng
chiếm thành Hà Nội.
- Giáo viên dẫn dắt: Khi Pháp đánh chiếm Bắc
Kỳ lần hai nhân dân ta đã kháng chiến như thế
nào? Kết quả ra sao, chúng ta cùng tìm hiểu
phần 2.
* Hoạt động 2: Cả lớp / cá nhân
- Giáo viên: Cuộc kháng chiến của nhân dân ta
chống thực dân Pháp xâm lược lần hai kịch bản
tương tự như lần đầu giáo viên yêu cầu học sinh
đọc SGK để thấy được quan quân triều đình
kháng chiến ra sao, nhân dân kháng chiến như
thế nào?
- Học sinh theo dõi sách giáo khoa trả lời
- Giáo viên bổ sung, kết luận:
- Vừa đặt chân đến Hà Nội (4/1882) Rivie đã
giở trò khiêu khích, đòi đóng quân trong thành
và phá hủy các công sự phòng thủ trên mặt
thành. Mờ sáng ngày 25/4, Rivie gửi tối hậu thư
cho tổng đốc Hoàng Diệu, đòi nộp thành. Hạn
trả lời thư chưa hết, chúng đã nổ súng đánh
thành, quan quân triều dình do Hoàng Diệu chỉ
huy kiên quyết chống lại, Hoàng Diệu xông lên
thành chỉ huy quân sỹ chống cự. Cuộc chiến
đấu đang diễn ra quyết liệt thì bỗng dưng kho
thuốc đạn trong thành bốc cháy (do có nội gián)
lại thành trì và quân ngũ để đề phòng. Trước đó,
ông đã dâng sớ lên vua Tự Đức đề nghị việc
phòng chống giặc vì theo ông Hà Nội là yết hầu
của Bắc Kỳ và cũng là nơi then chốt của nước
ta, nếu Hà Nội mất thì các tỉnh sẽ mất theo,
nhưng vua Tự Đức đã làm thinh. Đến khi Hà
Nội bị uy hiếp, ông đã một mặt xin triều đình
Huế viện binh, một mặt ra lệnh giới nghiêm và
thông báo các tỉnh đề phòng, nhưng trong khi
Hà Nội đang dầu sôi, lửa bỏng thì triều đình lại
yêu cầu triệt binh “để người Pháp khỏi nghi
ngờ” nhưng ông đã quyết tâm sống chết với
thành. Đến khi không giữ được thành ông đã
tuẫn tiết để giữ trọn khí tiết. Trong di biểu ông
viết trước khi chết vẫn tỏ lòng khâm phục
Nguyễn Tri Phương một tấm gương sáng chói
của người từng giữ thành.
“Lòng có trung thề với Long thành
Xin đi theo hương hồn Tri Phương dưới đất”
+ Trong khi triều đình nhu nhược, quân đội
nhanh chóng tan rã, thì phong trào đấu tranh
của nhân dân vẫn tiếp tục. Ngay từ đầu đến Hà
Nội. Đội quân của Rivie đã vấp phải tinh thần
quyết chiến của nhân dân Hà Nội. Họ tự tay đốt
các dãy phố, tạo thành hàng rào lửa cản giặc,
khi mất thành Hà Nội nhân dân tiếp tục kháng
chiến với nhiều hình thức.
- Giáo viên yêu cầu học sinh theo dõi sách giáo
khoa các hoạt động chống Pháp của nhân dân
(phần chữ nhỏ trang 123).
- Giáo viên dẫn dắt: Thực dân Pháp tấn công
Thuận An như thế nào? Chúng ta cùng tìm hiểu
phần III.
* Hoạt động 1: Cả lớp
- Giáo viên dùng lược đồ cuộc kháng chiến
chống Pháp xâm lược giới thiệu về cửa biển
Thuận An: cách kinh đô Huế khoảng 20km, từ
cửa biển có thể theo dọc sông Hương đánh thốc
- Nhân dân dũng cảm chiến đấu
chống Pháp bằng nhiều hình thức:
+ Các sỹ phu không thi hành mệnh
lệnh của triều đình tiếp tục tổ chức
kháng chiến.
+ Nhân dân Hà Nội và các tỉnh tích
cực kháng chiến bằng nhiều hình thức
sáng tạo.
+ Tiêu biểu có trận phục kích Cầu
Giấy lần hai 19 - 5 - 1883 → Rivie bỏ
mạng, cổ vũ tinh thần chiến đấu của
nhân dân.
lên Huế, đây là một vị trí phòng thủ trọng yếu
của Huế, được mệnh danh là cổ họng của kinh
thành Huế, mất Thuận An coi như mất Huế.
- Học sinh theo dõi lược đồ, thấy được vị trí
quan trọng của Thuận An đối với Huế.
- Giáo viên giảng giải: trước thái độ ảo tưởng
của triều đình Huế thực dân Pháp càng củng cố
quyết tâm xâm lược toàn bộ Việt Nam. Nhân
cái chết của Rivie thực dân Pháp lớn tiếng kêu
gọi “trả thù”, vạch kế hoạch đánh chiếm kinh
+ Lợi dụng Tự Đức mất, triều đình
lục đục → Pháp quyết định đánh Huế.
- Ngày 18 - 8 - 1883 Pháp tấn công
Thuận An.
- Chiều ngày 20 - 8 - 1873 Pháp đổ
bộ lên bờ.
ước 1883 và 1884?
- Học sinh theo dõi sách giáo khoa trả lời.
- Giáo viên nhận xét, bổ sung, kết luận:
+ Nghe tin Pháp tấn công Thuận An triều đình
Huế vô cùng bối rối, bèn cử đại diện là Nguyễn
Văn Tường xuống Thuận An xin đình chiến.
Tranh thủ thái độ mềm yếu của triều đình, Cao
ủy Pháp Hác Măng (đại diện cao cấp của Pháp)
đi ngay lên Huế đặt điều kiện cho một Hiệp ước
mới. Triều đình Huế cử Trần Đình Túc và
Nguyễn Trọng Hợp đứng ra thương thuyết,
nhưng thực ra là để nhận các điều kiện do Hác
Măng đưa ra 25 - 8 - 1883 bản Hiệp ước mới
được đưa ra buộc triều đình Huế phải ký kết.
+ Giáo viên có thể yêu cầu 1 học sinh đọc to nội
dung Hiệp ước Hác Măng, hoặc trình chiếu trên
Papoi nội dung cơ bản của Hiệp ước Hác Măng.
Giáo viên phân tích thêm: Theo các nội dung
của Hiệp ước Việt Nam mất quyền tự chủ trên
phạm vi toàn quốc, triều đình Huế đã chính
thức nhận sự bảo hộ của nước Pháp, mọi công
việc chính trị, kinh tế, ngoại giao của Việt Nam
đều do Pháp nắm. ở Trung Kỳ do triều đình cai
quản, song trên thực tế đại diện của Pháp, khâm
• Bắc Kỳ là đất bảo hộ
• Trung Kỳ là triều đình quản lý.
+ Đại diện của Pháp ở Huế trực tiếp
điều khiển các công việc ở Trung Kỳ.
+ Ngoại giao của Việt Nam do Pháp
nắm giữ.
+ Quân sự: Pháp được tự do đóng
thể giải thích khái niệm thuộc địa nửa phong
kiến là một nước chính quyền phong kiến còn,
song chủ quyền dân tộc bị mất và phải phụ
thuộc nước ngoài. Nhà Nguyễn hầu như không
còn gì để mất nữa, có chăng chỉ còn lại một
triều đình hữu danh, vô thực.
* Hoạt động 3: Cả lớp
- Giáo viên dẫn dắt: Hiệp ước Hác Măng, triều
đình Huế coi như đã phản bội lại nhân dân cả
nước, mặc dù vậy quân dân ngoài Bắc vẫn
quyết tâm kháng chiến đến cùng. Lệnh triệt
binh của triều đình không ai nghe theo, nhiều
trung tâm kháng chiến vẫn tiếp tục hình thành,
các toán nghĩa binh do các quan lại chủ chiến
đã phối hợp với các lực lượng quân Thanh (kéo
sang từ mùa thu 1882 liên tiếp quấy đảo, tiến
công quân Pháp gây cho chúng nhiều thiệt hại.
Để chấm dứt chiến sự, tháng 12 - 1883 Pháp
buộc phải tiến hành các cuộc hành binh nhằm
tiêu diệt các ổ đề kháng còn sót lại. Đồng thời
tiến hành thương lượng để loại trừ sự can thiệp
của nhà Thanh, Chính phủ Pháp đã cử Patơnốt
sang Việt Nam và cùng triều đình Huế ký một
- Học sinh suy nghĩ, thảo luận với nhau để trả lời.
- Giáo viên bổ sung giúp học sinh nắm được những vấn đề sau:
+ Sở dĩ Pháp phải kéo dài chiến tranh xâm lược Việt Nam là do đi đến đâu
chúng cũng luôn vấp phải sức kháng cự quyết liệt, ngoan cường của nhân dân ta.
+ Cuộc kháng chiến của nhân dân ta cuối cùng đã thất bại, triều Nguyễn đầu
hàng, thực dân Pháp hoàn thành xâm lược Việt Nam năm 1884.
+ Nguyên nhân thất bại:
- Lực lượng chênh lệch: Giáo viên có thể trình chiếu trên Papoi hoặc cho học
sinh quan sát bức tranh quân lính triều Nguyễn so sánh với những bức ảnh quân
đội Pháp. Giáo viên khắc sâu sự chênh lệch về trang bị vũ khí. Lực lượng kháng
chiến của quân ta chủ yếu là: “dân ấp, dân lân”, với những vũ khí thô sơ: ngoài cật
có một manh áo vải, trong tay cầm một gậy tầm vông, hỏa mai đánh bằng con cúi,
gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay. Còn quân địch tinh nhuệ: Thằng Tây có đạn
nhỏ, đạn to, có tàu chiếc, tàu đồng, súng nổ.
- Triều đình bỏ dân, quan lại hèn nhát
→
kháng chiến của nhân dân mang tính
tự phát.
- Triều đình nhu nhược, đường lối kháng chiến không đúng đắn, không đoàn
kết với nhân dân.
+ ý nghĩa:
- Thể hiện tinh thần yêu nước, ý trí chiến đấu của nhân dân ta tiếp nối truyền
thống yêu nước, chống ngoại xâm của dân tộc.
- Làm thất bại kế hoạch đánh nhanh, thắng nhanh của thực dân Pháp → khiến
Pháp phải kéo dài cuộc xâm lược Việt Nam gần 30 năm.
- Để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu.
+ Đánh giá trách nhiệm của nhà Nguyễn: Có nhiều ý kiến khác nhau, có ý kiến
cho rằng nhà Nguyễn phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước việc mất nước, có ý
kiến cho rằng nhà Nguyễn chỉ phải chịu một phần trách nhiệm trong việc mất
nước, có người lại cho rằng việc mất nước là tất yếu nhà Nguyễn không phải chịu