Bản sắc văn hóa Việt Nam sau ngày hội nhập - Pdf 11

Bản sắc văn hóa Việt Nam sau ngày hội nhập
Sau ngày hội nhập, trong nước, các cơ sở kinh tế, các cơ quan chánh quyền và các lãnh đạo cao cấp
của nhiều nước đều có nhận định tương tợ như nhau: Đây là một cơ hội rất tốt để cho người nước
ngoài có nhiều dịp tìm hiểu đất nước và con người Việt Nam, nhưng điều đó cũng là một thách thức
lớn.
Trong lãnh vực văn hóa cũng có nhiều người tỏ ra lo ngại rằng không biết sau cuộc hội nhập về kinh
tế, chánh trị, ngoại giao thì liệu văn hóa Việt Nam có đủ sức chống chọi lại với sự du nhập của các
luồng văn hóa khác đến nỗi chúng ta sẽ mất luôn cả bản sắc dân tộc hay không?
Chúng tôi không lo như thế vì trước chúng ta đã có rất nhiều nước Châu Á hội nhập mà có văn hóa nước
nào bị mất hẳn luôn như thế thì không có lý do nào chúng ta lại gặp cái cảnh văn hóa chúng ta bị hòa tan
trong sự hội nhập. Nhưng cũng không phải vì thế mà chúng ta an lòng, phó mặc việc đời tới đâu hay tới
đó mà chúng ta phải có ý thức làm cho nền văn hóa chúng ta có được một sức sống vững chắc, có một
thực chất khoa học và nghệ thuật có thể chống chọi lại với những sự tấn công “sẽ có” của các nền văn hóa
khác, ngang qua cuộc hội nhập mà ồ ạt tràn vào đất nước ta. Nếu văn hóa Việt Nam không đủ sức đề
kháng như một người đã được tiêm phòng trước thì có thể bị “bệnh dịch” hoành hành. Nếu có được sức
đề kháng nhờ chúng ta chuẩn bị trước thì sự hội nhập sẽ là một dịp cho chúng ta lớn mạnh hơn. Và văn
hóa lúc đó sẽ trở thành một yếu tố hấp dẫn người bên ngoài đến với đất nước ta không phải chỉ vì kinh tế,
chánh trị hay ngoại giao mà có thể vì nét văn hóa đặc thù của chúng ta.
Khi nói đến văn hóa, chúng tôi không chỉ nghĩ đến văn hóa nghệ thuật mà còn nhớ đến văn hóa ẩm
thực, văn hóa thời trang, văn hóa trong nếp sống hàng ngày.
Chúng ta cũng hơi an tâm khi thấy rằng trước khi hội nhập, văn hóa ẩm thực đã được người nước ngoài
quan tâm đến: có một số khách du lịch tìm đến thăm Việt Nam không phải chỉ muốn ngắm nhìn danh lam
thắng cảnh mà cũng có ý muốn nếm sơn hào hải vị hay ít ra một vài món ăn đặc biệt như “nem” (tức là
nem rán ở miền Bắc hay chả giò ở miền Nam) hoặc “phở”. Hai danh từ đó đã được biết đến thông dụng
trên nhiều nước châu Âu và châu Á. Và về mặt này, trong khoảng 10 năm nay, văn hóa ẩm thực đã được
rất nhiều giới trong nước quan tâm. Nhưng chúng ta vẫn phải quan tâm tìm thêm những món ăn, nước
uống thật đặc sắc của cả ba miền để tuần tự giới thiệu cho du khách sẽ đến từ năm châu. Cẩn thận trong
cách trình bày thức ăn, cách dọn bàn, tiếp khách, trang trí phòng ăn, lựa loại nhạc Việt Nam truyền thống
hơn nhạc nước ngoài, tạo một không gian và không khí rất Việt Nam, vì du khách đến nước ta là để tìm
những gì không có ở nước họ chớ không phải để gặp những gì quen thuộc, hay của ta bắt chước họ.
Về văn hóa thời trang thì chiếc áo dài của Việt Nam đã bao nhiêu lần được những nhà thiết kế lớn như

thường khi nói chuyện với nhau, đọc sách báo hay ăn quà, nói chuyện qua máy di động… Nghe biểu diễn
xong, vỗ tay lấy lệ mà không nghĩ rằng người nghệ sĩ không phải chỉ cần ăn cơm, uống nước, tiếng vỗ tay
khen thưởng hay khích lệ là món ăn tinh thần rất cần thiết.
Cách tổ chức, triệu tập và điều hành hội thảo cũng cần sửa đổi để tránh việc thư mời đến tay đại biểu sau
khi hội thảo bế mạc. Đi dự hội thảo, không đến quá trễ, không rời nơi họp quá sớm.
Chúng ta cũng nên nhớ rằng từ đây sẽ có rất nhiều người nước ngoài có dịp vào nước ta, họ sẽ nhìn
vào nếp sống hàng ngày của chúng ta và ngang qua đó đánh giá được phong cách văn minh, nền
văn hóa của nơi họ đến.
Như vậy thì hiện nay, chỉ có văn hóa ẩm thực và văn hóa thời trang còn có sức mạnh hấp dẫn người nước
ngoài khi có dịp liên hệ với đất nước Việt Nam.
Nhưng về văn hóa trong nếp sống hàng ngày và trong âm nhạc, chúng tôi còn rất nhiều ưu tư. Ngay
như trong hội nghị APEC vừa qua, trong những buổi tiếp đãi quan khách cấp cao, thì chỉ có dàn nhạc giao
hưởng Việt Nam biểu diễn. Đôi khi có dàn nhạc dân tộc theo phong cách mới của đội ca múa nhạc trung
ương dùng những nhạc khí Việt Nam biểu diễn tân nhạc hay nhạc dân tộc cải biên. Những môn âm nhạc
dân tộc chính xác như Ca Trù, Nhã Nhạc Cung Đình Huế hay Đờn Ca Tài Tử miền Nam chỉ biểu diễn ở
bên ngoài và các quan khách cao cấp chưa bao giờ được nghe!
Xem xét lại từ mấy chục năm nay, khi trong nước gởi những đoàn nghệ thuật ra nước ngoài thì chỉ nhạc
dân tộc chính xác được sự quan tâm đặc biệt của giới âm nhạc năm châu. Những công ty dĩa hát đều ghi
lại Âm nhạc dân tộc Việt Nam chính xác để bán cho quần chúng như Ca Trù, Quan Họ, Hát Chèo miền
bắc; Ca Huế, Nhạc Cung Đình kể cả nhạc Phật giáo miền Trung, Ca nhạc Tài Tử Cải Lương miền Nam
đều được đánh giá cao và các dĩa hát đó thường nhận được những giải thưởng đặc biệt của các giới phê
bình hay các Hàn Lâm viện dĩa hát. Các Bảo tàng viện và Nhà văn hóa của các nước Âu Mỹ đều tìm mua
dĩa hát hay băng từ ghi âm nhạc dân tộc để tàng trữ. Cơ quan Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) đã hai
lần tôn vinh Nhạc dân tộc Việt Nam, Nhã Nhạc Cung Đình Huế, Cồng Chiêng Tây Nguyên. Chúng tôi
chưa bao giờ gặp trong các bảo tàng viện quốc tế những dĩa hát về tân nhạc hay là Nhạc giao hưởng Việt
Nam. Do đó chúng tôi tin rằng Âm nhạc dân tộc Việt Nam có thực chất khoa học và nghệ thuật khá cao
đáng được chúng ta trau dồi thêm để Âm nhạc trở thành một yếu tố quan trọng hỗ trợ đắc lực cho công
việc giao lưu chánh trị, ngoại giao và kinh tế.
Muốn được vậy thì tất cả chúng ta trong mọi tầng lớp phải có ý thức rằng công việc bảo tồn, phát huy,
phổ biến nhạc dân tộc là bổn phận của mọi người: các nghệ nhân giảng dạy tận tình, các chuyên gia


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status