VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÝ THỊ MINH HẰNG
KHÓ KHĂN TÂM LÝ CỦA PHỤ NỮ
TRONG ĐẤU TRANH CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC
Hà Nội -2014
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÝ THỊ MINH HẰNG
KHÓ KHĂN TÂM LÝ CỦA PHỤ NỮ
TRONG ĐẤU TRANH CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH
Chuyên ngành: Tâm lý học chuyên ngành
Mã số: 62.31.80.05
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC
Người hướng dẫn khoa học 1: PGS.TS. HOÀNG ANH
Người hướng dẫn khoa học 2: TS. LÊ VĂN HẢO
Hà Nội -2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Tất cả số liệu và kết
quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì một
công trình nào khác.
Hà Nội, ngày 15 tháng 01 năm 2014
Tác giả
Lý Thị Minh Hằng
MỤC LỤC
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 3
trong đấu tranh chống bạo lực gia đình 96
Bảng 3.11. Hành vi của phụ nữ trong mối quan hệ với người xung quanh 100
Bảng 3.12. Hành vi giải quyết vấn đề bạo lực gia đình của phụ nữ 102
Bảng 3.13. Đánh giá mức độ khó khăn tâm lý của phụ nữ (tính theo %) 108
Bảng 3.14. Sự khác biệt giữa các nhóm phụ nữ bị các hình thức bạo lực gia đình
khác nhau 110
Bảng 3.15. Sự khác biệt giữa các mặt biểu hiện khó khăn tâm lý của phụ nữ tham
gia và không tham gia Câu lạc bộ “Cùng chia sẻ” 114
Bảng 3.16. Sự khác biệt về khó khăn tâm lý của phụ nữ thuộc các địa bàn khác
nhau 114
Bảng 3.17. Những khác biệt khó khăn về nhận thức trong đấu tranh chống bạo lực
gia đình 115
Bảng 3.18. Những khác biệt khó khăn về thái độ trong đấu tranh chống bạo lực gia
đình 116
Bảng 3.19. Những khác biệt khó khăn về hành vi trong đấu tranh chống bạo lực gia
đình 117
Bảng 3.20. Tỷ lệ phụ nữ chứng kiến bạo lực gia đình khi còn nhỏ 119
Bảng 3.21. Mức độ hài lòng về cuộc sống 121
Bảng 3.22. Sự hỗ trợ của người thân và cộng đồng đối với phụ nữ 123
Bảng 3.23. Tỷ lệ số con của phụ nữ tham gia khảo sát 126
Bảng 3.24. Dự báo thay đổi về khó khăn tâm lý từ thay đổi trong nhóm yếu tố chủ
quan 128
Bảng 3.25. Dự báo thay đổi về khó khăn tâm lý từ thay đổi trong nhóm yếu tố
khách quan 129
Bảng 3.26. Cụm các yếu tố dự báo mức độ khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu
tranh chống bạo lực gia đình 131
DANH MỤC HÌNH VẼ - ĐỒ THỊ - BIỂU ĐỒ
Hình 1.1. Nhận diện các giai đoạn trong chu kỳ bạo lực 35
Hình 1.2. Mô hình rào cản đối với phụ nữ 53
Hình 1.3. Mô hình rào cản tìm kiếm sự giúp đỡ (MBHS) 56
gia đình còn gây thiệt hại cho cộng đồng, xã hội, đất nước ở nhiều mức độ khác
nhau. Nó làm giảm khả năng sản xuất của người phụ nữ trong gia đình và cộng
đồng, làm suy giảm nguồn lực từ các dịch vụ xã hội, làm giảm khả năng học tập và
giáo dục toàn diện, khả năng vận động và sáng tạo của phụ nữ, con cái và cả người
gây ra bạo lực.
Trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của đất nước ta hiện nay, cùng
với việc phát triển kinh tế, cải cách hành chính, giảm nghèo, thực hiện các chính
sách về công bằng xã hội, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến việc giải quyết
nạn bạo lực gia đình. Việt Nam đã chứng tỏ cam kết của mình đối với vấn đề chấm
dứt bạo lực đối với phụ nữ thông qua việc phê chuẩn một số Hiệp định quốc tế cơ
bản về quyền con người. Những cam kết này đã tạo cơ sở tiền đề cho việc xây dựng
các khung pháp lý và chính sách quốc gia nhằm giải quyết bạo lực đối với phụ nữ
tại Việt Nam. Năm 2006, Luật bình đẳng giới ra đời và tiếp theo là Luật Phòng,
Chống bạo lực gia đình được Quốc hội thông qua năm 2007. Mặc dù Việt Nam đã
1
thể hiện cam kết cao trong việc xây dựng Luật và các chính sách đối phó với bạo
lực gia đình nhưng vẫn tồn tại khoảng trống giữa lý thuyết và thực tế triển khai.
Xã hội văn minh ngày càng giải phóng người phụ nữ, công nhận quyền của
người phụ nữ nhưng trong khá nhiều gia đình, bạo lực với người phụ nữ vẫn chưa
chấm dứt. Để xây dựng một nền văn hóa mới, đạo đức mới, công bằng và dân chủ, tự
chủ và văn minh thì phải đấu tranh chống lại bạo lực gia đình. Tiếc rằng, phần lớn
những phụ nữ bị bạo lực thường không dám đối diện với vấn đề này. Họ vẫn thường
dấu kín, e ngại bày tỏ, không dám tìm kiếm sự trợ giúp. Họ cố gắng chịu đựng với
mong muốn có được sự bình yên trở lại trong gia đình. Chính vì vậy mà hậu quả của
bạo lực thường rất nghiêm trọng. Nguyên nhân chính của tình trạng này là do sự
thiếu hiểu biết của người phụ nữ cũng như thiếu sự hỗ trợ của cộng đồng trong phòng
chống bạo lực gia đình. Vì vậy, cần thiết phải thay đổi nhận thức và thái độ của xã
hội từ quan niệm cho rằng bạo lực gia đình là chuyện riêng tư, chuyện nội bộ trong
mỗi nhà sang nhìn nhận bạo lực gia đình là một sự vi phạm quyền con người và ảnh
hưởng nghiêm trọng đến nhân phẩm con người.
hiện trên cả ba mặt: Nhận thức, thái độ và hành vi, trong đó khó khăn về thái độ
trong đấu tranh chống bạo lực gia đình được thể hiện rõ nét nhất.
5.2. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh
chống bạo lực gia đình như: Chứng kiến bạo lực gia đình khi còn nhỏ, trình độ học
vấn, mức độ hài lòng về cuộc sống, sự hỗ trợ của cộng đồng…trong đó sự hỗ trợ của
cộng đồng có ảnh hưởng nhiều nhất đến các mặt biểu hiện của khó khăn tâm lý.
5.3. Xây dựng niềm tin- Nâng cao nhận thức – Tạo sức mạnh hành động tích
cực cho phụ nữ sẽ giúp họ hạn chế và khắc phục những khó khăn tâm lý trong đấu
tranh chống bạo lực gia đình.
6. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
6.1. Xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu
tranh chống bạo lực gia đình. Cụ thể: Làm rõ khái niệm công cụ: “Khó khăn tâm
lý”, “Bạo lực gia đình đối với phụ nữ", “Đấu tranh chống bạo lực gia đình”, “Khó
khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình”; Xác định biểu hiện
khó khăn tâm lý, tiêu chí đo và yếu tố tác động đến khó khăn tâm lý được nghiên
cứu.
6.2. Làm rõ thực trạng khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực
gia đình, các yếu tố ảnh hưởng đến khó khăn tâm lý và mối tương quan giữa chúng.
3
6.3. Đề xuất một số biện pháp khắc phục khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu
tranh chống bạo lực gia đình.
7. GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU
7.1. Giới hạn về nội dung nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu bạo lực của chồng đối với phụ nữ.
Khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình được
xem xét ở các mặt biểu hiện về nhận thức, thái độ và hành vi.
Luận án chỉ đề xuất một số biện pháp khắc phục khó khăn tâm lý của phụ nữ
trong đấu tranh chống bạo lực gia đình mà không tiến hành thực nghiệm.
7.2. Giới hạn về khách thể nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện trên nhóm khách thể là phụ nữ bị bạo lực.
8.2.6. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
8.2.7. Phương pháp thống kê toán học
9. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
Khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình là một
chủ đề khó nghiên cứu về cả nội dung cũng như phương pháp thực hiện. Cho đến
nay, ở Việt Nam có rất ít công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này, đặc biệt
dưới góc độ Tâm lý học.
9.1. Đóng góp về mặt lý luận
Luận án đã xây dựng được khái niệm khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu
tranh chống bạo lực gia đình, chỉ ra được các biểu hiện cụ thể của khó khăn tâm lý
về nhận thức, thái độ và hành vi, tiêu chí đánh giá khó khăn tâm lý và một số yếu tố
tác động đến khó khăn tâm lý được nghiên cứu. Những nét mới này góp phần làm
sáng tỏ hơn lý luận về khó khăn tâm lý nói chung và của người phụ nữ nói riêng
trong đấu tranh chống bạo lực gia đình.
9.2. Đóng góp về mặt thực tiễn
Luận án đã mô tả được bức tranh khó khăn tâm lý trên các mặt nhận thức,
thái độ và hành vi của người phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình và thực
trạng một số yếu tố tác động đến khó khăn tâm lý này. Trên cơ sở đó, một số biện
pháp tác động tâm lý: Xây dựng niềm tin- Nâng cao nhận thức- Tạo sức mạnh hành
đồng cho phụ nữ được xác định là có hiệu quả trong giảm bớt khó khăn tâm lý.
Những kết quả mới này có thể góp phần vào việc phòng, chống bạo lực gia đình đối
với phụ nữ hiện nay.
5
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU KHÓ KHĂN TÂM LÝ
CỦA PHỤ NỮ TRONG ĐẤU TRANH CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH
1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU KHÓ KHĂN TÂM LÝ CỦA PHỤ
NỮ TRONG ĐẤU TRANH CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH
Theo nhiều nghiên cứu, loại hình bạo lực gia đình phổ biến nhất là bạo lực
đối với phụ nữ mà thủ phạm là chồng hay bạn tình gây ra. Dạng bạo lực này có thể
nghiên cứu, bạo lực tình dục là hiện tượng người vợ bị chồng ép buộc trong sinh
hoạt tình dục, đặc biệt khi người chồng trở về nhà trong cơn say rượu. Ở Mỹ,
khoảng 10-14% phụ nữ bị buộc phải sinh hoạt tình dục với chồng khi họ không
mong muốn và trong số những người bị chồng đánh có ít nhất 40% người bị ép
buộc trong quan hệ tình dục. Tỉ lệ phụ nữ bị bạo lực cả về thể chất và tình dục
chiếm từ 30-50%. Nghiên cứu định tính về “Quá trình ra quyết định về nạo phá thai
của phụ nữ có chồng” ở hai làng thuộc bang Uttar Pradesh (Ấn Độ) cho thấy 68%
những người được phỏng vấn trả lời họ bị chồng ép buộc phải sinh hoạt tình dục lúc
họ không muốn, nếu từ chối họ có thể bị đánh.[32]
Ở hầu hết các nước, nghiên cứu về phạm vi và sự ảnh hưởng của bạo lực tinh
thần đối với phụ nữ còn rất ít. Mặc dù vậy, theo kết quả nghiên cứu của Silke Meyer
(2010), phụ nữ bị bạo lực tinh thần chiếm tỉ lệ khá cao từ 40-75% [97, tr.244]. Các
biểu hiện của loại bạo lực này được Catherine So-kum Tang mô tả trong nghiên cứu
về “Bạo lực tinh thần đối với phụ nữ Trung quốc” bao gồm các hành vi đe doạ,
kiểm soát, ghen tuông, cô lập…[67]. So sánh tỉ lệ phụ nữ bị các dạng bạo lực khác
nhau thông qua báo cáo từ các nghiên cứu trên, chúng tôi nhận thấy, bạo lực tinh
thần xảy ra phổ biến nhất.
Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới về “Bình đẳng giới và phát triển”
(2012), mức độ bạo lực gia đình giữa các quốc gia có những khác biệt rất lớn và
không có quan hệ rõ ràng với thu nhập, trong khi phạm vi bạo lực có xu hướng gia
tăng cùng suy thoái kinh tế -xã hội, bạo lực không phân biệt ranh giới. Tại một số
quốc gia có thu nhập trung bình, chẳng hạn như Braxin và Secbia có tới 25% phụ
nữ bị bạn đời hoặc người thân bạo lực thể chất. Tại Peru, gần 50% phụ nữ là nạn
nhân của bạo lực thể chất trong suốt cuộc đời. Theo báo cáo ở Etiopia, 54% phụ nữ
bị người thân lạm dụng thể chất hoặc tình dục trong vòng 12 tháng qua.[36, tr21]
7
Catherine So-kum Tang [67, tr299] trong nghiên cứu về “Bạo lực tinh thần
đối với những người vợ ở Trung Quốc” đã khẳng định: Các nghiên cứu nhân chủng
học và xuyên văn hoá cũng chỉ ra rằng mặc dù hành động bạo lực vợ là hiện tượng
phổ biến trên thế giới nhưng cần cân nhắc tính đa dạng trong việc xác định hành vi
lặng, sự tức giận và nhu cầu nói lên tiếng nói chống lại bạo lực đối với phụ nữ, đặc
biệt là bạo lực trong gia đình[74].
Như vậy, các nghiên cứu về đấu tranh chống bạo lực gia đình đã chỉ ra được
những vấn đề lý luận về bản chất của quá trình đấu tranh chống bạo lực gia đình là
ngăn chặn và xóa bỏ bạo lực nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ.
1.1.1.3. Những nghiên cứu về khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh
chống bạo lực gia đình
Bên cạnh việc đánh giá mức độ, tần suất và các dạng thức bạo lực gia đình,
các nghiên cứu đã đi sâu tìm hiểu suy nghĩ, thái độ, cách ứng phó của phụ nữ trước
hành vi bạo lực, đồng thời cũng chỉ ra những nguyên nhân cơ bản khiến bạo lực vẫn
tiếp diễn. Kết quả chung cho thấy phụ nữ gặp nhiều khó khăn trong đấu tranh chống
bạo lực gia đình.
* Biểu hiện khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình
“Cách nhìn của phụ nữ về cách nhìn của nam giới” là tựa đề một bài viết
trong cuốn “Sự thống trị của nam giới” (2010) của tác giả Pierre Bourdieu. Ở đây,
tác giả khẳng định rằng phụ nữ có một lòng tin đơn thuần về việc cần tuân thủ một
cách vô điều kiện chồng mình. Họ thấy mình có sự lệ thuộc vào suy nghĩ của người
chồng và như vậy mang lại cho họ một cảm giác an toàn hơn. Vì thế, họ có khuynh
hướng ước lượng thành công của mình dựa theo thành công của chồng. Họ tin vào
tình yêu số phận- đó là tình yêu đối với kẻ thống trị và sự thống trị của kẻ đó, vì thế
mà từ bỏ ham muốn thống trị.[42, tr 120-139]
Nhận thức về vai trò người phụ nữ trong gia đình như vậy đã khiến những
người bị bạo lực có một niềm tin sâu sắc về sự phụ thuộc của mình vào chồng.
Trong tài liệu hướng dẫn tư vấn qua điện thoại cho phụ nữ bị bạo lực gia đình
(1999), tác giả Lucinda Willshire cho rằng người phụ nữ bị trói buộc vào cuộc sống
bạo lực bởi họ không tin rằng mình có thể tự sống được; tin rằng chồng mình sẽ
thay đổi; cho rằng con cái sẽ tốt hơn khi ở với cả bố và mẹ. Những suy nghĩ đó đã
mang lại cho người phụ nữ nhiều cảm xúc tiêu cực như [31]:
9
- Sợ sự nghèo đói khi phải tự chi trả nhiều khoản và không có tiền dành dụm.
10
Vì thế, phụ nữ thường khó khăn trong việc lựa chọn quyết định cho mình.
Belknap, Ruth Ann [62, tr387-404] thực hiện phỏng vấn sâu 18 phụ nữ nông thôn,
yêu cầu mỗi người nói rõ về những khó khăn trong cuộc sống cũng như cách họ đã
ứng phó. Có 3 loại quyết định cơ bản được phụ nữ đưa ra: a) Rời bỏ mối quan hệ
hiện có; b) Kháng cự lại; c) Tiếp tục sống trong sự đe doạ đó. Việc đưa ra quyết
định này có những khó khăn do mâu thuẫn với vấn đề đạo đức truyền thống. Vì thế,
hầu hết phụ nữ có xu hướng chấp nhận bạo lực.
Đặc biệt, nghiên cứu về “Bạo lực gia đình trong cộng đồng di cư Châu Á”
của nhóm tác giả Lee, Yeon- Shim, Hadeed, Linda(2009) đã chỉ ra rằng: Bạo lực gia
đình là một dịch bệnh nghiêm trọng giữa các cộng đồng người nhập cư châu Á. Tuy
nhiên, còn ít thông tin về phạm vi, tính chất, và các yếu tố văn hóa và xã hội liên
quan đến bạo lực gia đình. Tác giả xem xét kỹ lưỡng một số lĩnh vực: (a) Bối cảnh
bạo lực gia đình; (b) Tỉ lệ bạo lực gia đình; (c) Nguy cơ mắc bệnh lây truyền qua
đường tình dục và HIV/AIDS; (d) Những hậu quả sức khỏe tâm thần và thể chất;
(e) Hỗ trợ xã hội và giúp đỡ hành vi tìm kiếm và (f) Rào cản đối với việc sử dụng
dịch vụ. Nghiên cứu đã làm rõ khá nhiều khía cạnh liên quan đến khó khăn tâm lý
của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình xét về cả khía cạnh cá nhân và
xã hội. [89,tr143-170]
Menon, Niveditha [94,tr702] đã nỗ lực mang lại sự rõ ràng đối với nhiều loại
bạo lực gia đình thông qua nghiên cứu “Mối quan hệ giữa chế độ phụ hệ, bạo lực
gia đình và sự nỗ lực của phụ nữ”. Mặc dù chế độ phụ hệ đã được phần lớn nghiên
cứu cho là nguyên nhân chính của bạo lực gia đình nhưng các quá trình đánh dấu
mối quan hệ này hiếm khi được đánh giá. Ngoài ra, ý thức hệ và những hạn chế
trong hệ thống gia đình gia trưởng Ấn Độ là lý do chính khiến cho phụ nữ ở trong
mối quan hệ bạo lực. Gần đây, nhiều nhà nghiên cứu đã đặt câu hỏi liệu chế độ gia
trưởng có phải là yếu tố duy nhất ảnh hưởng đến bạo lực gia đình và phụ nữ luôn
nạn nhân của bạo lực. Dựa trên những phát hiện này, tác giả đã nảy sinh nhu cầu
cần đánh giá lại các mối quan hệ giữa tính gia trưởng, bạo lực gia đình và sự nỗ lực
của phụ nữ. Tác giả chú ý tới động lực giữa các cá nhân và trong nội bộ gia đình cụ
* Nguyên nhân dẫn đến khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống
bạo lực gia đình
Hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra nguyên nhân cơ bản, sâu xa nhất dẫn đến
hành vi bạo lực gia đình của người chồng cũng như sự chấp nhận, cam chịu của phụ
nữ là tính gia trưởng.
12
Tác giả Kamla Bhasin, trong cuốn sách“Những nghiên cứu về đặc điểm nam
tính” đã cho rằng: “Tính gia trưởng là một hệ tư tưởng xã hội mà trong đó coi đàn
ông là đẳng cấp trên so với phụ nữ, một biểu hiện cụ thể là đàn ông điều khiển
nhiều hơn ở mọi lĩnh vực và được đưa ra quyết định” [26, tr14]. Theo lẽ đó, đàn
ông là người lãnh đạo gia đình, người thừa kế của gia đình và người đứng tên tài
sản. Uy quyền của người đàn ông trong gia đình cho phép họ có những hành động
bạo lực đối với người vợ của mình.[26,tr15]
Nhiều nghiên cứu về giới đã chỉ ra rằng: theo cấu trúc xã hội của giới, nam
giới được dạy để có nam tính: Mạnh mẽ, uy quyền, xông xáo, độc lập, bình tĩnh,
thống trị, năng động, ganh đua, tự tin…Phụ nữ được dạy để có nữ tính: Mềm
yếu, thụ động, ân cần, lệ thuộc, mong manh, dễ xúc động, phục tùng, nhu mì, sẵn
sàng hợp tác, thiếu tự tin…Theo Robin Haarr, quan hệ giới và cấu trúc nam tính-
nữ tính dựa trên cơ sở nguyên lý tổ chức: Ưu thế của nam giới đối với phụ nữ; sự
thống trị của nam giới về mặt xã hội, chính trị và kinh tế đối với phụ nữ; sự phục
tùng của phụ nữ đối với nam giới trong gia đình và xã hội. Chính nguyên tắc ưu
thế và sự thống trị của nam giới đối với phụ nữ dẫn đến vấn đề bạo lực gia đình
đối với phụ nữ.[14]
Trong bài viết “Ngược đãi vợ: Những yếu tố dẫn đến ngược đãi vợ và sự can
thiệp”, Robin Haarr cũng đã khẳng định vai trò của phụ nữ do xã hội xây dựng
được sắp đặt theo trật tự, trong đó nam giới nắm quyền và kiểm soát phụ nữ. Sự
thống trị của nam giới và sự coi thường phụ nữ thể hiện cả trong hệ tư tưởng và
trong nền tảng hôn nhân. Bạo lực với phụ nữ như một phương tiện phục vụ sự
thống trị của nam giới. Các hành vi bạo lực với phụ nữ không thể chỉ là do nguyên
nhân duy nhất là các yếu tố tâm lý của cá nhân hoặc các điều kiện kinh tế xã hội
nhà Thờ, nhà trường, Nhà nước.[42,tr147-154]
Ỏ hầu khắp các quốc gia, tôn giáo đóng vai trò quan trọng trong việc hình
thành nên quan điểm giới bằng cách xây dựng nhận thức của con người về gia đình,
hôn nhân, vai trò, địa vị quyền lực của vợ-chồng, nam -nữ…Tất cả các tôn giáo đều
có luật liên quan đến hôn nhân, ly dị…và đặc biệt ở những quốc gia mà luật dân sự
không được coi trọng thì các điều luật trong tôn giáo đã thể chế hoá sự bất bình
đẳng giữa nam và nữ. Kamla Bhasin- một nhà hoạt động nữ quyền nổi tiếng người
Ấn Độ cho rằng: “Hầu hết các tôn giáo đều cho người đàn ông là người làm chủ gia
đình và trao trọn cho họ những quyền lực cao hơn vì họ là những đứa con trai hay
những ông chồng. Một văn bản của một tôn giáo còn quy định rõ ràng rằng người
vợ phải dưới sự chỉ huy của chồng và anh ta có quyền trừng phạt vợ nếu mình
14
muốn thoát ra khỏi khuôn phép đó. Người vợ không có quyền làm điều tương tự
như vậy với chồng. Quan niệm về quyền lực và sức mạnh của đàn ông được hình
thành và duy trì bởi tôn giáo. Điều này còn trở nên khó cưỡng lại hơn khi chính đàn
ông toàn quyền trong các tổ chức tôn giáo, các tư tưởng xã hội. Khi điều gì đó đã là
quy định của tôn giáo thì rất khó chống lại. Những lý lẽ, lý trí và luật dân sự thường
không xoá bỏ được niềm tin- một điều nằm ngoài lý lẽ và lý trí”.[26, tr26]
Theo Robin Haarr, trong văn hóa Á đông, quan hệ gia đình và giới được dựa
trên nguyên tắc Khổng giáo. Gia đình châu Á truyền thống có nhiều thành viên của
3 đến 4 thế hệ cùng chung sống, là những đơn vị lớn, do nam giới làm chủ. Những
giá trị gia đình được đề cao như[14]:
- Bổn phận và quyết định tập thể được khuyến khích.
- Quan hệ hài hoà giữa người với người và sự lệ thuộc lẫn nhau được đề cao.
Quyền lợi gia đình được đặt lên trên quyền lợi cá nhân.
- Quan niệm ưu quyền và quyền hạn của nam giới.
- Quan niệm khuất phục của nữ giới trước nam giới.
- Phụ nữ được dạy dỗ để phục tùng gia trưởng.
- Chồng được trao quyền tối thượng đối với vợ con.
- Bạo lực đối với vợ được coi là đặc quyền của người chồng.
Silke Meyer đã xác định các hình thức giúp đỡ chính thức và không chính thức chịu
ảnh hưởng của mức độ bạo lực như thế nào. Theo tác giả, nguồn hỗ trợ không chính
thức đóng vai trò quan trọng trong tiến trình tìm kiếm sự giúp đỡ của nạn nhân. Có
thể coi đây là nguồn hỗ trợ được nạn nhân lựa chọn nhiều nhất bao gồm: Gia đình,
bạn bè, đồng nghiệp, hàng xóm…Đây là bước đầu tiên trong quá trình tìm kiếm sự
giúp đỡ, có thể giúp nạn nhân định hình khi đưa ra các quyết định cho sự tìm kiếm
giúp đỡ tiếp theo. Những phản ứng tích cực của gia đình, bạn bè sẽ khuyến khích
nạn nhân đưa ra những quyết định tìm sự giúp đỡ chính thức hơn như các trung tâm
tư vấn, tổ chức chính quyền, đoàn thể, công an, y tế…Việc lựa chọn sự hỗ trợ chính
thức phụ thuộc vào nhận thức của nạn nhân về mức độ nghiêm trọng của hành vi
bạo lực, mức độ an toàn của con cái. Tuy nhiên, phụ nữ sẽ im lặng vì sợ con cái mất
bố hoặc có liên quan đến bạo lực gia đình. Vì thế, vai trò của con cái là yếu tố tạo ra
sự phức tạp trong việc đưa ra quyết định của nạn nhân. Tác giả đưa ra một số
khuyến nghị liên quan đến việc đáp ứng nhu cầu của nạn nhân về vấn đề con cái và
sự ngăn chặn mức độ bạo lực, giảm tác hại do bạo lực gây ra. [103]
16
Phân tích kết quả các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về
khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình cho thấy, các
nhà nghiên cứu đã chỉ ra được khá nhiều các biểu hiện và nguyên nhân dẫn đến khó
khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình. Tuy nhiên, mức độ
khó khăn tâm lý này chưa được nghiên cứu đầy đủ và thiếu tính hệ thống.
1.1.2. Những nghiên cứu về khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh
chống bạo lực gia đình ở Việt Nam
1.1.2.1. Nghiên cứu về bạo lực gia đình
Ở Việt Nam, vấn đề bạo lực gia đình bắt đầu được quan tâm từ những năm
cuối thập niên 90 của thế kỷ XX. Một số nghiên cứu được thực hiện trong giai đoạn
1996- 2001 cho thấy mức độ phổ biến của các dạng bạo lực gia đình, nguyên nhân
và hậu quả…Điển hình là một số nghiên cứu của các tác giả: Lê Thị Quý
(1996,1999); Lê Thị Phương Mai (1998,1999); Vũ Mạnh Lợi (1996,1999); Nguyễn
Hoài Đức (2001) và nhiều tác giả khác. Tiếp sau đó, vấn đề bạo lực gia đình được