Bản sắc văn hóa Việt Nam là gì ?
Bây giờ ta mạnh dạn bước sang bàn một vấn đề còn khó khăn hơn: “Bản sắc dân tộc trong văn hoá Việt
Nam là gì?” hay “Bản sắc văn hoá của dân tộc Việt Nam là gì?”.
“Không ai quên nguồn gốc mình là từ con rồng cháu tiên cao quý” – Ảnh: internet
Trước hết ta hãy xem: Nó là một cái gì đó hay nó là những cái gì đó.
Thực ra bản sắc dân tộc mà quy vào “một cái gì” thì khó. Bản sắc vốn là cái gì trừu tượng biến hóa uyển
chuyển linh hoạt. Nó là một, nhưng lại là nhiều, là nhiều nhưng tụ lại, lại là một. Nếu là nhiều cái có thể
thu xếp để liệt kê, để cộng lại thì lại thành ra liệt kê bảng giá trị truyền thống và, khó có sự biểu hiện nhất
quán. Nhưng nếu là một cái thì làm sao nó mô tả hết được cái phong phú, cái lung linh của diện mạo tinh
thần của một dân tộc, một con người. Cho nên, tôi tạm cho rằng nó là “một” nhưng cái “một” này là một
đặc biệt, nó biến hóa, nó lung linh, nó có thể nhìn ra “nhiều”, cái “nhiều” này nó xen cài nhau, quấn quít,
hòa trộn nhau vào trong “một”.
Còn anh nêu lên – anh không có ý định nêu lên, nhưng tôi lượm ra – một cái là cái Anh hùng bình dị. Như
thế cái tính cách chung của Việt Nam là anh hùng, anh hùng nhưng bình dị, không khoa trương, không
cường điệu, không ầm ĩ. Bình dị nhưng lại rất anh hùng. Một thứ anh hùng bình dị, và một số bình dị rất
anh hùng. Anh bộ đội Việt Nam, anh bộ đội Cụ Hồ trong suốt thời gian của cuộc kháng chiến dài mấy
chục năm thật là một hình ảnh sinh động và rõ rệt của cái chất anh hùng bình dị – Bất cứ ai gặp và nhìn
thấy, tiếp xúc với các chiến sĩ của ta đều có ấn tượng rất rõ rệt. Sao mà anh ta hiền thế. Đúng. Anh rất
hiền, rất khiêm tốn, rất “bình thường”, nhiều khi còn có thẹn nữa. Thế nhưng anh lại làm nhiều chuyện
phi thường, lập nhiều chiến công kỳ diệu, nhiều hành động anh hùng thật lẫm liệt. Anh lập những chiến
công lớn cũng lại bình thường như anh lao động, học tập hàng ngày. Anh có cuộc sống thật bình dị anh
hùng, thật Việt Nam! Có thể nói, tôi rất thích cái khái quát này, nhưng tôi vẫn e nó chưa chứa đựng hết,
dù cho chỉ là hết những điều chủ yếu nhất. Tôi xin lượm thêm nhiều ý kiến đưa ra một cách diễn giải
khác. Cách diễn giải này chỉ ra bản sắc Việt Nam có ba điểm (hay ba mặt) ba mặt này quyện lại xoay
quanh một cái, một cái đó nếu tìm cho nó một tên gọi thì chỉ có thể gọi đó là cái Việt Nam, cái chất Việt
Nam, cái tính cách Việt Nam, tâm hồn Việt Nam.
Ba điểm hay ba mặt này có thể coi như ba đặc điểm của dân tộc, hay ba giá trị tinh thần của dân tộc ta.
Nhưng nếu nói đặc điểm thì chỉ nêu ba đặc điểm là không đủ. Và nếu nói giá trị thì lại càng không đủ.
Những giá trị tinh thần của dân tộc còn nhiều và phong phú lắm. Giáo sư Trần Văn Giàu đã nêu lên một
bảng giá trị có 7 giá trị. Vì có lẽ cũng có thể có nhiều cách nêu bảng giá trị khác nhau. Ở đây tôi thử tìm
cái gì gọi là cái tinh túy, cái cốt lõi của cái giá trị là những cái biểu hiện chủ yếu của cái gọi là bản sắc dân
người mà quân xâm lược tưởng đã hoàn toàn khuất phục được bất ngờ lại quật lại ngay trong lòng và sau
lưng chúng v.v…
Thật là một tinh thần tình yêu nước mang bản sắc Việt Nam.
Bình dị là một nét đẹp Việt Nam. Bình dị không phải là một phẩm chất đạo đức. Nó là một nét đẹp, nét
cao cả của tâm hồn. Nó như một hương thơm gồm nhiều mùi hương, như một ánh sáng gồm nhiều màu
sắc, hương thơm và ánh sáng ấy tỏa rộng trong không gian với muôn màu muôn vẻ. Bình dị không phải
chỉ là giản dị. Bình dị nó hàm chứa cả sự giản dị, sự khiêm tốn, sự đúng mực, vừa phải, sự hồn nhiên, sự
nhân hậu, sự khoan dung, độ lượng, nó ngược lại với tính khoa trương, cường điệu, giả tạo, khe khắt, gay
gắt, ngược ngạo, hoặc tủn mủn, vụn vặt. Bình dị là lòng yêu thiên nhiên, gần thiên nhiên, gắn với thiên
nhiên, hòa với thiên nhiên, là bộc lộ bản chất người một cách chân chất hồn nhiên. Bình dị biểu hiện chủ
yếu trong lối sống, và trong thị hiếu thẩm mỹ.
Bình dị là từ trong tâm hồn, từ ở tấm lòng. Con người có tấm lòng bình dị tự nhiên có những hành vi tỏa
ra một tình cảm ấm áp đầy sức thuyết phục và cảm hóa người khác. Để thấy rõ nét bình dị trong tính cách
và tâm hồn Việt Nam, không gì hơn khi ta nhìn vào Bác Hồ – Không phải ngẫu nhiên mà thế giới gắn hai
chữ Việt Nam và Hồ Chí Minh liền nhau. Về mặt bản sắc mà nói thì Việt Nam đồng nghĩa với Hồ Chí
Minh và ngược lại, cái bản sắc Việt Nam chính là cái Hồ Chí Minh, cái bản sắc Hồ Chí Minh chính là cái
Việt Nam. Ngay từ lần đầu tiên, Bác tiếp xúc công khai với đông đảo đồng bào, câu nói nổi tiếng của
Bác: “Tôi nói, đồng bào nghe rõ không?” có sức mạnh cảm hóa phi thường, câu nói ấy xuất phát từ tấm
lòng bình dị tràn đầy yêu thương sâu sắc, nó hồn nhiên, nó tất yếu, nó không khác được. Nó không mầu
mè, không gượng ép, nó làm Bác hòa vào nhân dân, nhân dân hòa vào Bác. Sau này trong bất cứ cuộc
tiếp xúc nào, những cử chỉ của Bác đối với các cụ già, các “cô phụ nữ”, “các cháu nhi đồng” đều ấm áp,
tự nhiên, thân tình như vậy. Không thể có ai “làm giả” ra được những điều như vậy. Bình dị đi liền với
trung thực.
Bác sống một cuộc sống hết sức đơn sơ, giản dị, từ nhà ở, áo mặc, đồ dùng đến cơm ăn nước uống.
Không phải Bác cố làm ra cho nó giản dị, không phải Bác cố làm gương cho cán bộ đồng bào noi theo,
mà Bác yêu thích như vậy. Tấm lòng Bác như vậy, Bác sống tự nhiên như tấm lòng Bác sai khiến.
Tuy thế bình dị hoàn toàn không có nghĩa là tùy tiện, xuề xòa, là suồng sã. Bình dị có những nguyên tắc
rất nghiêm túc của nó.
Bác mặc quần áo rất đơn sơ, dùng những đồ dùng giản dị, không cần cầu kỳ: cái quạt nan, cái mũ lá, đôi
dép lốp. Nhưng mỗi khi ta thấy Bác, ta vẫn thấy một tư thế uy nghi của một vị lãnh đạo, một cha già, một
Bàn về cái bình dị Việt Nam biểu hiện trong thị hiếu thẩm mỹ và thị hiếu nghệ thuật thì đụng phải nhiều
vấn đề rộng lớn và phức tạp khó khăn. Trong phạm vi bài này, tôi không đủ sức đi vào, tôi chỉ xin dừng
lại bàn sơ sài chút ít về sự ưa thích của người Việt Nam đối với âm thanh (và giai điệu) về màu sắc (và
hình dáng) tức là đụng chút ít đến âm nhạc và nghệ thuật tạo hình. Còn khi nói về sự ưa thích cũng là nói
nặng về sự ưa thích cổ truyền còn lưu đến bây giờ, chứ không bao quát hết được mọi sự ưa thích ở mọi
vùng, mọi thời gian khác nhau và những sự ưa thích lại đang biến đổi.
Đại thể người Việt Nam ta ưa thích những âm thanh và giai điệu êm ả, dịu dàng, dìu dặt réo rắt đơn giản,
thích những âm sắc gần thiên nhiên, rút từ chất liệu thiên nhiên, ví dụ tiếng tơ, tiếng trúc, từ tơ tằm, từ cây
trúc, ít thích những hòa âm đồ sộ dồn dập kích động. Tất nhiên đây là nói đại thể chứ không phải toàn bộ,
tất cả. Những âm thanh gợi nhớ quê hương, gợi nhớ một tình cảm ân tình lưu luyến man mác là tiếng sáo
diều, tiếng sáo trúc, tiếng nhị, tiếng đàn nguyệt, đàn bầu, tiếng trống, tiếng mõ (đều từ chất liệu gỗ, tre, da
v.v…). Những làn điệu dân ca là những làn điệu chậm rãi ê a, nhạc nhiều, lời ít, láy đi láy lại, mỗi lời như
đã được khắc sâu vào người nghe. Tất cả, có thể quyện vào tiếng gió, tiếng sóng, tiếng chim lan tỏa trong
không gian, thấm đượm nhẹ nhàng vào lòng người. Nghệ sĩ và thính giả nhiều khi là một đối một, hoặc
thính giả chỉ là một nhóm người rất nhỏ trong một không khí gia đình thân thuộc, không có những cuộc
diễn tấu đồ sộ ồn ào trừ những ngày lễ hội có rước sách; nhịp điệu thường êm ái nhẹ nhàng.
Có thể coi đó là cái bình dị trong âm nhạc, cái nhẹ nhàng hồn hậu của âm nhạc Việt Nam. Có một hồi rộ
lên, đa số thanh niên nhất là ở các thành phố đổ xô nhau vào các loại nhạc nhẹ, thế giới và các tác giả Việt
Nam cũng viết nhiều ca khúc, kiểu nhạc nhẹ, các ca sĩ thay đổi cách biểu diễn. Người ta hướng về những
âm thanh mạnh mẽ, dồn dập gay gắt, những nhịp điệu kích động, lối biểu diễn gào thét khoa trương. Đó
là một hiện tượng có sự đòi hỏi của một sự biến động tâm lý mới, một ảnh hưởng của trào lưu công
nghiệp thế giới. Nhưng bình tĩnh lại xem xét, hiện tượng đó không để lại dấu vết sâu xa trong tâm hồn
Việt Nam. Có một hiện tượng khác vẫn diễn ra. Người ta vẫn hoan nghênh ưa thích các ca khúc đậm đà
âm hưởng của dân ca, bắt nguồn từ các giai điệu dân ca. Một cuộc điều tra của Vụ Nhạc Múa Bộ Văn hoá
cho biết khi hỏi các thanh niên về những bài hát ưa thích thì trong 10 bài thanh niên ưa thích, có đến 8 bài
là bắt nguồn từ dân ca như “Dáng đứng Bến Tre”, “Đất đỏ miền Đông”, “Một khúc tâm tình của người
Nghệ Tĩnh”, v.v… chứ không phải những bài nhịp điệu dồn dập và âm thanh gào thét. Phân tích tình hình
này, các đồng chí ở Vụ Nhạc Múa nhận xét: Rõ ràng là thanh niên Việt Nam vẫn mang tâm hồn Việt Nam
vẫn ưa thích cái gì vốn là của mình. Nhưng với điều kiện phải được nâng cao, người ta không thể thích
dân ca nguyên xi như cũ. Đồng thời số bài hát sáng tác theo mô-típ mô phỏng dân ca hoặc nâng cao dân
mảnh, thanh thoát, thoáng đạt. Gần đây có rất nhiều công trình kiến trúc hiện đại, tôi thường được nghe
những ý kiến nhận xét nặng nề cục mịch. Cho dù công trình có nguy nga, đồ sộ, người ta cũng thích nó
thanh thoát nhẹ nhàng. Không biết các nhà kiến trúc nghĩ sao về điều này.
Như vậy thị hiếu thẩm mỹ Việt Nam là một thị hiếu tinh tế hướng tới cái thanh tao, trang nhã gắn với
thiên nhiên, hòa vào thiên nhiên, hướng tới một cái đẹp bình dị hồn nhiên, nó nhất quán với cái bình dị
hồn nhiên nhân hậu trong phong cách sống, trong phong cách ứng xử của con người tạo nên một bản sắc
bình dị Việt Nam gắn với thiên nhiên và hòa vào thiên nhiên, một mặt nói lên trình độ phát triển xã hội: ta
mới ở vào thời kỳ tiền công nghiệp. Nhưng nó cũng lại là một bản sắc quý giá. Cái xã hội công nghiệp
trong khi công nghiệp hóa đã phá hoại thiên nhiên nhiều, phá vỡ sự cân bằng môi trường, ngày nay chính
những người trong xã hội công nghiệp phát triển lại thèm khát thiên nhiên, muốn trở lại với thiên nhiên
cho họ. Nhưng thiên nhiên được tạo lại có vẻ đẹp hơn thì vẫn là thiên nhiên giả, họ vẫn tìm đến thiên
nhiên thật. Thế mà Việt Nam ta vốn có cái bản sắc quý giá là gần thiên nhiên hòa vào thiên nhiên là một
điều thật không dễ gì có được. Cũng như đối với âm thanh, có một hồi, ta thấy xuất hiện nhiều sự ưa thích
màu sắc mạnh mẽ và từng mảng lớn: quần áo đỏ, áo có hoa rất to, màu rất gắt, ta cũng thấy hình như có
một sự phát triển của thị hiếu phù hợp với sự phát triển công nghiệp. Nhưng hình như nó chỉ rộ lên một
thời gian, nhất là mấy năm sau khi thống nhất đất nước, đến bây giờ tuy hiện tượng đó vẫn còn nhưng
không còn rầm rộ, ồ ạt, mà chiều hướng chung hầu như lại lắng xuống, người ta lại trở về với bản sắc cổ
truyền. Cũng có một tình hình là, các lớp người thường rất sôi nổi và hiếu động, ham chuộng sự mới lạ
cuồng nhiệt vào tuổi mới bắt đầu trưởng thành. Khi người ta đã đến tuổi hơi đứng (quãng 30) thì ý thức
về nguồn gốc, về cội nguồn mạnh lên, rõ hơn và ý thức về bản sắc rõ rệt hơn.
Đến đây, ta lại gặp vấn đề cần bàn tiếp: Bình dị, đi liền với trung thực, nhân hậu và hồn nhiên, là một nét
đẹp của tâm hồn Việt Nam, nét đẹp bình dị đó có thể hoàn toàn phù hợp với yêu cầu thời đại trong sự
phát triển xã hội không?
Thời đại hiện nay yêu cầu công nghiệp hóa, yêu cầu khoa học kỹ thuật, yêu cầu quốc tế hóa nhiều mặt
ngày càng cao. Do đó con người cần phải khẩn trương, chính xác, phong phú và phải ứng xử trong nhiều
điều kiện phức tạp, đa dạng. Vậy bình dị có mặt nào tiêu cực, trở ngại cho những yêu cầu phát triển mới
hay không?
Tôi có được nghe một nghệ sĩ sáng tác nói thế này: “Đứng trước phong cảnh nông thôn Việt Nam, tôi dễ
dàng xúc động với cảnh con đò, bến nước, gốc đa. Còn chưa động được như vậy trước những máy kéo và
trạm bơm…”
Trầu xanh, cau trắng, cau hồng
Vôi pha với nghĩa, thuốc nồng với duyên
v.v… và v.v…
Như vậy tình nghĩa đều là tình cảm, là thứ tình cảm đặc biệt sâu sắc có ràng buộc, có thủy chung, ràng
buộc đây không phải ràng buộc bằng nghĩa lý, nghĩa vụ mà bằng nghĩa tình.
Đồng chí Lê Duẩn nói “Tình thương và lẽ phải”, có thể được coi như một cách diễn đạt mới của tình
nghĩa. Lẽ phải đây cũng có ý nghĩa “tình”, lẽ phải đây là lẽ thuyết phục, lẽ cảm hóa, không phải là lẽ phải
cãi lý, ai chết lý phải chịu. Có người có lý mà không có lẽ phải. Chứ không phải có lý là có lẽ phải đâu.
Tôi hiểu chữ “tình thương và lẽ phải” tức là tình nghĩa theo nghĩa truyền thống được hiểu trong nhân dân.
Người ta thường nói tình nghĩa vợ chồng, tình nghĩa cha con, tình nghĩa anh em, tình nghĩa bạn bè, tình
nghĩa thầy trò, tình nghĩa đồng chí, tình nghĩa họ hàng, tình nghĩa hàng xóm – Tình là tình cảm yêu
thương, nghĩa là tình cảm của một mối quan hệ có ràng buộc, vì vậy thì gặp người hoạn nạn khó khăn ta
có thể có tình thương (thương xót, thương hại) cứu giúp. Chứ không ai nói tình nghĩa
người đi đường, tình nghĩa với người bị nạn. Có chăng lúc ấy, lại là thứ tình nghĩa rộng lớn: tình nghĩa
đồng bào. Nghĩa này là tình trộn vào với tình. Còn như nếu tách ra tình nghĩa là tình cảm + nghĩa vụ và
như trong câu người ta thường nói hết tình còn cái nghĩa, thì cái nghĩa (nghĩa vụ) đó thường mong manh
và mất luôn. Tình nghĩa còn thì còn cả, mất thì mất cả.
Cũng cần bàn thêm các mặt khác nhau của tình nghĩa. Ta có thể e ngại một cách chính đáng là tình nghĩa,
nếu thiếu một nền tảng khoa học, thiếu một lý tưởng mục tiêu cách mạng, có thể phát huy mặt tiêu cực:
nể nang dè dặt, gia đình chủ nghĩa… tạo ra một trạng thái, trì trệ nặng nề trong cuộc sống. Khi tình nghĩa
phát triển thành “chủ nghĩa tình cảm” thì nhiều mối quan hệ nguyên tắc trong sinh hoạt chính trị – xã hội
bị phá vỡ ; không còn nguyên tắc tập trung dân chủ: Trong một tổ chức bàn bạc công việc không có biểu
quyết và thực hiện thiểu số phục tùng đa số, mà bất cứ việc gì cũng phải chờ đợi sự nhất trí hoàn toàn mà
thời hạn của sự chờ đợi này có khi là vô hạn định, do đó công việc không được quyết định. Cấp trên
thương cấp dưới, cấp dưới nể cấp trên, không có kỷ luật, chỉ có thuyết phục và chờ đợi, không có trách
nhiệm cá nhân cụ thể, không sao tìm ra được con người cụ thể chịu trách nhiệm về một khuyết điểm cụ
thể nào. Cấp trên quyết định, cấp dưới không nghe, không thực hiện cũng được, công việc cứ gác lại. Cấp
trên có những quyết định sai, hành động sai, cấp dưới biết rõ, nhưng vẫn nghe theo, làm theo và lại còn
thuyết minh ngụy biện để bao che, và cũng coi đó là tình nghĩa, là thương nhau. Công tác tổ chức, sử
dụng cán bộ lấy tình cảm ưa ghét làm tiêu chuẩn, không lấy tính hiệu quả và tính trung thực làm tiêu
Có thể toàn bộ chi tiết chưa phải là chi tiết những tiêu chuẩn đạo đức. Ví dụ một người thích màu sắc sặc
sỡ, không hồn nhiên không phải là một người vô đạo đức. Nhưng xã hội mà ta hướng tới là xã hội có một
nền đạo đức cao và lúc ấy ai có tâm hồn đẹp là người có đạo đức cao chứ không phải đạo đức chỉ hạn chế
trong các tiêu chuẩn thiện ác cổ truyền. Chính vì vậy trong bản sắc Việt Nam có những nét tinh thần cao
quý và tiên tiến. Cũng có câu hỏi đặt ra bản sắc dân tộc có điểm nào tiêu cực, lạc hậu không? Phải nói
rằng trong diện mạo tinh thần xã hội ta ngày nay còn có nhiều hiện tượng tinh thần lạc hậu, tiêu cực: bảo
thủ, trì trệ, lười biếng, mê tín dị đoan, tư hữu nặng nề, ăn bám, v.v… Nhưng tôi quan niệm ta bàn bản sắc
là bàn đến cái vốn gốc của ta được kết tinh lại, cái vốn quý giá nâng cao giá trị dân tộc, chứ không phải
liệt kê các hiện tượng tinh thần, tìm cái gì là phổ biến, rồi coi cái đó là bản chất, là bản sắc của dân tộc.
Đời sống tinh thần của mỗi dân tộc đều có biến đổi và phát triển. Bản và sắc cũng có sự biến đổi nhưng
nó biến đổi theo quy luật của nó, của cái gốc. Một cái cây càng cao to, nhiều cành lá thì gốc lớn, càng sâu,
càng bền chặt. Xã hội ta đang phát triển, nhưng xã hội ta vẫn là xã hội của dân tộc Việt Nam, dân tộc ta
phát triển, cái gốc của nó càng phải được vun đắp cho lớn cho sâu, cho bền để làm cho dân tộc ta phát
triển mạnh mẽ ngày càng tươi đẹp và ngày càng rạng rỡ diện mạo Việt Nam hơn. Không có vấn đề đào
cái gốc này vứt đi thay vào cái gốc khác.
Cần phải có ý thức sâu sắc về bản sắc dân tộc, người của mỗi ngành vừa nhận thức được rõ bản sắc chung
của dân tộc vừa phải thấy được cái biểu hiện của nó trong ngành mình trong lĩnh vực mình. Còn ở mỗi
lĩnh vực lại phải có công phu tìm ra quy luật đặc thù của phương pháp sáng tạo trong ngành, để đẩy mạnh
sáng tạo trên cơ sở bản sắc thì mới tìm được hướng đi đúng đắn được. Tìm được từng yếu tố dân tộc trong
ngôn ngữ, âm thanh, nhịp điệu, đường nét, màu sắc là quý giá và cần thiết, nhưng cái quan trọng hơn là
phải tìm được quy luật phát triển, quy luật của phương pháp sáng tạo.
Bản sắc dân tộc cũng chính là những nét tâm hồn của dân tộc của mỗi người trong dân tộc. Bản sắc Việt
Nam. Chính là tâm hồn Việt Nam. Bản sắc được biểu hiện ở văn hóa nói chung và hiển nhiên rõ nét nhất
ở con người.
Đây là vấn đề lớn, vấn đề không mới, nhưng lại cũng rất mới, mong rằng sẽ có sự hưởng ứng thảo luận để
đi tới thống nhất được quan niệm, nhận thức vấn đề bản sắc dân tộc ngày càng sâu hơn, rõ hơn.