nghiên cứu khả năng thay thế men bánh mì bằng bột đậu nành trong nuôi luân trùng - Pdf 11

1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ: 304 NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG THAY THẾ
MEN BÁNH MÌ BẰNG BỘT ĐẬU NÀNH
TRONG NUÔI LUÂN TRÙNG Cán bộ hướng dẫn Sinh viên thực hiện

Ths. NGUYỄN HỮU LỘC NGUYỄN THỊ THÚY AN
MSSV: 06803001
Lớp: Nuôi Trồng Thủy Sản K1
Sau thời gian thực tập từ tháng 3 năm 2010 đến tháng 4 năm 2010 tại Phòng thí
nghiệm Khoa Sinh Học Ứng Dụng – Trường Đại Học Tây Đô, áp dụng những kiến
thúc đã học kết hợp với kinh nghiệm thực tế, nay luận văn đã được hoàn thành.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Thầy Nguyễn Hữu Lộc – Khoa Sinh Học
Ứng Dụng – Trường Đại Học Tây Đô đã tận tình chỉ dạy cho em suốt thời gian làm đề
tài.
Em xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô - Khoa Sinh Học Ứng Dụng – Trường Đại
Học Tây Đô đã tận tình dạy bảo, truyền đạt cho em những kiến thức quý báu trong
những năm học vừa qua, tạo dựng hành trang để em bước vào cuộc sống sau này.
Xin cảm ơn tập thể lớp Nuôi Trồng Thủy Sản K1 đã giúp đỡ và đóng góp ý kiến bổ
ích để hoàn thành thực tập tốt nghiệp.
Cuối cùng em xin chúc quý Thầy Cô - Khoa Sinh Học Ứng Dụng – Trường Đại Học
Tây Đô vui, khỏe, công tác tốt và không ngừng con đường cống hiến cho sự nghiệp
giáo dục.
Với sự hiểu biết còn hạn hẹp và thu nhập tài liệu còn hạn chế nên báo cáo tốt nghiệp
không tránh khỏi những sai sót. Kính mong được sự đóng góp ý kiến của quý Thầy Cô
và các bạn.

Em xin chân thành cảm ơn và ghi nhớ!
(chữ ký) NGUYỄN THỊ THÚY AN
4
TÓM TẮT
Nghiên cứu nhằm đánh giá khả năng sử dụng bột đậu nành để thay thế men bánh mì,
xác định khẩu phần cho ăn thích hợp. Thí nghiệm tiến hành gồm 5 nghiệm thức với tỷ
lệ kết hợp khác nhau lần lượt là 25%, 50%, 75% bột đậu nành hay hoàn toàn bằng
men bánh mì hoặc hoàn toàn bằng bột đậu nành. Nước nuôi có độ mặn 25 ppt, mật độ
luân trùng ban đầu là 100 cá thể/ml, liều lượng cho ăn 1,5g/triệu luân trùng/ngày. Kết

DANH SÁCH HÌNH vii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT viii
CHƯƠNG 1 1
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Giới thiệu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Nội dung nghiên cứu 2
CHƯƠNG 2 3
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
2.1. Lịch sử nghiên cứu luân trùng nước lợ (Brachionus plicatilis) 3
2.2. Đặc điểm sinh học và sinh sản của luân trùng 3
2.2.1. Đặc điểm phân lọai – hình thái 3
2.2.2. Đặc điểm sinh sản và chu kỳ sống 5
2.2.3. Đặc điểm sinh trưởng 7
2.2.4. Các điều kiện nuôi luân trùng 7
2.3. Sử dụng luân trùng làm thức ăn cho một số đối tượng thủy sản 8
2.4. Các hình thức nuôi luân trùng 9
2.4.1. Nuôi theo mẻ 9
2.4.2. Nuôi theo phương pháp bán liên tục 9
2.4.3. Nuôi theo phương pháp liên tục 10
2.4.4. Nuôi luân trùng với mật độ cao 10
2.4.5. Nuôi trong hệ thống tuần hoàn kết hợp với tảo và cá rô phi 11
2.5. Các loại thức ăn sử dụng cho luân trùng .11
2.5.1. Tảo
.11
2.5.2. Men bánh mì 11
2.5.3. Bột đậu nành 12
7
2.5.4. Thức ăn nhân tạo với thành phần cơ bản là men 13
2.6 Vi khuẩn và Protozoa 14

Bảng 4.1 Biến động giá trị trung bình của pH, nhiệt độ và nồng độ muối 17
Bảng 4.2 Các chỉ tiêu sinh học của luân trùng trong thí nghiệm 18
Bảng 4.3 Mật độ luân trùng (cá thể/ml) của các nghiệm thức trong thí nghiệm 19
Bảng 4.4 Hệ số trứng (%) của các nghiệm thức trong thí nghiệm 21
Bảng 4.5 Tốc độ tăng trưởng đặc thù (%/ngày) của luân trùng 23
Bảng 4.6 Chi phí sản xuất 1 tỉ luân trùng 25
9
DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 2.1 Đặc điểm cấu tạo của Brachionus plicatilis 4
Hình 2.2 Hình dạng 2 dòng luân trùng S và L 5
Hình 2.3 Vòng đời của luân trùng 6
Hình 4.1 Mật độ luân trùng trong thí nghiệm 20
Hình 4.2 Hệ số trứng của luân trùng 22
10
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
EPA Eicosapentaenoic acid
DHA Docosahexaenoic acid
LNA Linoleic acid
VCK vật chất khô
NT1 Nghiệm thức 1 (cho ăn hoàn toàn bằng men bánh mì)
NT2 Nghiệm thức 2 (men bánh mì 75% + bột đậu nành 25%)
NT3 Nghiệm thức 2 (men bánh mì 50% + bột đậu nành 50%)
NT4 Nghiệm thức 2 (men bánh mì 25% + bột đậu nành 75%)
NT5 Nghiệm thức 5 (cho ăn hoàn toàn bằng bột đậu nành)
TB Trung bình
MĐCĐ Mật độ cực đại
11
CHƯƠNG 1
ĐẶT VẤN ĐỀ

Từ thực tế trên, đề tài: “Nghiên cứu khả năng thay thế men bánh mì bằng bột đậu
nành trong nuôi luân trùng” được thực hiện.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
12
Tìm ra khẩu phần cho ăn thích hợp nhất giữa hai loại thức ăn và khả năng thay thế
men bánh mì bằng bột đậu nành mà vẫn đảm bảo chất lượng dinh dưỡng.
1.3 Nội dung nghiên cứu
1) So sánh năng suất và chất lượng của luân trùng khi cho ăn bằng men bánh mì,
bột đậu nành và khi kết hợp hai loại thức ăn này với nhau.
2) Xác định khả năng thay thế men bánh mì bằng bột đậu nành với các tỷ lệ khác
nhau.


Theo Pechenik (2000), hệ thống phân loại của luân trùng như sau:
Ngành : Rotifera
Lớp : Monogononta
Bộ : Ploima
Họ : Brachionidae
14
Giống : Brachionus
Loài : Brachionus plicatilis (Muller)
Luân trùng có kích thước từ 100-340µm (Dhert, 1996) có dạng hình trứng dài, hơi dẹp
theo hướng lưng bụng. Bờ bụng trước có 4 gai dạng u lồi giữa có khe hình chữ V. Cơ
thể có khoảng 1000 tế bào, lớn lên không phải do sự phân chia của tế bào mà do
nguyên sinh chất tăng lên. Luân trùng có cấu tạo gồm 3 phần: đầu, thân và chân.
• Ðầu có vòng tiêm mao có chức năng bơi lội và thu gom thức ăn.
• Thân luân trùng có ống tiêu hóa, hệ bài tiết và hệ sinh dục.
Hệ tiêu hoá: Luân trùng thu thức ăn nhờ vòng tiêm mao sau đó vào trong miệng và
đến hàm nghiền. Thức ăn sẽ được hàm nghiền cắt, nghiền rồi đi vào thực quản, dạ dày,
ruột và hậu môn (Nogrady, 1993).
Hệ bài tiết: Luân trùng bài tiết chủ yếu là chất thải có nguồn gốc đạm (phần lớn là
ammonia)
.
Sự chuyển động của tiêm mao ở các tế bào ngọn lửa (flame cells) tạo nên
dòng chảy nhỏ các chất lỏng bài tiết vào trong các túi và chảy vào bàng quang sau đó
được bài tiết ra ngoài thường xuyên và đều đặn (Nogrady, 1993).
Hệ sinh dục: Cơ quan sinh dục của con cái bao gồm 3 phần: buồng trứng, chất noãn
hoàng và lớp nang. Ngay từ khi mới sinh ra, số lượng trứng đã có sẵn trong buồng
trứng.
• Chân: có dạng vòng đàn hồi, không đốt, ở cuối có 1 hay 4 ngón.

Hình 2.1: Đặc điểm cấu tạo của Brachionus plicatilis (Dhert, 1996)
15
Hình 2.2: Hình dạng hai dòng luân trùng S và L (Dhert, 1996).
2.2.2 Đặc điểm sinh sản và chu kì sống
Tuổi đời luân trùng từ 3,4 - 4,4 ngày. Ở nhiệt độ 25
o
C sau 0,5 – 1,5 ngày ấu trùng bắt
đầu trở thành cơ thể trưởng thành và sau đó con cái đẻ liên tục khoảng 4 giờ lại đẻ
trứng 1 lần. Các con cái có thể sinh sản 10 thế hệ con con trước khi chết. Hoạt động
sinh sản của luân trùng phụ thuộc vào nhiệt độ của môi trường (Dhert, 1996).
Con đực có kích thước nhỏ hơn con cái và không có cơ quan tiêu hóa. Cơ quan giao
cấu của con đực chứa đầy tinh dịch. Con cái cũng có 2 dạng là con cái đơn tính và con
cái hữu tính (Dhert, 1996).
Vòng đời của luân trùng có sự luân phiên giữa 2 hình thức sinh sản (hình 2.3)

16
Sinh sản đơn tính: con cái vô tính sẽ sinh ra trứng lưỡng bội (2n) và sẽ phát triển thành
con cái vô tính. Con cái này sinh sản với tốc độ nhanh, nhịp sinh sản khoảng 4 giờ
dưới điều kiện thuận lợi. Tốc độ sinh sản phụ thuộc vào điều kiện nuôi và tuổi của
luân trùng. Đây là hình thức sinh sản nhanh nhất để tăng quần thể luân trùng và là
hình thức quan trọng trong hệ thống nuôi luân trùng.
Sinh sản hữu tính: Trong vòng đời của luân trùng, khi có sự biến động đột ngột của
điều kiện môi trường như nhiệt độ, nồng độ muối, … luân trùng sẽ chuyển sang hình
thức sinh sản hữu tính. Trong quá trình này xuất hiện cả con cái vô tính và con cái hữu
tính, chúng đều có hình thái giống nhau, khó phân biệt tuy nhiên con cái hữu tính sẽ
sinh ra trứng đơn bội (1n). Con cái hữu tính có 3 kiểu sinh sản:
- Con non sinh ra từ những trứng đơn bội không thụ tinh sẽ phát triển thành con đực.
Con đực có kích thước bằng 1/3 kích thước con cái. Chúng không có ống tiêu hoá và
bàng quang nhưng có tinh hoàn đơn với nhiều tinh trùng thành thục.
- Trứng nghỉ: là trứng đơn bội đã thụ tinh. Trứng nghỉ có vách tế bào dày giúp nó chịu

C
luân trùng sẽ hình thành trứng nghỉ và quần thể tàn lụi (Fukusho, 1989).
Nhiệt độ nuôi luân trùng phụ thuộc vào kiểu hình thái của chúng. Kiểu L được nuôi ở
nhiệt độ (18 - 25
o
C) thấp hơn so với luân trùng kiểu S (28 - 35
o
C). Nói chung khi tăng
nhiệt độ trong pham vi tối ưu thường dẫn đến tăng hoạt động sinh sản. Tuy nhiên nuôi
luân trùng ở nhiệt độ cao sẽ làm tăng chi phí thức ăn. Ở nhiệt độ cao luân trùng sẽ tiêu
thụ rất nhanh nguồn carbonhydrate và chất béo dự trữ (Dhert,1996).
2.2.4.3 pH
Trong tự nhiên luân trùng có thể sống ở pH từ 5 -10 (Fulks et al., 1991), thích hợp
nhất ở 7,5-8,5 (Hoff, 2004). Yu (1986) thì cho rằng luân trùng đạt mật độ cao nhất ở
pH từ 7,3 - 7,8. Theo Winston (1987) thì pH từ 6,5 – 8,5 thì không ảnh hưởng gì lên
sự tăng trưởng của quần thể luân trùng ( Nguyễn Văn Hạnh, 2007).
2.2.4.4 Ánh sáng
Cường độ ánh sáng 2000 lux, chu kỳ chiếu sáng 18 giờ sáng:6 giờ tối mỗi ngày (Hoff,
1989). Fukusho (1989) cho rằng, ảnh hưởng trực tiếp của ánh sáng lên luân trùng thì
chưa rõ. Theo Fulks et al. (1991), ánh sáng kích thích sự phát triển của luân trùng nhờ
vào sự gia tăng phát triển của vi khuẩn quang hợp và tảo trong bể nuôi.
18
2.2.4.5 NH
3

NH
3
gây độc đối với động vật thủy sinh nhưng với nồng độ 1mg/l được xem là an tòan.
Hàm lượng N-NH
3

Lota lota khi ương nuôi có bổ sung luân trùng là 69,2% (Shin và csv., 2003; trích dẫn
bởi Nguyễn Tấn Khương, 2008).
Zheng et al. (1994), nghiên cứu khả năng tiêu hóa hấp thụ và sử dụng các thức ăn
khác nhau gồm luân trùng, Artemia và Platymonas subcordiformis của tôm he Nhật
Bản và ông nhận thấy rằng: luân trùng là một trong những loại thức ăn thích hợp nhất
cho ấu trùng tôm he ở giai đoạn Mysis 3. Tỷ lệ sống và sức tăng trưởng của ấu trùng
tôm Penaeus semisulcatus cho ăn Artemia hoặc luân trùng cũng được Sarmocha
nghiên cứu, ông thấy rằng ấu trùng tôm cho ăn luân trùng có thể đạt tỷ lệ sống cao
nhưng năng lượng lấy vào giảm vì trọng lượng khô của luân trùng thấp hơn. Bên cạnh
đó, luân trùng còn được sử dụng rộng rãi làm thức ăn trong ương nuôi ấu trùng tôm
Penaeus monodon, P. indicus và P. merguiensis cho kết quả tốt (Nguyễn Văn Hạnh,
2007)
Luân trùng có thể cho ấu trùng tôm sú ăn ở giai đoạn Mysis với mật độ 20 con/ml,
điều đó sẽ rất quan trọng nếu chúng được giàu hóa với axit béo cao không no (HUFA)
(Nguyễn Thanh Phương, 2004; trích dẫn bởi Nguyễn Văn Hạnh, 2007).
19
Khi nghiên cứu về khả năng thay thế Artemia bằng luân trùng Brachionus plicatilis
trong ương ấu trùng tôm càng xanh Macrobrachium rosenbergii, Lovett et al., (1998)
thấy rằng khi bổ sung luân trùng không làm tăng nhanh quá trình phát triển của ấu
trùng tôm (Trích dẫn bởi Trần Thị Thanh Hiền và csv, 2009). Theo tổng hợp của Trần
Thị Thanh Hiền và csv, 2009, Villegas (1991) khi nghiên cứu về sức tăng trưởng và
năng suất của cá măng bột (Chanos chanos) được cho ăn luân trùng dạng tươi và đông
lạnh thì không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa hai dạng thức ăn này.
Luân trùng là thức ăn phù hợp cho ấu trùng cua biển ở giai đoạn zoae 1 và 2. Sự phối
hợp 3 loại thức ăn là luân trùng, tảo, Artemia kết quả cho tỷ lệ sống cao nhất (Nguyễn
Cơ Thạch và csv, 2004). Theo Trương Trọng Nghĩa (2005) sử dụng luân trùng để
ương ấu trùng cua biển Sylla paramamosain ở các giai đoạn khác nhau từ zoae 1 đến
zoa 5 kết quả cho thấy luân trùng phù hợp cho ấu trùng cua biển Sylla paramamosain
giai đoạn zoae 1 và zoae 2. Cho đến nay, hầu hết các nghiên cứu đều chứng minh rằng
luân trùng là thức ăn rất quan trọng cho ấu trùng cua đặc biệt ở các giai đoạn đầu của

cứ thế tiếp tục.
Đối với phương pháp này luân trùng được giữ trong cùng một bể trong thời gian 5
ngày. Hai ngày đầu tiên mỗi ngày tăng gấp đôi khối lượng nuôi để làm loãng mật độ
luân trùng xuống một nửa. Trong những ngày tiếp theo, tiến hành thu hoạch nửa khối
lượng luân trùng trong bể, sau đó lại đổ luân trùng lại vào bể để làm giảm mật độ luân
trùng xuống còn một nửa. Ngày thứ năm tiến hành thu hoạch và tiến hành lặp lại trình
tự như trên (hệ thống nuôi bán liên tục trong 5 ngày) (Lavens et al., 1996).
2.4.3 Nuôi theo phương pháp liên tục
Nuôi sinh khối luân trùng theo phương pháp liên tục thì qui mô nhỏ hơn phương pháp
nuôi mẻ nhưng hiệu quả thâm canh hơn. Đây là phương pháp có hiệu quả để sản xuất
ra luân trùng chất lượng cao. Mô hình này luôn khép kín chỉ áp dụng trong phòng nên
hạn chế ở qui mô nhỏ và đòi hỏi điều kiện thiết bị máy móc nên chi phí cao.
Theo Dương Thị Hoàng Oanh (2005), mô hình nuôi liên tục tiến bộ nhất là mô hình
kết hợp với bình chemostat. Bình chemostat hoạt động trên nguyên tắc giới hạn hàm
lượng thức ăn và tỉ lệ cho ăn. Hàm lượng thức ăn cho vào và lượng luân trùng thu
hoạch sẽ được tính toán trước và duy trì ổn định. Một lượng luân trùng cố định sẽ
được đem ra và bù vào bằng lượng thức ăn cố định. Như vậy, bình chemostat duy trì
tốc độ sinh trưởng của luân trùng ổn định bằng cách cung cấp đều đặn thức ăn chứ
không duy trì mật độ cá thể.
Theo James (1989) thì thuận lợi của phương pháp này là kiểm soát được lượng chất
vẩn và chất lượng nước, kiểm soát sức sản xuất của luân trùng hằng ngày, tốn ít nước,
ít tảo và tiết kiệm nhân công. Trong phương pháp này luân trùng được cho ăn tảo và
men bánh mì, chúng được cung cấp liên tục theo một tỉ lệ đã xác định trước. Bể nuôi
được pha loãng hằng ngày bằng một thể tích nước nhất định và đồng thời thu hoạch
luân trùng theo thể tích này mỗi ngày (Dương Thị Hoàng Oanh, 2005).
2.4.4 Nuôi luân trùng với mật độ cao
Tuy nuôi luân trùng với mật độ cao sẽ làm tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường nuôi làm
giảm tốc độ sinh trưởng do bắt đầu sự sinh sản hữu tính nhưng phương pháp này đã
thu được kết quả hứa hẹn trong điều kiện nuôi có kiểm soát.
Kỹ thuật nuôi cũng giống như kỹ thuật áp dụng để nuôi hàng loạt bằng thức ăn

vậy chúng được xem là thức ăn tươi sống rất tốt bổ sung hàm lượng acid béo cho luân
trùng (Nguyễn Văn Hạnh, 2007).
2.5.2 Men bánh mì
Men bánh mì là loại thức ăn rất tiện lợi cho nuôi sinh khối luân trùng, nhất là khi nuôi
tảo gặp khó khăn. Men bánh mì là những tế bào nấm men có kích thước 5 - 7µm có
hàm lượng đạm cao từ 45- 52% và rẻ tiền được sử dụng làm thức ăn cho luân trùng
(Komis, 1992).
Tuy nuôi luân trùng bằng men bánh mì sẽ làm nước mau dơ, năng suất không ổn định
như cho ăn bằng tảo (Dương Thị Hoàng Oanh, 2005). Nhưng nuôi bằng men bánh mì
22
sẽ ít tốn công lao động, không tốn nhiều dụng cụ do phải nuôi tảo, chủ động được
nguồn thức ăn. Cho ăn bằng men tươi tốt hơn men khô nhưng lại khó quản lý chất
lượng nước hơn.
Theo Hirayama et al. (1973), tốc độ sinh sản của luân trùng được cho ăn men bánh mì
và tảo Nanochloropsis với tỉ lệ 1:1 thì tương đương với luân trùng được cho ăn đơn
thuần loại tảo này. Vì vậy khi nuôi luân trùng bằng men bánh mì chúng ta nên kết hợp
với cho ăn tảo Nanochloropsis với một tỉ lệ nhất định trong khẩu phần ăn nhằm nâng
cao chất lượng luân trùng ( Nguyễn Văn Hạnh, 2007).
Theo Dương Thị Hoàng Oanh và csv (2006), luân trùng ăn hoàn toàn bằng men bánh
mì tăng trưởng không sai khác gì so với luân trùng nuôi bằng thức ăn đặc chế Culture
Selco 3000 cả về mật độ luân trùng hàng ngày, hệ số trứng trung bình và tốc độ tăng
trưởng đặc thù.
Nuôi luân trùng siêu nhỏ bằng men bánh mì đạt mật độ tương đương với luân trùng
cho ăn bằng tảo Chlorella. Tuy nhiên nếu chọn tảo Chlorella làm thức ăn cho luân
trùng thì gặp một số hạn chế như chi phí sản xuất cao đồng thời tốn nhiều thời gian và
công sức để nuôi cấy tảo, cô đặc tảo và quản lý hệ thống nuôi, chưa kể tới trường hợp
do ảnh hưởng các điều kiện môi trường bên ngoài mà tảo không phát triển được.
Ngoài ra, để có đủ số lượng tảo Chlorella cung cấp cho luân trùng thì cần thể tích bể
gấp 2 – 3 lần cho nên chỉ còn 20 – 30% tổng số bể là dùng để ương cá, vì thế vật dụng
để sản xuất ra tảo làm hạn chế việc ương nuôi cá. Vì vậy, để sản xuất ra một số lượng

Leucine
Lysine
Methionine
Phenylalanine
Threonine
Tryptophan
Valine
7,44
2,58
5,31
7,08
6,30
1,29
5,20
4,18
1,44
4,97
6,9
2,0
3,2
9,5
6,4
1,3
5,5
5,3
2,8
7,0
Nguồn: Becker, 1986 (trích dẫn bởi Lê Thanh Hùng, 2008)
2.5.4 Thức ăn nhân tạo với thành phần cơ bản là men
Hiện có nhiều loại thức ăn nhân tạo đặc chế cho luân trùng được bán trên thị trường.

25
CHƯƠNG 3
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Thí nghiệm được tiến hành tại Khoa Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Tây Đô.
Thời gian nghiên cứu từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2010.
3.2 Vật liệu nghiên cứu
- Nguồn nước: Nước mặn (nước ót) có nồng độ muối 100 ppt pha với nước ngọt (nước
máy) để có nồng độ muối 25ppt. Nước 25ppt

được xử lý bằng Chlorine 30ppm và sục
khí liên tục cho đến khi hết Chlorine, sau đó dùng KI để kiểm tra hàm lượng Clo còn
lại, để lắng 24 giờ trước khi sử dụng.
- Giống: luân trùng Brachionus plicatilis được mua tại phòng thí nghiệm thức ăn tự
nhiên Khoa Thủy Sản, Trường Đại học Cần Thơ. Mật độ thả 100 cá thể/ml.
- Dụng cụ:
+ Keo thủy tinh 8 lít.
+ Kính hiển vi, cân điện tử, máy sục khí.
+ Xô nhựa, hóa chất,…
- Thức ăn: men bánh mì, bột đậu nành (liều lượng 1,5g/triệu luân trùng/ngày).
3.3 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nuôi theo mẻ: luân trùng được nuôi trong keo thủy tinh có thể tích 8 lít,
mật độ ban đầu 100 cá thể/ml, cho ăn 5 lần/ngày.
Thí nghiệm: Xác định khả năng thay thế men bánh mì bằng bột đậu nành. Thí nghiệm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status