TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THUỶ SẢN
ĐỖ MINH CHUNG
PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ TRỊ CÁ LÓC NUÔI
Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CAO HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
2010
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THUỶ SẢN
ĐỖ MINH CHUNG
PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ TRỊ CÁ LÓC NUÔI
Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CAO HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Ts. LÊ XUÂN SINH
2010
i
XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG
ii
LỜI CẢM TẠ
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, Ban chủ nhiệm khoa
Thủy sản, Phòng Quản lý khoa học và Đào tạo sau đại học trường Đại học Cần
Thơ đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ và
thực hiện đề tài trong thời gian qua.
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Lê Xuân Sinh đã tận tình giúp
đỡ, hướng dẫn và đóng góp nhiều ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn tốt
nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy/Cô giảng dạy chương trình cao học
Nuôi trồng Thủy sản đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và tận tâm truyền
(114
con/m
3
) với tỷ lệ sống tới khi thu hoạch đạt khoảng 53,2% và năng suất khoảng
41,9 kg/m
3
/vụ. Giá thành sản xuất cá lóc khoảng 29,7 ngàn đồng/kg và khi bỏ
qua chi phí cá tạp mà các hộ tự khai thác làm thức ăn cho cá lóc thì giá thành
giảm xuống còn 24,4 ngàn đồng/kg.
Nguồn cung cấp cá lóc nguyên liệu cho các vựa thu mua chủ yếu từ các
hộ nuôi cá lóc (54,7%) và các chủ vựa bán lại cho các vựa lớn hơn ở TPHCM
(58,8%). Còn người bán lẻ ở các chợ tập trung bán cho người tiêu dùng trực tiếp
tại địa phương.
Tổng lượng cá lóc mua vào để chế biến khô cá lóc bình quân khoảng 8,2
tấn/cơ sở /năm, chủ yếu được mua từ các vựa thu mua (84,4%) và nguồn tiêu thụ
chính là ở TPHCM (60,4%). Tổng lượng cá lóc nguyên liệu mua vào của các cơ
sở chế biến mắm cá lóc bình quân khoảng 9,0 tấn/cơ sở/năm, hầu hết được mua
trực tiếp từ người nuôi cá lóc (39,6%). Hiện nay, lượng cá lóc tự nhiên giảm
mạnh nên một số cơ sở chế biến tìm nguồn cá lóc tự nhiên thay thế từ
Campuchia (5,7%), lượng cá lóc tự nhiên này được nhập về nhiều vào mùa lũ
hằng năm.
Có 10 kênh phân phối sản phẩm cá lóc trong toàn bộ chuỗi, trong đó có 2
kênh thị trường chính với lượng cá lóc tiêu thụ nhiều nhất là kênh 3 (tiêu thụ tại
ĐBSCL) và kênh 9 (tiêu thụ tại TP HCM). Lợi nhuận phân phối cho các tác nhân
tham gia là không đồng đều, chủ yếu tập trung nhiều cho các vựa thu mua (chiếm
từ 87,9-93,4% lợi nhuận của toàn chuỗi). Các hộ bán lẻ tuy tạo ra lợi nhuận/kg là
cao nhất nhưng sản lượng bán ra lại thấp hơn các nhóm khác, do đó tổng lợi
nhuận mỗi hộ bán lẻ thu được cũng thấp hơn các nhóm còn lại.
iv
Có 5 biến độc lập ảnh hưởng đồng thời cùng lúc có ý nghĩa (p<0,05) đến
of the Mekong Delta. The study titled “Value chain analysis of cultural
snakehead product in the Mekong Delta” was carried out in An Giang, Dong
Thap, Can Tho and Hau Giang province aiming to study the status and sollution
for the development snakehead culture in the Mekong Delta. There are 5 main
groups of actors of snakehead value chain (farmers, traders, processors, retailers
and end consumers). There are also two chain supporters, including market
managers and government officers.
Average stocking duration was 4-6 months/crop depending on cultured
species and selling price at the harvest. Average stocking density was 204
fish/m
2
(or 114 fish/m
3
) with the average survival rate of 53.2% and the average
yield was 41.9 kg/m
3
/crop. Production cost was VND 29,700 per kg and if the
cost of self-captured trash fish was not taken into account, this cost was reduced
about VND 24,400 per kg only.
Most of local traders bought table snakehead directly from the grow-out
farms (54.7%) and resold the fish to bigger traders in HCM city (58.8%). All
retailers in the local markets sold out the bought fish to local consumers.
For dried snakehead processors, average amount of raw fish bought was
8.2 tons/processor/year, of which 84.4% was bought from fish traders. They sold
out their dried fish to HCM city after processing (60.4%). Average purchased
quantity of raw snakehead bought by fish sauce processors was 9.0
tons/processor/year, of which 39.6% was bought from grow-out farms. Today,
some sauce processors bought wild snakehead from Cambodia (5.7%) due to the
depletion of wild fish and the trade of wild snakehead from Cambodia was
mainly in flooding season (September to December).
association with protection of aquatic resources and capital and technical support
as well as a better organization of production and marketing of snakeheads; (ii)
Development of the grow-out area for snakeheads with more application of
pellet feed, aiming to increase the production of snakeheads and reduce the
pressure on wild freshwater fish resources; and (iii) It is better to have some
policies to support the processors export of snakehead products for market
expansion, larger production and better and more stable price.
Title: Value chain analysis of cultural snakehead product in the Mekong Delta
Key words: snakehead fish, value chain, actors, yield, cost, profit.
vii
CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả
nghiên cứu của tôi và các kết quả của nghiên cứu này chưa được dùng cho bất
cứ luận văn cùng cấp nào khác.
Ngày tháng năm 2010
Ký tên
Đỗ Minh Chung
viii
MỤC LỤC
Trang
Tóm tắt iii
Abstract v
Danh sách bảng x
Danh sách hình xi
Danh sách các từ viết tắt xiii
Chương I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Giới thiệu 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
1.3 Nội dung của đề tài 2
1.4 Thời gian thực hiện đề tài 2
4.4.1 Phương trình hồi qui đa biến 75
4.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng mạnh đến năng suất cá lóc nuôi 76
4.5 Phân tích ma trận SWOT 77
Chương V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 83
5.1 Kết luận 83
5.1.1 Hộ sản xuất 83
5.1.2 Nhóm thương lái 83
5.1.3 Cơ sở chế biến 84
5.1.4 Chuỗi giá trị 84
5.1.5 Quản lý ngành 84
5.2 Đề xuất 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
PHỤ LỤC 91
x
DANH SÁCH BẢNG
Bảng 2.1: Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản của Việt Nam 5
Bảng 2.2: Sản lượng thủy sản nuôi trồng phân theo địa phương ở ĐBSCL 7
Bảng 3.1: Số mẫu dự kiến thu trong quá trình nghiên cứu 23
Bảng 4.1: Thông tin chung về các nhóm tác nhân 26
Bảng 4.2: Thông tin về thiết kế trại sản xuất giống 28
Bảng 4.3: Thông tin về cá bố mẹ cho trại SXG 29
Bảng 4.4: Thông tin về thức ăn cho trại SXG 29
Bảng 4.5: Thông tin về thu hoạch cho trại SXG 30
Bảng 4.6: Chi phí sản xuất của trại SXG 32
Bảng 4.7: Thông tin về thiết kế mô hình trong ương cá lóc giống 33
Bảng 4.8: Thông tin về con giống khi ương cá lóc 33
Bảng 4.9: Thông tin về Thức ăn khi ương cá lóc 34
Bảng 4.10: Thông tin về Thu hoạch cá lóc sau khi ương 35
Bảng 4.11: Các chỉ tiêu tài chính khi ương cá lóc 37
Bảng 4.12: Thiết kế công trình nuôi cá lóc 38
DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.1: Sản lượng thủy sản thế giới 3
Hình 2.2: Sản lượng nuôi thủy sản thế giới 4
Hình 2.3: Sản lượng thủy sản ở Việt Nam năm 1997 – 2009 và kế hoạch
2010 4
Hình 2.4: Sản lượng nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam năm 1997 – 2009 và
kế hoạch 2010 6
Hình 2.5: Cá lóc đen (Channa striata) 9
Hình 2.6: Cá lóc bông (Channa micropeltes) 9
Hình 2.7: Biến động giá cá lóc nuôi trong năm (2007-2009) 13
Hình 2.8: Biến động giá khô cá lóc trong năm (2007-2009) 13
Hình 2.9: Chuỗi giá trị của Michael Porter (1985) 17
Hình 2.10: Hệ thống giá trị của Michael Porter (1985) 18
Hình 2.11: Chuỗi giá trị gạo ở Thái Lan 19
Hình 2.12: Chuỗi giá trị trái bơ ở Đắk Lắk 20
Hình 2.13: Chuỗi giá trị cá tra ở An Giang 20
Hình 3.1: Bản đồ Đồng bằng sông Cửu Long 24
Hình 4.1 Sơ đồ các nhóm tác nhân tham gia chuỗi giá trị cá lóc 25
Hình 4.2: Hình thức hoạch động kinh doanh của nhóm sản xuất 27
Hình 4.3: Nguồn cung cấp cá bố mẹ cho sản xuất giống 28
Hình 4.4: Cơ cấu các loại thức ăn được sử dụng trong sản xuất giống 30
Hình 4.5: Cơ cấu nguồn tiêu thụ cá giống 31
Hình 4.6: Cơ cấu chi phí cố định của sản xuất giống 31
Hình 4.7: Cơ cấu chi phí biến đổi của sản xuất giống 31
Hình 4.8: Cơ cấu nguồn cung cấp cá giống cho các hộ ương 34
Hình 4.9: Cơ cấu lượng thức ăn được cung cấp từ các nguồn khi ương 35
Hình 4.10: Cơ cấu tiêu thụ cá giống khi ương 36
Hình 4.11: Cơ cấu chi phí cố định của ương giống 37
Hình 4.12: Cơ cấu chi phí biến đổi của ương giống 37
Hình 4.13: Số ao, vèo, bè nuôi của các hộ nuôi cá lóc 39
thôn 64
Hình 4.42: Cơ cấu chi phí, thu nhập và lợi nhuận của hộ tiêu dùng thành
thị 64
Hình 4.43: Nguồn bán cá lóc đen cho người tiêu dùng nông thôn 65
Hình 4.44: Nguồn bán cá lóc đen cho người tiêu dùng thành thị 65
Hình 4.45: Sơ đồ chuỗi giá trị cá lóc ở ĐBSCL 72
xiii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CIRAD Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế của Pháp về Phát triển nông
nghiệp
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
ĐHCT Đại học Cần Thơ
FAO Tổ chức nông lương thế giới
GDP Tổng thu nhập quốc dân
GTZ Tổ chức hợp tác kỹ thuật của Đức
INRA Viện nghiên cứu nông nghiệp quốc gia Pháp
IRAM Viện Tiêu chuẩn Argentina
KTTS Khai thác thủy sản
M4P Dự án nâng cao hiệu quả thị trường cho người nghèo
NESDB Ủy ban phát triển kinh tế và xã hội quốc gia (Thái Lan)
NN&PTNN Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
NTTS Nuôi trồng thuỷ sản
SWOT Ma trận SWOT
SXG Sản xuất giống
TPHCM Thành phố Hồ Chí Minh
VAC Mô hình vườn ao chuồng
ValueLinks Liên kết giá trị
WTO Tổ chức thương mại thế giới
1
Chương 1
đạt hơn 40.000 tấn, tăng hơn 1000 tấn so với năm 2008, trong đó cá lóc bông
chiếm gần 20%.
Tuy nhiên, các mô hình nuôi cá lóc hiện nay chủ yếu là tự phát và sử dụng
thức ăn tươi sống như cá tạp nước ngọt, cá biển, ốc bươu vàng, cua đồng làm ảnh
hưởng đến môi trường và nguồn lợi thủy sản tự nhiên, chủ yếu là cá nước ngọt
2
(Nguyễn Phước Tuyên, 2000; Huỳnh Thu Hòa, 2004). Giá cá lóc thương phẩm
không ổn định do chủ yếu tiêu thụ nội địa, trong khi xuất khẩu các sản phẩm cá
lóc còn hạn chế (Báo Cần Thơ, 2007). Các nghiên cứu về cá lóc còn ít và các
hoạt động nuôi cá lóc là hoàn toàn tự phát chưa quy hoạch làm ảnh hưởng đến
tình hình tiêu thụ cá lóc hiện nay. Việc xác định các tác nhân tham gia trong
ngành hàng cá lóc cần được đánh giá để cung cấp thêm thông tin về ngành hàng
và hỗ trợ cho công tác quản lý ngành. Từ đó, đề tài “Phân tích chuỗi giá trị cá
lóc nuôi ở đồng bằng sông Cửu Long” được thực hiện.
1.2 Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu tổng quát của đề tài này là phân tích được chuỗi giá trị của cá
lóc ở ĐBSCL. Trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp cơ bản góp phần nâng cao
hiệu quả sản xuất kinh doanh của các tác nhân tham gia ngành hàng cá lóc đồng
thời góp phần quản lý tốt hơn ngành hàng này tại địa bàn nghiên cứu.
Các mục tiêu cụ thể bao gồm:
(1) Mô tả và phân tích được tình hình phát triển sản xuất của ngành hàng cá
lóc nuôi ở địa bàn nghiên cứu.
(2) Phân tích được tình hình sản xuất kinh doanh cá lóc nuôi theo từng nhóm
tác nhân tham gia ngành hàng.
(3) Phân tích và đánh giá được các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất
của các tác nhân tham gia ngành hàng.
(4) Phân tích được nhận thức của các nhóm tác nhân tham gia ngành hàng.
(5) Đề xuất được những giải pháp cơ bản để cải thiện hiệu quả sản xuất kinh
doanh của các tác nhân tham gia ngành hàng.
1.3 Nội dung của đề tài
160
1
9
9
7
1
9
9
8
1
9
9
9
2
0
0
0
2
0
0
1
2
0
0
2
2
0
0
3
2
4
đói giảm nghèo và giảm tình trạng suy dinh dưỡng. Riêng ở Châu Á, NTTS trực
tiếp tạo ra việc làm cho khoảng 12 triệu người.
0
10
20
30
40
50
60
1
9
9
7
1
9
9
8
1
9
9
9
2
0
0
0
2
0
0
1
2009. Xu hướng phát triển này cũng theo xu hướng của thế giới, sản lượng thủy
sản gia tăng trong các năm qua chủ yếu là do tăng sản lượng nuôi trồng, trong
khi sản lượng khai thác tăng rất châm và có dấu hiệu bão hòa trong 5 năm trở lại
đây (đạt 1,93-2,28 triệu tấn). Ngành thuỷ sản Việt Nam trong những năm qua đạt
tốc độ tăng trưởng bình quân 18,4%/năm. Đây là một bước tiến nhảy vọt góp
phần quan trọng trong việc xuất khẩu cũng như cung cấp nguồn thực phẩm tiêu
dùng trong nước.
0
1
2
3
4
5
6
1
9
9
7
1
9
9
8
1
9
9
9
2
0
0
0
0
1
0
Năm
Triệu tấn
Tổng Khai thác Nuôi trồng
Hình 2.3: Sản lượng thủy sản ở Việt Nam năm 1997 – 2009 và kế hoạch 2010
(Báo cáo của Bộ NN&PTNN, 2010)
5
Nước ta có diện tích nước ngọt nội địa rất rộng lớn, bên cạnh đó là hệ
thống sông suối, kênh mương dày đặc có tiềm năng diện tích NTTS rất lớn.
Trong năm 2007, diện tích có khả năng phát triển thủy sản trong cả nước là 1,7
triệu ha, sản lượng thủy sản cả nước đạt 4,28 triệu tấn trong đó khai thác đạt 2,12
triệu tấn, nuôi trồng 2,16 triệu tấn, kể từ 2006 thì Việt Nam đã vươn lên đứng thứ
3 về sản lượng NTTS thế giới (năm 2005 Việt Nam chỉ đứng thứ 6) (FAO,
2008). Kim ngạch xuất khẩu 3,75 tỷ USD là nguồn thu ngoại tệ lớn thứ 4 của
Việt Nam (5,25% GDP Việt Nam) và đứng thứ 6 về kim ngạch xuất khẩu thủy
sản thế giới. Diện tích NTTS tăng đều theo từng năm, từ 0,64 triệu ha năm 2000
lên 1,05 triệu ha năm 2008 (Tổng cục Thống kê, 2009).
Bảng 2.1: Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản của Việt Nam
ĐVT: 1.000 ha
Diễn giải 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Sơ bộ
2008
TỔNG SỐ 641,9 755,2 797,7 867,6 920,1 952,6 976,5 1018,8 1052,6
D.tích nuôi mặn, lợ 397,1 502,2 556,1 612,8 642,3 661,0 683,0 711,4 713,8
- Nuôi cá 50,0 24,7 14,3 13,1 11,2 10,1 17,2 24,4 21,5
- Nuôi tôm 324,1 454,9 509,6 574,9 598,0 528,3 612,1 633,4 629,3
- TS khác 22,5 22,4 31,9 24,5 32,7 122,2 53,4 53,3 62,7
- Ươm, nuôi giống TS 0,5 0,2 0,3 0,3 0,4 0,4 0,3 0,3 0,3
8
1
99
9
2
00
0
2
00
1
2
00
2
2
00
3
2
0
0
4
2
0
0
5
2
0
0
6
2
0
cả nước, sản lượng nuôi trồng chiếm gần 70% sản lượng cả nước và giá trị xuất
khẩu thủy sản chiếm 51% của cả nước. Trong năm 2007, kim ngạch xuất khẩu
đạt 3,75 tỉ USD, năm 2008 tăng lên 4,27 tỉ USD. Hiện VN đang đứng thứ 8 về
giá trị xuất khẩu thủy sản trên thế giới (Thời báo Kinh tế Sài Gòn, 2008).
Từ những năm gần đây, diện tích nuôi thủy sản không ngừng được mở
rộng, chỉ sau 10 năm (1997-2007) diện tích nuôi thủy sản tăng lân 2,2 lần, đạt
0,72 triệu ha năm 2007, trong khi đó sản lượng tăng đến 5,8 lần, đạt 1,5 triệu tấn
năm 2007 (Tổng cục Thống kê, 2008). Việc đa dạng các mô hình và mở rộng
diện tích đã góp phần đáng kể vào việc gia tăng sản lượng, nhiều công trình khoa
học tiến bộ đã được ứng dụng vào sản xuất.
7
Bảng 2.2: Sản lượng thủy sản nuôi trồng phân theo địa phương ở ĐBSCL
ĐVT: 1.000 Tấn
Diễn giải 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Sơ bộ
2008
ĐBSCL 365.1 444.4 518.7 634.8 773.3 1002.8 1166.8 1526.6 1838.6
Long An 9.0 11.6 11.2 15.2 18.8 23.4 25.9 29.5 28.2
Tiền Giang 28.4 37.3 40.5 46.5 54.7 61.1 67.6 77.5 97.3
B
ến Tre 50.3 61.2 70.6 66.1 58.5 63.3 69.3 99.5 157.0
Trà Vinh 21.7 28.5 37.6 48.1 64.2 73.9 76.0 83.3 85.8
V
ĩnh Long 7.0 8.2 11.5 17.2 22.6 29.0 45.5 91.3 100.5
Đồng Tháp 34.7 35.8 36.0 42.5 66.9 115.1 158.5 230.0 281.4
An Giang 80.2 83.6 110.6 136.8 154.7 180.8 182.0 263.9 315.4
Kiên Giang 10.0 19.0 14.5 20.6 25.9 48.2 66.2 84.8 110.2
C
ần Thơ 13.0 15.1 25.2 36.3 59.1 83.8 110.2 150.9 181.7
H
Channa punctata có thể chịu đựng được tầm pH biến thiên rất rộng, từ 4 đến 9
độ trong vòng 72 giờ; còn loài Channa argus ở sông Amur, Siberia lại có thể
sống sót qua mùa đông khắc nghiệt.
Theo sách “Định loại cá nước ngọt các tỉnh phía Bắc” (1978) của Mai
Đình Yên thì họ Channidae ở miền Bắc gồm có các loài:
- Cá xộp (Channa striata) phân bố rộng trong cá thuỷ vực miền núi, đồng bằng
và nước lợ có nồng độ muối thấp, kích thước tối đa 90 cm.
- Cá chuối suối (Channa gachua) sống ở miền núi các tỉnh phái Bắc Việt Nam.
Loài này có vây bụng nhỏ và kích thước tối đa 20 cm.
- Cá chuối (Channa maculata) phân bố tương tự cá xộp nhưng có kích thước
nhỏ hơn (tối đa 20 cm).
- Cá chèo đồi (Channa asiatica) phân bố ở các tỉnh phía Bắc. Loài này không
có vây bụng và có kích thước nhỏ (tối đa 20 cm).
Ngoài ra, có tài liệu trên mạng mô tả loài cá lóc Trung Quốc Channa
argus là loài cá lóc phổ biến ở nước ta. Đây không phải là loài cá bản địa và nếu
có thì chúng chỉ hiện diện ở miền Bắc vì chúng thích nghi với những vùng khí
hậu lạnh.
Ở ĐBSCL, họ cá Channidae có 4 loài là Channa gachua (cá chành dục),
Channa lucius (cá dày), Channa striata (cá lóc đen) và Channa micropeltes (cá
lóc bông) (Trương Thủ Khoa & Trần Thị Thu Hương, 1993). Tài liệu giảng dạy
của khoa Thuỷ sản trường Đại học Cần Thơ còn ghi nhận thêm loài cá lóc môi
trề (Channa sp.) rất phổ biến ở các vùng lũ như An Giang và Đồng Tháp. Ở miền
Nam, cá lóc đen, cá lóc môi trề và cá lóc bông được nuôi lấy thịt cung cấp cho
thị trường trong nước và xuất khẩu; phương thức nuôi chủ yếu là nuôi trong ao
hay trong các lồng, bè thả trên sông. Ngoài ra, hiện nay còn xuất hiện 2 loài cá
lóc nuôi phổ biến mà người nuôi gọi là cá lóc đầu vuông và cá lóc đầu nhím,
nhưng đến nay vẫn chưa tìm thấy tài liệu hay nghiên cứu nào định danh chính
xác 2 loài cá trên. Có giả thuyết cho rằng đây là 2 loài cá lóc được lai tạo từ loài
cá lóc đen (Channa striata) với các lóc môi trề (Channa sp.). Tuy nhiên cũng
chưa có tài liệu nào chứng minh đây là 2 loài cá lai tạo được.
Nguyễn Anh Tuấn và ctv (2004) và nghiên cứu về nhu cầu đạm ở giai đoạn cá
giống của Trần Thị Thanh Hiền và ctv (2005). Trong đó, nghiên cứu về sử dụng
thức ăn chế biến ương cá lóc bông giai đoạn bột và hương của Nguyễn Anh Tuấn
(2004) đã có thể sử dụng thức ăn chế biến để ương cá lóc bông bột. Tuy nhiên,
10
thức ăn tươi sống vẫn không thể thiếu được, đặc biệt là những ngày đầu khi cá
bắt đầu ăn thức ăn ngoài. Thời gian bắt đầu sử dụng hiệu quả thức ăn chế biến ở
giai đoạn cá bột được xác định là 7 ngày tuổi. Ở giai đoạn cá hương cá sử dụng
hoàn toàn thức ăn chế biến cho kết quả tốt nhất về tăng trọng cũng như tỷ lệ
sống. Việc sử dụng đơn thuần thức ăn trùn chỉ hoặc cá xay trong giai đoạn này
cho kết quả kém hơn so với việc sử dụng kết hợp với thức ăn chế biến.
Sản xuất giống và ương cá lóc
Nguyễn Huấn (2007) điều tra hiện trạng sản xuất giống cá lóc ở 2 tỉnh An
Giang, Đồng Tháp và nghiên cứu kỹ thuật kích thích sinh sản cá lóc bông ở tỉnh
Đồng Tháp và Đại học Cần Thơ. Kết quả điều tra ghi nhận hình thức sinh sản tự
nhiện được 100% hộ dân áp dụng. Cá lóc sinh sản trực tiếp trong ao có giá thể
làm tổ. Thời gian người dân cho cá lóc bông sinh sản từ tháng 2-6 hằng năm.
Dựa vào kinh nghiệm, người dân gặp nhiều khó khăn về kỹ thuật trong quá trình
sản xuất giống. Tỷ lệ thụ tinh trung bình 40%, trong một vụ sản xuất, số tổ cá
không thụ tinh chiếm tỷ lệ khá cao 60%. Thời gian nuôi vỗ thành thục sinh dục
bắt đầu từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau. Đường kính trứng cá lóc
bông tương đối lớn, dao động từ 1,2-1,9 mm. Sức sinh sản thực tế của cá thấp,
dao động từ 2.000 đến 3.000 trứng/kg cá cái.
Khi kích thích cá lóc bông sinh sản bằng não thùy cá chép kết hợp kích
dục tố HCG với liều lượng 500 UI/kg cá cái và 1.500 UI/kg cá đực. Cá rụng
trứng đồng loạt sau 12 giờ tiêm liều quyết định (27-29,5
0
C). Thời gian hiệu ứng
kéo dài từ 33-37 giờ, tỷ lệ thụ tinh và nở khá cao. Tuy nhiên, hiệu quả sinh sản
nhân tạo chưa ổn định, số tổ trứng không thụ tinh trung bình là 27% và không