tìm hiểu đặc điểm dinh dưỡng của cá sặc rằn giai đoạn phôi, bột, hương - Pdf 11


1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN
MÃ SỐ: 304

TÌM HIỂU ĐẶC ĐIỂM DINH DƯỠNG
CỦA CÁ SẶC RẰN
GIAI ĐOẠN PHÔI, BỘT, HƯƠNG Sinh viên thực hiện
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN
MÃ SỐ: 304
TÌM HIỂU ĐẶC ĐIỂM DINH DƯỠNG
CỦA CÁ SẶC RẰN
GIAI ĐOẠN PHÔI, BỘT, HƯƠNG
Cán bộ hướng dẫn

Sinh viên thực hiện

Ts. PHẠM MINH THÀNH BÙI ÚT MƯỜI

MSSV: 0753040056

Lớp: NTTS K2
Cần Thơ, 2011

cung cấp thức ăn trong quá trình ương nuôi cá Sặc rằn đạt hiệu quả cao.
Phương pháp nghiên cứu được xây dựng dựa theo “Hướng dẫn nghiên cứu cá” của
I.F.Pravdin, 1973; “Sinh thái học cá” của Nicolski, 1953; và một số phương pháp
thông thường nghiên cứu môi trường nước. Các thí nghiệm được thực hiện trong điều
kiện môi trường thích hợp cho đối tượng và yêu cầu nghiên cứu.
Sau hơn 3 tháng nghiên cứu, Kết quả thu được là nhiệt độ không sinh học của cá Sặc
rằn là 12,10±1,08
o
C, thời gian dinh dưỡng noãn hoàng là 35,33±0,57 giờ, thời gian
xuất hiện phase chuyển tính ăn lần 1 là 1,33±0,55 ngày sau khi nở, thời gian xuất hiện
phase chuyển tính ăn lần 2 là 14 ngày sau khi nở, cường độ dinh dưỡng giảm từ 15
ngày tuổi (6,69 %/giờ) đến 30 ngày tuổi (2,23 %/giờ) và chỉ số độ no cũng giảm dần
từ 15 ngày tuổi (1,60%) đến 30 ngày tuổi (1,20%).
Tứ khoá: Cá Sặc rằn, nhiệt độ không sinh học, thời gian tiêu biến noãn hoàng, phase chuyển tính ăn
lần 1; lần 2, cường độ dinh dưỡng, chỉ số độ no.

5

MỤC LỤC
trang
LỜI CẢM TẠ i
CAM KẾT KẾT QUẢ ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH SÁCH BẢNG vii
DANH SÁCH HÌNH viii
DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT ix
CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Giới thiệu 1
1.2 Mục tiêu: 2

9

2.3.3 Thời điểm xuất hiện pha hỗn dưỡng
96

2.3.4 Thời điểm xuất hiện pha 2
9
2.3.5 Cường độ dinh dưỡng và chỉ số độ no
9
CHƯƠNG 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10
3.1 Vật liệu nghiên cứu 10
3.1.1 Dụng cụ
10
3.1.2 Đối tượng nghiên cứu
103.1.3 Thức ăn thí nghiệm
10
3.1.4 Nguồn nước thí nghiệm 10
3.2 Phương pháp nghiên cứu 10
3.2.1 Xác định nhiệt độ không sinh học
10
3.2.1.1 Bố trí thí nghiệm
10

3.2.1.2 Tính toán kết quả

147

CHƯƠNG IV KẾT QUẢ THẢO LUẬN 15
4.1 Xác định nhiệt độ không sinh học 15
4.1.1 Điều kiện môi trường thí nghiệm 15
4.1.2 Kết quả xác định nhiệt độ không sinh học 16
4.2 Xác định thời gian dinh dưỡng noãn hoàng 17
4.2.1 Điều kiện môi trường thí nghiệm 17
4.2.2 Kết quả xác định thời gian dinh dưỡng noãn hoàng 18
4.3 Xác định thời điểm xuất hiện phase chuyển tính ăn lần 1 20
4.3.1 Điều kiện môi trường thí nghiệm 20
4.3.2 Kết quả xác định thời điểm xuất hiện phase chuyển tính ăn lần 1 20
4.4 Xác định thời điểm xuất hiện phase chuyển tính ăn lần 2 22
4.4.1 Điều kiện môi trường thí nghiệm 22
4.4.2 Kết quả xác định thời điểm xuất hiện phase chuyển tính ăn lần 2 22
4.5 Cường độ dinh dưỡng và chỉ số độ no 23
4.5.1 Điều kiện môi trường thí nghiệm 23
4.5.2 Kết quả xác định cường độ dinh dưỡng và chỉ số độ no 24
CHƯƠNG V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 27
5.1 Kết luận 27
5.2 Đề xuất 27
TÀI LIỆU THAM KHẢO 28
PHỤ LỤC x
8

Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm, 2009).
Những hiểu biết về đặc điểm dinh dưỡng của cá qua các giai đoạn có ý nghĩa quan
trọng đối với người nuôi thủy sản. Đây là cơ sở ban đầu cho những giải pháp kĩ thuật
cung cấp thức ăn trong quản lý, chăm sóc phôi (trong quá trình ương ấp trứng), ương
nuôi cá bột (ấu trùng cá).
9

Vì vậy việc tìm ra thức ăn thích hợp cho cá Sặc rằn trong giai đoạn từ cá bột đến cá
giống có vai trò quan trọng trong quá trình ương nuôi cá. Do đó đề tài “ Tìm hiểu đặc
điểm dinh dưỡng của cá Sặc rằn giai đoạn phôi, bột, hương” được thực hiện nhằm
giải quyết phần nào khó khăn trong ương nuôi cá ở giai đoạn này .
1.2 Mục tiêu đề tài
• Thu thập một số dẫn liệu về đặc điểm dinh dưỡng của cá Sặc rằn các giai đoạn:
phôi, cá bột, cá hương. Góp phần làm cơ sở khoa học cho những giải pháp kỹ
thuật cung cấp thức ăn trong quá trình ương nuôi cá con đạt hiệu quả cao.
1.3 Nội dung tiến hành
• Xác định nhiệt độ không sinh học.
• Tìm hiểu thời gian dinh dưỡng noãn hoàng.
• Tìm hiểu thời điểm xuất hiện và kéo dài của phase chuyển tính ăn lần 1, lần 2.
• Cường độ dinh dưỡng và hệ số no của cá 15 ngày tuổi, 20 ngày tuổi và 30
ngày tuổi.

Tên tiếng Anh: Snakeskin Gouramy
Tên địa phương: Cá Sặc rằn, cá Sặc bổi, cá Lò Tho Hình 2.1: Hình dạng bên ngoài cá Sặc rằn

11

2.1.2 Đặc điểm hình thái
Theo Lê Như Xuân và Phạm Minh Thành (1994) mô tả hình dáng bên ngoài của cá
Sặc rằn như sau: Đầu nhỏ dẹp bên; Mõm ngắn, nhọn; Miệng trên nhỏ; Răng nhỏ mịn
mọc hai bên hàm; Lỗ mũi trước mở ra bằng một ống ngắn; Mắt lớn nằm trên trục giữa
thân và gần chóp mõm hơn điểm cuối xương nắp mang. Thân dẹp bên; Vẩy lược nhỏ
phủ khắp thân và đầu, có nhiều vẩy nhỏ phủ lên gốc vi đuôi, vi hậu môn và vi lưng.
Cá có màu xanh đen ở mặt lưng, nhạt dần xuống hai bên hông và bụng. Trên cơ thể có
hai chấm đen tròn, một ở giữa thân và một ở gốc vi đuôi. Ở một số cá thể còn có
nhiều vạch đen mờ nằm vắt xéo ngang thân. Trên vi hậu môn, vi lưng, vi đuôi có
nhiều chấm đỏ li ti màu đỏ cam. Vào mùa sinh sản con đực có màu đen và vi đuôi
màu đỏ cam rõ.
Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) sau khi phân tích 23 mẫu thu
thập ở nhiều nơi tại vùng ĐBSCL đã mô tả về cá Sặc rằn như sau: Ðầu nhỏ, dẹp bên;

chất hữu cơ (Horra và Pilay, 1962). Loài cá này cũng được nuôi phổ biến trong ruộng
lúa và ao gia đình (Nguyễn Văn Kiểm và csv, 1999).
2.1.4 Đặc điểm sinh trưởng
Theo Lê Như Xuân và Phạm Minh Thành (1994) cá Sặc rằn sau khi đẻ 20 giờ ở điều
kiện nhiệt độ 28–30
o
C trứng nở, lúc đầu cá nằm trên mặt nước, sau dần dần di chuyển
xuống lớp nước sâu hơn. Cá một ngày tuổi dài 3 mm, màu đen dinh dưỡng bằng noãn
hoàng, nằm ngữa trên mặt nước bơi lội không định hướng. Cá có khoảng 14 đốt cơ
thân. Cá 3 ngày tuổi dài 4–5 mm, trên thân cá có nhều sắc tố đen rãi rác, cá cử động
mạnh. Cá nằm sấp và thường tập trung nơi có ánh sáng, cá dinh dưỡng bằng thức ăn
bên ngoài. Cá 5 ngày tuổi dài 5 mm, noãn hoàng tiêu biến, xương nắp mang xuất hiện,
tia mang hình thành nhưng chưa đầy đủ. Tim có cấu tạo hoàn chỉnh bao gồm bầu
động mạch, tâm nhĩ, tâm thất. Cá 7 ngày tuổi dài 6 mm, xuất hiện vi lưng như một
màng mỏng. Cá 15 ngày tuổi dài 10–14,3 mm, trên thân có đường sắc tố đen chạy từ
sau mắt đến cuống đuôi nhưng chưa rõ và chấm dứt bằng một đám sắc tố màu đen
tròn. Ống tiêu hóa giống cá trưởng thành gồm miệng, thực quản, dạ dày ruột. Hệ
thống hô hấp bằng mang hoàn chỉnh. Cá 35 ngày tuổi dài 23–27 mm, lưng màu đen
thân phủ vẩy, vi đuôi, vi lưng, vi hậu môn… đã hoàn chỉnh. Ruột cuộn 1,5–2 vòng (cá
có hình dạng của cá trưởng thành), cá chuyển sang ăn thức ăn đặc trưng của loài. Cá
có tốc độ sinh trưởng chậm. Ở ĐBSCL trong các ao nuôi cũng như trong các thủy vực
tự nhiên sau 1 năm cá nặng 60-80g, 2 năm đạt 100–150g.
Ðối với cá Sặc rằn, vì phân bố chủ yếu trên đồng ruộng hay các vùng trũng phèn ngập
nước, nên thời điểm hình thành vòng tuổi rất có thể là các tháng mùa khô. Bởi vì
trong những tháng này cá thường tập trung ở ao, đìa, kênh mương với mật độ cao, môi
trường khắc nghiệt, thiếu thức ăn (Trương Thủ Khoa và Nguyễn Minh Trung, 1980).
2.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng
Theo Lê Như Xuân Và Phạm Minh Thành (1994) cá Sặc rằn trưởng thành có cấu tạo
hệ thống tiêu hóa đặc trưng của các loài cá sử dụng mùn bã hữu cơ và thực vật. Lược
mang dạng que nhỏ mịn và dày. Dạ dày hình chữ I ruột dài cuộn thành nhiều vòng và

2.1.6 Đặc điểm sinh sản
Theo Lê Như Xuân và Phạm Minh Thành (1994) cho rằng ở ngoài tự nhiên cá sinh
sản theo mùa, cá đẻ tập chung vào mùa mưa (tháng 5–9). Vào các tháng này bắt gặp
cá có tinh và có trứng rất cao (tỷ lệ lên tới 90%).
Hora và Pillay (1962) cho rằng cá Sặc rằn thành thục lần đầu sau 7 tháng tuổi. Khi
thành thục có thể phân biệt dễ dàng cá đực, cá cái bằng các biểu hiện bên ngoài của
dấu hiệu sinh dục phụ.
Theo Lê Như Xuân và phạm Minh Thành (1994) khi cá thành thục có thể phân biệt
được cá đực, cá cái bằng một số chỉ tiêu sau:

14

Cá đực
- Phần tia mềm của vi lưng kéo dài tới và
vượt khỏi gốc vi đuôi.
- Các sợi sọc đen từ lưng xuống bụng rất
rõ.
- Các sọc đen chạy dọc thân không liên
tục.
- Chấm đen ở xương nắp mang không rõ.
Cá cái
- Phần tia mềm của vi lưng ngắn không
kéo dài tới gốc vi đuôi.
- Các sợi sọc từ lưng xuống bụng không
rõ.
- Cá sọc đen chạy dọc thân gần như liên
tục.
- Chấm đen ở xương nắp mang rõ.

Sức sinh sản của cá Sặc rằn dao động 200.000 – 300.000 trứng/kg cá cái (Nguyễn

15

2.2 Sơ lược tình hình nuôi cá sặc rằn
2.2.1. Tình hình nuôi cá sặc rằn trên thế giới
Cá Sặc rằn cũng là đối tượng nuôi quan trọng hiện nay, cá phân bố tự nhiên ở các thủy
vực vùng Đông Nam Á và Nam Việt Nam.
Theo Soong (1948) trích dẫn bởi Lê Như Xuân (1993) cho biết sản lượng cá Sặc Rằn
nuôi trong ruộng lúa tại Mã Lai thường chiếm gần 50% so với tổng sản lượng các loài
cá đồng được nuôi cùng. Tại Thái Lan, cá Sặc Rằn bắt đầu được nuôi từ năm 1922,
cũng là thời điểm đánh dấu cho nghề nuôi cá của nước này.
Vào năm 1991, cục nghề cá Thái Lan cho biết, sản lượng cá Sặc rằn chiếm khoảng
10,8% tương đương 9,7% về giá trị so với tổng sản lượng cá nước ngọt của Thái Lan
(Komtorn Kaewpaitoon, 1994).
2.2.2 Tình hình nuôi cá sặc rằn trong nước
Cá Sặc rằn là loài cá phù hợp với điều kiện ở ĐBSCL. Đặc điểm thích nghi tốt với
điều kiện môi trường khắc nghiệt và phổ thức ăn rộng nên có thể nuôi cá Sặc rằn với
nhiều mô hình khác nhau. Đây cũng là loài cá có thịt thơm ngon, đặc biệt là sản phẩm
khô của loài cá này. Do đó đây là loài cá không những được tiêu thụ trong nước mà
còn được xuất khẩu ra cả nước ngoài.
Hiện nay, tất cả các tỉnh ở ĐBSCL đều có nuôi loài cá này. Mô hình nuôi hiệu quả
hiện nay là nuôi kết hợp ( cá – heo), và nuôi ghép cùng với các loài cá như: Mè Vinh,
cá Chép, cá Rô đồng, cá Hường… Tỷ lệ nuôi ghép có thể từ 30% - 70% tùy từng mô
hình nuôi.
Bên cạnh nuôi kết hợp và nuôi ghép cá Sặc rằn được nuôi theo mô hình bán thâm
canh và thâm canh cá Sặc rằn trong ao đất với mật độ cá thả dao động từ 5 – 7 con/m
2

tăng lên 30 – 40 con/m
2
(Dương Nhựt Long, 2009).

Vào cuối thời kỳ phôi tự do, noãn hoàng đã sử dụng nhiều tới mức gần hết thì ở cá
xuất hiện phase hỗn dưỡng (phase chuyển tính ăn lần 1); cá vừa dinh dưỡng năng
lượng từ noãn hoàng, lại vừa dinh dưỡng bằng năng lượng từ thức ăn đã được cá tiếp
nhận trong môi trường. Trong khoảng thời gian rất ngắn, đánh dấu bằng sự xuất hiện
phase hỗn dưỡng, cá đã tập luyện thành công và nhanh chống sử dụng tốt thức ăn từ
bên ngoài (từ môi trường nước). Khả năng đó là đặc tính vốn có của cá và thể hiện sự
thích nghi với điều kiện sống mới. Trong phase hỗn dưỡng, thức ăn phù hợp, tốt và
được cá ưa thích nhất là động vật phiêu sinh có kích thước phù hợp với khả năng bắt
mồi của cá. Tuy nhiên, phase hỗn dưỡng chỉ tồn tại trong thời gian rất ngắn (Phạm
Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm, 2009).
2.3.4. Thời điểm xuất hiện pha chuyển tính ăn lần 2
Giai đoạn này được chuyển từ sau phase hỗn dưỡng của giai đoạn phôi và cá đã hết
noãn hoàng (kết thúc giai đoạn dinh dưỡng bên trong). Giai đoạn này cá phải tự kiếm
thức ăn trong môi trường nước, các bộ phận và các cơ quan trong cơ thể còn rất đơn
giản. Giai đoạn này được đánh dấu bằng sự chuyển tính ăn có kích thước phù hợp với
cỡ miệng của cá. Thời kỳ này thức ăn của cá là động vật phù du và thức ăn của loài.
2.3.5. Cường độ dinh dưỡng và chỉ số độ no
Cường độ dinh dưỡng là lượng thức ăn mà động vật ăn trong một đơn vị thời gian
trên một đơn vị khối lượng cơ thể (Đặng Ngọc Thanh, 1974).
Chỉ số độ no là tỉ lệ giữa lượng thức ăn trong ruột cá trên một đơn vị khối lượng cơ
thể cá (Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định, 2004).

17

CHƯƠNG 3
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Vật liệu nghiên cứu
3.1.1 Dụng cụ
- Cốc đựng nước.

2
bằng nước nóng hay tăng nhiệt độ bằng Heater. Thêm nước nóng
(tăng 6
o
C so với T
1
) vào thau chứa cốc để thông qua đó điều chỉnh gián tiếp nhiệt độ
môi trường chứa phôi.

18

Việc điều chỉnh nhiệt độ theo nguyên tắc: Trong một giờ nhiệt độ môi trường chứa
trứng không thay đổi vượt quá 2
o
C. Thí nghiệm được bố trí song song 2 giá trị nhiệt
độ T
1
, T
2
.
Thí nghiệm lặp lại 3 lần. Trong cốc chứa phôi, đặt nhiệt kế để theo dõi nhiệt độ nước
liên tục và loại bỏ kịp thời những trứng không thụ tinh hoặc phôi bị chết trước khi
trứng nở trong suốt thời gian thí nghiệm. Ghi nhận thời điểm có số phôi nở 50% và
thời gian phát triển phôi D
1
, D
2
tương ứng với 2 giá trị nhiệt độ T
1
và T

1
(T
1
– T
0
) = D
2
(T
2
– T
0
)

Từ phương trình (3.2) suy ra nhiệt độ không sinh học (T
0
) được tính như công thức
Reibisch (1902) (I.F.Pravdin, 1963).
T
0
: Nhiệt độ không sinh học.
T
1
: Nhiệt độ tự nhiên trong phòng
D
1
T
1

3.2.2 Xác định thời gian cá dinh dưỡng noãn hoàng
3.2.2.1 Bố trí thí nghiệm
Hai mươi cá mới nở (phôi tự do) được cho vào đĩa Petri có chứa nước quan sát dưới
kính hiển vi. Định kỳ thay nước 3-4 giờ/lần bằng nguồn nước có cùng nhiệt độ với
nước trong đĩa Petri. Theo dõi nhiệt độ liên tục.Trong quá trình quan sát có chụp hình.
3.2.2.2 Ghi nhận kết quả
Mức độ tiêu hóa noãn hoàng được quan sát tại các thời điểm: Cá mới nở, sau nở 10
giờ, 15 giờ, 20 giờ, 25 giờ, 30 giờ đến hết noãn hoàng. Thí nghiệm được lặp lại 3 lần.
3.2.3 Pha chuyển tính ăn lần 1 (cá dinh dưỡng hỗn hợp, noãn hoàng với động vật
phù du)
3.2.3.1 Bố trí thí nghiệm
Sử dụng 6 đĩa Petri chứa nước, trong đó 3 đĩa thả cá (mỗi đĩa 10 con cá mới nở) và 3
đĩa không thả cá làm đối chứng. Các đĩa Petri được thả thêm 50 động vật phù du
(Moina) vào các thời điểm khác nhau: Sau khi nở 20 giờ, 25 giờ, 30 giờ, 35 giờ, 40
giờ, 45 giờ. Thay nước cùng lúc với thời điểm thêm Moina vào. Trước khi thay nước
đếm số lượng Moina trong mỗi đĩa. Sau khi thay nước cấp 50 Moina mới (thay cho 50
Moina trước đó) cho mỗi đĩa.
Đo nhiệt độ 2 lần/ngày. Quan sát hoạt động bắt mồi của cá; kết hợp với đếm số lượng
Moina bị hao hụt trong mỗi đĩa Petri chứa cá so với đĩa không chứa cá.
3.2.3.2 Ghi nhận kết quả
Thời gian xuất hiện phase chuyển tính ăn lần 1 được xác định bằng quan sát thường
xuyên dưới kính hiển vi. Thời gian xuất hiện phase hỗn dưỡng được ghi nhận khi có
50% số cá sử dụng Moina
3.2.4 Pha chuyển tính ăn lần 2 (cá ăn động vật phù du và thức ăn của loài)
3.2.4.1 Bố trí thí nghiệm
Nuôi 20 cá bột trong bocal 1 lít. Sử dụng song song 2 loại thức ăn là Moina và thức ăn
của loài có kích thước phù hợp với khả năng bắt mồi của cá là trùn chỉ. Số lượng thức
ăn đảm bảo nhu cầu bắt mồi của cá trong suốt quá trình thí nghiệm. Trước khi cho ăn,
Trùn chỉ được rửa sạch và cắt thành những đoạn nhỏ (3 – 4 mm). Đếm số lượng trùn
chỉ và cá bột trước khi thả vào bocal.

: Khối lượng cá (g).
Chỉ số độ no (%) được Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định (2004) trích dẫn từ
Shorygin (1952) tính theo công thức: P
TA

CĐDD =
P
C
x 24
x 100
P
TA

CSĐN =
P
C

x 100
(3.5)

(3.4) 2122

CHƯƠNG 4
KẾT QUẢ THẢO LUẬN
4.1 Xác định nhiệt độ không sinh học (T
0
)
4.1.1 Điều kiện môi trường thí nghiệm
Các chỉ tiêu môi trường là những yếu tố không thể thiếu trong sự sống và phát triển
của bất cứ sinh vật nào. Một số chỉ tiêu về môi trường được theo dõi nhằm đánh giá
sự ảnh hưởng của môi trường đến quá trình phát triển của phôi trong thí nghiệm. Sau
đây là Bảng 4.1 theo dõi một số yếu tố môi trường trong thời gian thực hiện thí
nghiệm.
Bảng 4.1 Một số yếu tố môi trường
Các yếu tố môi
trường
Giá trị nhỏ nhất Giá trị lớn nhất
Trung bình ± độ
lệch chuẩn
Nhiệt độ T
1
(
o
C)
25 27 26 ±1,41
Nhiệt độ T

Nhiệt độ không sinh học là nhiệt độ môi trường mà tại đó quá trình sinh học không
xảy ra. T
0
cũng có giá trị không đổi và đặc trưng theo loài. Nó góp phần quan trọng
trong việc tìm ra giới hạn chịu đựng (ngưỡng) của cá, từ đó ta có thể tìm được nơi
phân bố của các loài cá dựa vào nhiệt độ không sinh học. Ngoài ra, nhiệt độ không
sinh học là một giá trị không thể thiếu trong việc tính tổng nhiệt phát triển của cá, từ

23

đó nó có ý nghĩa rất lớn trong thực tiễn nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi vỗ cá bố
mẹ. Đồng thời nhiệt độ không sinh học còn là cơ sở quan trọng cho sự tái thành thục
nhanh hay chậm của cá bố mẹ được nuôi vỗ vì tốc độ các quá trình phát triển và thoái
hóa tuyến sinh dục gia tăng cùng với sự gia tăng của nhiệt độ (Phạm Minh Thành và
Nguyễn Văn Kiểm, 2009). Do đó, thí nghiệm tìm ra nhiệt độ không sinh học của cá
Sặc rằn được tiến hành.
Bảng 4.2 Nhiệt độ không sinh học của phôi cá Sặc rằn
Thời gian phát triển phôi D (Giờ)
Nhiệt độ
Lần 1 Lần 2 Lần 3 Trung bình
T
1
= 26
o
C
20 20,33 20,33 20,22±0,19
T
2
= 32
o

Qua thí nghiệm cho thấy, thời gian phát triển phôi của cá Sặc rằn phụ thuộc vào nhiệt
độ môi trường, khi nhiệt độ càng tăng thì thời gian nở càng ngắn và nhiệt độ giảm
xuống thì thời gian nở càng kéo dài ra. Kết quả này đúng với kết luận của Phạm Minh
Thành và Nguyễn Văn Kiểm (2009).
Theo Võ Văn Bằng (2010) thì nhiệt độ không sinh học của cá rô đồng là 7,6 ± 0,3
o
C
và cá trôi Ấn Độ là 11,3 ± 0,5
o
C. Cá Mè trắng có nhiệt độ không sinh học là 10,2 ±
1
o
C (Đỗ Minh Nhựt, 2010). Nhìn chung T
0
của các loài cá ở ĐBSCL tương đối cao.
Điều này nói lên sự phân bố của chúng phụ thuộc vào nhiệt độ. Cá Sặc rằn là một loài
cá bảng địa ở ĐBSCL nên chúng cũng có nhiệt độ không sinh học tương đương với
những loài cá trên. Để khẳng định về kết luận trên xét qua hình 4.1.

24

0
2
4
6
8
10
12
14
cá Sặc rằn cá Rô cá trôi Ấn cá Mè trắng

4.2 Xác định thời gian cá dinh dưỡng noãn hoàng
4.2.1 Điều kiện môi trường thí nghiệm
Thí nghiệm xác định thời gian cá dinh dưỡng noãn hoàng các yếu tố: Nhiệt độ, pH và
nồng độ oxy hoà tan được xác định và kết quả thể hiện ở Bảng 4.3.
Bảng 4.3 Điều kiện môi trường thí nghiệm
Các yếu tố môi
trường
Giá trị nhỏ nhất Giá trị lớn nhất
Giá trị trung bình
± độ lệch chuẩn
Nhiệt độ (
o
C)
26 28,5 27,12±1,31
Oxy hòa tan (mg/l)
3,5 5,8 4,45±0,98
pH
7 8 7,37±0,47

25

Qua kết quả được thể hiện ở Bảng 4.3 cho thấy nhiệt độ dao động trong khoảng thích
hợp cho cá (26 - 28,5
o
C).Trong khoảng thời gian bố trí thí nghiệm là 2 ngày thì nhiệt
độ sáng và chiều thay đổi không lớn so với giá trị trung bình (khoảng 1,31
o
C)
Oxy đạt 4,45 mg/l nằm trong khoảng thích hợp và pH có giá trị trung bình là 7,37
cũng nằm trong điều kiện thuận lợi cho cá phát triển. Theo Boy (1990) cho rằng giá trị


o
C thì thời gian tiêu biến noãn hoàng
là 35,33 giờ sau khi cá nở. Nhìn chung Sặc rằn là loài cá có khối lượng noãn hoàng
nhỏ nên thời gian tiêu biến noãn hoàng ngắn, kết quả này phù hợp với kết luận của
Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm (2009) những loài cá có khối lượng noãn
hoàng lớn so với khối lượng chung của phôi thì thời gian kéo dài (như Tai Tượng,
Thát Lát có khi tính bằng tuần), những loài cá có khối lượng noãn hoàng nhỏ thì thời
gian ngắn (như Mè Vinh, He Vàng, Bống Tượng … chỉ một hai ngày).

Trích đoạn Kết quả xác định thời điểm xuất hiện phase chuyển tính ăn lần 2
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status