luận văn thạc sĩ Những khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên các dân tộc thiểu số năm thứ nhất trường CĐSP Sơn La - Pdf 26

1
MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Từ khi mới sinh ra con người đã luôn luôn gặp những khó khăn trở ngại
trong hoạt động và chính từ những khó khăn đú đó đũi hỏi con người phải có
sự nỗ lực vượt qua bằng cách này hay cách khác để đạt được mục đích như
mong muốn.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, khi miền Bắc hoàn toàn
giải phóng và bắt tay vào lao động sản xuất, xây dựng đất nước đi lên chủ
nghĩa xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã nhận thấy vai trò vô cùng quan trọng
của giáo dục, và nhiệm vụ mang tính chiến lược được đặt ra là phải tạo nên
những thế hệ giáo viên có trình độ chuyên môn cao, phẩm chất nhân cách tốt
để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. Các nhà trường CĐSP là một khâu -
mắt xích không thể thiếu trong nhiệm vụ đú, nó cú một vai trò vô cùng quan
trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Do vậy trường CĐSP
phải thực hiện nhiệm vụ giáo dục - đào tạo những sinh viên sư phạm, trang bị
cho họ những tri thức khoa học, nghiệp vụ sư phạm để họ trở thành những
người giáo viên có đủ khả năng dạy học và giáo dục.
Mục tiêu của Đảng và nhà nước ta hiện nay là đưa đất nước phát triển đi
lên về mọi mặt, bên cạnh đó rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các tỉnh
miền núi so với các tỉnh đồng bằng. Nhiệm vụ đú đó được thực hiện thông qua
nhiều chính sách đầu tư, đặc biệt trong đó có giáo dục, thể hiện như: xây dựng
cơ sở hạ tầng, cung cấp trang thiết bị cho các trường học, đào tạo đội ngũ giáo
viên có trình độ đáp ứng các yêu cầu của sự đổi mới. câu hỏi đặt ra là làm thế
nào để nâng cao chất lượng dạy - học của của giáo viên - học sinh luôn là vấn
đề được quan tâm.
Trong quá trình học tập tại trường CĐSP, sinh viên phải trải qua rất
nhiều khó khăn, nhất là đối với sinh viên năm thứ nhất và đặc biệt là sinh viên
2
các dân tộc thiểu số miền núi. Những sinh viên này phải tiếp cận với nội dung
tri thức mới với số lượng và nội dung lớn hơn, phức tạp hơn so với phổ thông.

3. 2 Khách thể nghiên cứu: Sinh viên dân tộc thiểu số năm thứ nhất
trường CĐSP Sơn La (thăm dò khoảng trên 150 sinh viên dõn tộc thiểu số
năm thứ nhất)
4. Giả thuyết khoa học
Sinh viên các dân tộc thiểu số thường gặp những khó khăn tâm lý trong
học tập đặc biệt là năm thứ nhất, cụ thể như: Khó khăn tõm lý trong nhận
thức, thái độ, hành vi; trong phương pháp học, điều kiện học tập, môi trường
sống và môi trường học tập; khả năng hiện có của của các em. Những khó
khăn đó có ảnh hưởng nhất định đến kết quả học tập của họ. Nếu rốn luyện
cho các em thói quen tự tin, bạo dạn trong học học tập cũng như trong giao
tiếp và các kỹ năng cần thiết trong học tõp thì sẽ nâng cao được chất lượng kết
quả học tập.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm giải quyết những nhiệm vụ sau:
5. 1 Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến đề tài
nghiên cứu (học tập, khó khăn tâm lý trong học tập, ảnh hưởng của khó khăn
tâm lý đến kết quả học tập.
4
5.2 Phát hiện thực trạng những khó khăn tâm lý trong học tập của sinh
viên dân tộc thiểu số năm thứ nhất trường CĐSP và nguyên nhân nảy sinh
những khó khăn tâm lý đó.
5.3 Xõy dựng chõn dung điển hình về khăn tõm lý trong học tập của
sinh viên dõn tộc thiểu số năm thứ nhất trường CĐSP Sơn La
5.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục những khó khăn tõm lý
đó
6. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài chỉ nghiên cứu thực trạng những khó khăn tâm lý trong hoạt
động học tập của sinh viên các dân tộc thiểu số năm thứ nhất, thử nghiệm một
vài biện pháp tác động nhằm hạn chế những khó khăn tâm lý đó.
7. Địa bàn nghiên cứu

nguyên tắc lớp học. Vì thế, trẻ nào vượt qua được khó khăn này thì sẽ học
tốt, cũn không vượt được thì sẽ dẫn đến tình trạng chán học, kết quả không
cao”. Theo [42;19].
- Cũng với đối tượng nghiên cứu là học sinh lớp 1, tác giả A.V
Petrovxki đã chia khó khăn tõm lớ của trẻ em khi đi học lớp 1 làm ba loại.
+ Những khó khăn có liờn quan đến đặc điểm của chế độ học tập mới
6
+ Khó khăn trong việc thiết lập quan hệ giao tiếp mới với thầy cô và
bạn bè
+ khó khăn trong việc thích nghi với hoạt động mới, lúc đầu trẻ được
chuẩn bị của gia đình, nhà trường, xã hội nên trẻ có tõm trạng vui thớch,
sẵn sàng đi học, và sau giảm dần khát vọng và chán học. [33;52].
Bên cạnh đó, tác giả đã đề cập đến những nguyên nhõn dẫn đến khó
khăn, ảnh hưởng của những khó khăn nêu trên đến đời sống của trẻ và đề xuất
một số biện pháp giải quyết khó khăn cho trẻ. Như vậy, tác giả đã đi sõu
nghiên cứu những khó khăn tõm lý đối với hoạt động học tập nhưng đó mới
chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu ở học sinh lớp 1.
Theo nhà tõm lí học Mauricé Deberse, trong công trình khó khăn tõm lí
của trẻ đã chỉ ra rằng: Đứng trước ngưỡng cửa của lớp 1, trẻ em gặp rất nhiều
khó khăn tõm lí. Điều này đã ảnh hưởng đến sự thích ứng với hoạt động học
tập, làm cho trẻ sợ học, không muốn tới trường và kết quả học tập không cao.
Ballard và Clauchy (1985) đã chỉ ra những khó khăn tõm lí trong quá
trình học tập của từng SV chõu Á khi học tại các trường đại học của Úc . Hai
tác giả đã khẳng định : SV đến từ các nên văn hoá khác nhau thường đặt ra các
mục đích khác nhau trong cách nghĩ và cách học của họ. Hầu hết SV nghĩ và
học theo cách mà họ đã được đào tạo ở trường phổ thông và đại học vì vậy họ
có thể đã thành công ở ngôi trường và đất nước của họ nhưng lại gặp thất bại
ở đất nước khác, môi trường học tập khác. Bằng kinh nghiệm và kiến thức
khoa học của mình các tác giả và một số sinh viên, học viên cao học, nghiên
cứu sinh người Nhật, Singapo, Indonexia tháo gỡ một số khó khăn tõm lí

chỉ ra nhiều khó khăn tõm lí mà trẻ lớp 1 phải vượt qua. Tác giả cho rằng:
8
“Trong quá trình lớn lên của trẻ em có những bước ngoặt chuyển từ giai đoạn
này sang giai đoạn khác, trẻ em đòi hỏi phải thay đổi phương thức hoạt động
một cách triệt để”. Đồng thời tác giả cũng nêu ra một số khó khăn tõm lí cụ
thể mà trẻ lớp 1 phải vượt qua:
+ Trẻ phải rời bỏ cuộc sống thoải mái, đa dạng, vui nhộn, hoạt động tuỳ
hứng ở mẫu giáo để khép mình vào kỉ luật nghiêm khắc của lớp học phổ
thông.
+ Trẻ gặp những khó khăn trong quan hệ với thầy cô
+ Trẻ bị “vỡ mộng” khi vào lớp 1 vì sự hõn hoan chờ đón những điều
hấp dẫn, được thay bằng những điều khác xa với tưởng tượng của trẻ. [34]
- Trong bài viết “Chuẩn bị tõm lí cho trẻ vào lớp 1” tác giả Phạm Thị
Đức cũng nêu ra một số khó khăn tõm lí của trẻ em khi đi học:
+ Trẻ chưa quen với chế độ học tập
+ Chưa có thói quen nắm các dữ kiện cõu hỏi của bài tập, yêu cầu của
cô giáo trước khi bắt tay vào hành động
+ Nhút nhát, mất bình tĩnh trước hoàn cảnh mới.
+ Chưa có động cơ học tập đúng đắn
Năm 1995, trong bài “Những khó khăn tõm lí” trong quá trình giải toán
của học sinh tiểu học”, tác giả Nguyễn Thị Hải đã đề cập đến các nguyên nhõn
khác nhau và hạn chế năng lực giải toán của học sinh tiểu học
- Tác giả Nguyễn Thanh Sơn trong bài viết “Những khó khăn của học
sinh miền núi khi học tác phẩm văn học cổ điển Việt Nam” đã phõn tích
những khó khăn của học sinh miền núi khi học tác phẩm văn học cổ điển Việt
Nam và chỉ ra những khó khăn mà học sinh gặp phải là:
+ Hoàn cảnh giao tiếp của học sinh miền núi bị hạn chế
+ Vốn từ ngữ của học sinh miền núi còn thiếu và yếu
+ Năng lực cảm thụ một cõu, một đoạn thơ yếu
9

+ Năm 2002. Nguyễn Thị Thu Huyền với đề tài “Thực trạng khó khăn
tõm lí trong quá trình giải bài tập thực hành các thao tác kĩ thuật của sinh viên
trường CĐSP kĩ thuật Vinh”
+Năm 2004. Nguyễn Văn Diệp với đề tài “Những khó khăn tõm lí trong
quá trình học tập của sinh viờn năm thứ nhất trường CĐSP Điện Biên.
+ Năm 2005 Đỗ Văn Bình với đề tài “Nghiên cứu khó khăn tõm lí trong
hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất CĐSP Quảng Trị”
Nhìn chung vấn đề khó khăn tõm lí đã được các nhà tõm lí, giáo dục
trong và ngoài nước đề cập đến song cũn rất ít hoặc chưa làm rừ được bản
chất của khó khăn tõm lí, đặc biệt là khó khăn tõm lí trong học tập với sinh
viên dõn tộc thiểu số thì chưa có tác giả nào quan tõm nghiên cứu, Xuất phát
từ những lí do trên chúng tôi đã đi vào nghiên cứu và chọn đề tài này làm luận
văn tốt nghiệp của mình.
1.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHÓ KHĂN TÂM LÝ TRONG
HỌC TẬP CỦA SV NÓI CHUNG VÀ SV DTTS NĂM THỨ NHẤT NÓI
RIÊNG.
1.2.1 Khó khăn tõm lớ
1.2.1.1 Khó khăn nói chung
Trong từ điển Anh - Việt [18;tr278] từ “difficulty” được dùng để chỉ sự
khó khăn, sự gay go, sự khắc nghiệt đòi hỏi nhiều nỗ lực để khắc phục
Người ta hay dùng từ “shock” để chỉ sự khó khăn, sự sỗc, sự choáng
váng trước một môi trường mới
Theo từ điển Pháp - Việt thì từ “difficulté” chỉ sự khó khăn, sự việc gõy
trở ngại. [8; tr335]
11
Theo từ điển tiếng Việt thông dụng [49;tr357] khó khăn có nghĩa là có
nhiều trở ngại làm mất nhiều công sức
Theo “từ điển láy tiếng Việt” [14; tr20] Khó khăn nghĩa là có nhiều trở
ngại, làm mất nhiều công sức.
Qua định nghĩa về khó khăn của các từ điển trên ta có thể hiểu khó khăn

phõn làm 2 loại: yếu tố sinh học và yếu tố tõm lý
1.2.2 Hoạt động học tập của SVSP
1.2.2.1 Khái niệm hoạt động học tập
Hoạt động học tập là một dạng hoạt động trí tuệ, là một trong những
hình thức lao động chính của con người. Nó quyết định trực tiếp đến sự phát
triển, hoàn thiện nhõn cách con người cũng như sự tiến bộ, phát triển của lịch
sử nhõn loại
Cuộc sống con người là một chuỗi những hoạt động đan xen, kế tiếp
nhau, hoạt động học tập là một dạng hoạt động chớnh nhằm tiếp thu, lĩnh hội
những thành tựu tri thức, kinh nghiệm xã hội lịch sử mà loài người đã tích luỹ
được trong suốt chiều dài lịch sử.
Trong quá trình học tập, lĩnh hội kinh nghiệm xã hội, tri thức của nhõn
loại, cá nhõn có thể tiến hành bằng nhiều cách học khác nhau. Thông thường
học có 2 dạng: học ngẫu nhiên và học có mục đích.
Học ngẫu nhiên: Đõy là kiểu học được thực hiện một cách không chủ
định, nghĩa là người học lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm hình thành kĩ năng, kĩ
xảo thông qua việc thực hiện các hoạt động khác nhau trong đời sống hàng
ngày. Kết quả của hoạt động này là những tri thức thu được rời rạc, không hệ
thống chỉ là những tri thức ngẫu nhiên tiền khoa học, mục đích của việc học sẽ
13
không trùng với mục đích của hoạt động Người học chỉ lĩnh hội những gì
liên quan trực tiếp tới nhu cầu, hứng thú, các nhiệm vụ trước mắt, cũn những
cái khác thì bỏ qua. Với cách học này chỉ mang lại cho con người những kiến
thức tiền khoa học , có tính chất ngẫu nhiên, rời rạc, không hệ thống chứ chưa
thực sự là những tri thức khoa học.
Trong thực tiễn, để tồn tại và phát triển cũng như để cải biến thế giới
hiện thực, con người không thể chỉ dừng lại ở những tri thức kinh nghiệm mà
đòi hỏi phải có hệ thức khoa học thực sự có hệ thống, phải hình thành những
năng lực thực tiễn mà cách học ngẫu nhiên dựa trên cơ sở hoạt động sống
hàng ngày không thể đáp ứng được. Do vậy con người phải tiến hành hoạt

dưới sự hướng dẫn của cán bộ giảng dạy. Trong quá trình này việc nắm vững
nội dung cơ bản các thông tin mà thiếu nó thì không thể tiến hành được hoạt
động nghề nghiệp tương lai.
Như vậy các tác giả trên chưa có sự thống nhất hoàn toàn trong việc
quan niệm về hoạt động học tập, tuy nhiên họ đều xem xét hoạt động học tập
hoặc có liên quan đến nhận thức hoặc liên quan chỉ với tư duy hay nghề
nghiệp. Mỗi quan niệm thường nhấn mạnh một khớa cạnh nào đó, nhưng các
tác giả cũng có điểm chung về hoạt động học tập là có mục đích tự giác, có ý
thức về động cơ và trong đó diễn ra quá trình nhận thức, đặc biệt là quá trình
tư duy.
Ở trong nước, trong những năm gần đõy, nghiên cứu về hoạt động học
tập luôn được các nhà tõm lí học, giáo dục học quan tõm.
Theo tác giả Nguyễn Quang Uẩn “Hoạt động học tập” là hoạt động
được thực hiện theo phương thức nhà trường, do người học thực hiện dưới sự
hướng dẫn của người lớn (thầy giáo) nhằm lĩnh hội tri thức, khái niệm khoa
15
học, và hình thành những kĩ năng, kĩ xảo tương ứng, làm phát triển trí tuệ và
năng lực con người để giải quyết các nhiệm vụ do cuộc sống đặt ra [46; tr148]
Theo tác giả Bựi Văn Huệ, “Hoạt động học tập là hoạt động có ý thức
nhằm thay đổi bản thõn chủ thể hoạt động. Trong hoạt động này, các phương
thức chung của việc thực hiện những hành động nhận thức và thực tiễn trở
thành mục đích trung tõm của hoạt động [19 - 22]
Tác giả cũng cho rằng hoạt động học thực chất là hoạt động nhận thức
được tổ chức một cách chuyên biệt để chiếm lĩnh những khái niệm khoa học.
Nhà bác học nhận thức thế giới và phát hiện ra cái mới cho nhõn loại. Học
sinh bằng hoạt động lĩnh hội những cái mà các nhà bác học đã khám phá ra
dưới sự tổ chức của giáo viên. Nhờ vậy học sinh cũng lặp lại đúng quy luật
như quá trình phát minh của các nhà bác học. Học sinh phát hiện ra cái mới
cho chính bản thõn mình, từ đó mà họ hoàn thiện nhõn cách cho bản thõn.
Cùng quan điểm với Bựi Văn Huệ khi bàn về hoạt động học tập, tác giả

Xuất phát từ mục tiêu giáo dục ở bậc ĐH, CĐ, từ yêu cầu của xã hội
nên hoạt động học tập của người SV ngoài những đặc điểm chung của hoạt
động học tập cũn có những đặc điểm nổi bật sau:
HĐHT mang tính chất nghề nghiệp, tức là vào ĐH,CĐ thì sự phõn hoá
về chuyên môn, chuyên ngành hẹp đã sõu sắc hơn nhiều so với phổ thông.
Hoạt động học tập với tính chất chủ yếu là phục vụ cho các lĩnh vực nghề
nghiệp trong tương lai nên trong quá trình học tập SV phải hoàn thành nhiệm
vụ chủ yếu là tiếp thu có sáng tạo, có phê phán ở trình độ cao những hiểu biết ,
kĩ năng cơ bản của nghề nghiệp tương lai. Tức là họ phải phấn đấu nắm được
cơ sở, những vấn đề then chốt của nghề nghiệp mà họ cần đảm nhận sau khi
tốt nghiệp ĐH, CĐ với tư cách là một cán bộ khoa học, kĩ sư, chuyên viên, cử
17
nhận, thợ có trình độ cao. Do vậy, những tri thức họ lĩnh hội không phải là
những tri thức phổ thông cơ bản mà là hệ thống các tri thức khoa học cơ bản,
cơ sở, tri thức chuyên nghành, tri thức công cụ và các kĩ năng, kĩ xảo tương
ứng với chuyên ngành ấy.
Hoạt động học tập của SV mang tớnh chất nghiên cứu, bên cạnh việc
lĩnh hội cái mới đối với bản thõn (giống như học sinh phổ thông), SV bắt đầu
tham gia tìm kiếm, phát hiện cái mới (cái chưa hề biết) đối với nhân loại một
cách vừa sức. Vì thế, nghiên cứu khoa học trở thành một bộ phận có mối quan
hệ hữu cơ với hoạt động học tập. Qua việc tập dượt nghiên cứu, giúp hình
thành ở SV những phẩm chất, tác phong, phương pháp nghiên cứu, phương
pháp luận khoa học … của nhà nghiên cứu; góp phần giải quyết một cách
khoa học những vấn đề do thực tiễn xã hội, thực tiễn cuộc sống, thực tiễn nghề
nghiệp đặt ra. Từ tớnh chất nghiên cứu của hoạt động học tập đòi hỏi người
SV phải có thêm tính sáng tạo, tính thực tiễn, tính kiên nhẫn …vv. Điều này
có nghĩa là, trong quá trình học tập, dưới vai trò chủ đạo của giảng viên, SV
không được nắm máy móc những chõn lí có sẵn mà họ có khả năng tiếp nhận
những chõn lí đó với óc phê phán, có thể khẳng định, phủ định, hoài nghi khoa
học, lật ngược vấn đề, đào sâu, mở rộng hoặc tỡm ra cái mới. Tính sáng tạo

độc lập cao trong HĐHT là do kết quả phát triển tương đối hoàn thiện của các
chức năng tõm sinh lí ở lứa tuổi này. Sự trưởng thành về mặt trí lực, tư duy
lôgic, thế giới quan và nhõn sinh quan là cơ sở quan trọng của tính độc lập nói
chung và trong học tập nói riêng của sinh viên. Trên đây là những đặc điểm cơ
bản trong HĐHT của SV, giúp chúng ta thấy được sự khác biệt với các cấp
19
học, bậc học khác. Nhưng đê hiều rừ hơn về hoạt động học tập ở ĐH, CĐ thì
không thể dừng lại ở đõy mà phải tỡm hiều ở một số khớa cạnh khác.
Tính thực tiễn: SV học tập với tớnh năng động cao, phải biết dự đoán
chiều hướng phát triển và ứng dụng chuyên môn vào thực tiễn như thế nào.
Trong học tập SV cần chú trọng phương pháp bộ môn, chuyên nghành, cách
thức nghiên cứu khoa học, thực hành, thí nghiệm, phục vụ cho nghề nghiệp
tương lai. Quá trình học tập của SV trên cơ sở nắm vững hệ thống kiến thức lý
luận ở tầm cao, phát triển kĩ năng ứng dụng và năng lực sáng tạo trong một
chuyờn môn hẹp. Tớnh thực tiễn trong học tập của SV cũn cho thấy sự đáp
ứng về những đòi hỏi của xã hội với việc đào tạo đội ngũ chuyên gia trong các
lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội trong thời đại mới. Ngày nay ngoại
ngữ và tin học là những yêu cầu mang tính thời đại đối với SV, với tư cách là
phương tiện học tập, “chỡa khoá” để mở ra kho tàng tri thức nhõn loại và
nghề nghiệp trong tương lai
Căn cứ vào phương diện thời gian, không gian, HĐHT ở đại học được
chia thành ba hình thức sau
HĐHT trên lớp được quy định bởi mục đớch, chương trình học tập,
được thể chế hoá bằng thời khoá biểu, giáo trình, tài liệu học tập. HĐHT được
tiến hành dưới sự hướng dẫn của giảng viên và bao gồm các giờ nghe giảng,
thảo luận, xemine, ôn tập …vv. Kết quả của hoạt động này do giảng viờn đánh
giá.
HĐHT ngoài lớp bắt buộc thường được tiến hành sau những giờ học ở
trên lớp, là sự hoàn tất một cách lôgic các giờ học trên lớp, ví dụ: Thực hành,
thí nghiệm, thực địa, thực tế …vv. Hoạt động này có thể có hoặc không có sự

21
chỉ có thể giải quyết bằng việc tự học của SV. Do vậy, tự học và sử dụng thời
gian hợp lí được coi là một cách thức học tập hiệu quả của SV. Qua việc tự
học, sinh viên sẽ mở rộng được kiến thức của mình đồng thời họ dần tạo ra
cho mình một phương pháp làm việc độc lập, có hiệu quả. Tuy nhiện việc tự
học cũng phải đặt trong mối quan hệ với vai trò của người giảng viên (người
tổ chức, hướng dẫn, điều khiển, điều chỉnh).
Túm lại, hoạt động học tập của sinh viên thực sự là một loại lao động trí
óc căng thẳng. Học tập của SV diễn ra trong môi trường chuyên nghiệp mang
tính chất đặc thù của nghề nghiệp tương lai như của ngành học. Nghĩa là học
tập của SV đồng thời phải đáp ứng yêu cầu cả về chuyên môn và nghiệp vụ ở
trình độ cao. Trong quá trình học tập, SV phải giải quyết các nhiệm vụ học tập
thông qua việc thực hiện hệ thống hành động học tập cũng như sự tự kiểm tra
và đánh giá các kết quả của chúng. Nội dung học tập bao gồm việc học thông
tin, học kĩ năng, thái độ, học cách chuyển giao học tập. Học tập nhằm các mục
đích cơ bản là thu thập thông tin, xõy dựng phương pháp học tập, ghi nhớ có
chọn lọc tài liệu học tập, phát triển tư duy sáng tạo, trí tuệ của chủ thể và áp
dụng thông tin vào thực tế. Có thể nói rằng ở trường ĐH, CĐ mục tiêu học tập
của sinh viờn là học cách học để làm tiền đề cho việc học tập suốt đời. Hiện
nay trong xu thế thời đại, SV học tập thực sự vì cuộc sống, vì nghề nghiệp
tương lai của bản thõn. Do vậy SV luôn phải biết làm chủ quá trình học tập,
biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, biết kết hợp quá trình nhõn
hoá với quá trình xã hội hoá tron học tập của bản thõn nhằm đạt tới việc tự
học suốt đời.
* Hoạt động học tập của sinh viên sư phạm
Hoạt động học tập của SVSP về cơ bản diễn ra như hoạt động học tập
của các SV khác. Song do đặc thù của nghề nghiệp nên nó vẫn có một số đặc
trưng khác biệt, đó là: SVSP học tập để tích luỹ tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ
22
xảo tương ứng theo chuyên ngành, chuyên môn sõu, đồng thời tích cực rốn

Thể dục: nhằm rốn luyện sức khoẻ. Việc học tập quân sự nhằm hình
thành phát triển tri thức, nghĩa vụ công dõn, nõng cao tinh thần kỷ luật
Các môn học tự chọn: Nữ công, nhạc hoạ phát triển năng khiếu trình
độ thẩm mỹ.
Hoạt động học tập của SV sư phạm có đối tượng là hệ thống kiến thức,
kĩ năng, kĩ xảo và cách thức chiếm lĩnh chúng thuộc các lĩnh vực khoa học
chuyên ngành, nghiệp vụ sư phạm. Đó chớnh là động cơ thời sự của hoạt động
học tập chứa đựng khả năng đáp ứng nhu cầu học tập. Đối tượng của hoạt
động là động cơ thật sự của hoạt động. Dĩ nhiên nó có thể là vật chất hay tinh
thần, là có trong tri giác thực sự hay là chỉ có trong tưởng tượng, trong ý nghĩ.
Điều chủ yếu là đằng sau nó bao giờ cũng là nhu cầu, nó bao giờ cũng đáp
ứng một nhu cầu này hay một nhu cầu khác. Bản thõn đối tượng của hoạt
động hiện ra được chủ thể cũng như là đối tượng đáp ứng một nhu cầu này
hay nhu cầu khác của chủ thể và “chính đối tượng của hoạt động không những
sinh ra đối tượng của hình tượng mà cũn sinh ra đối tượng của nhu cầu”.
Trong quá trình học tập ở trường SP, SV phải xác định và hoàn thành
các mục đích cơ bản của việc đào tạo người thầy giáo tương lai. Thông qua
hoạt động học tập, SV trang bị cho mình hệ thống kiến thức khoa học đáp ứng
yêu cầu nghề dạy học. Đặc biệt trong thời đại ngày nay, những yêu cầu đối với
việc học tập của SVSP là rất cao, không chỉ về chuyên ngành mà cũn cả về
nghiệp vụ sư phạm, cách giao tiếp, ứng xử. Ngoài những yêu cầu về chuyên
môn, SVSP cũn phải học các phương pháp sư phạm, cách thức tổ chức, thiết
kế, tiến hành các hoạt động sư phạm, sử dụng các phương tiện dạy học hiện
đại, đáp ứng yêu cầu của việc chuyển dịch kép “từ mô hình truyền thống sang
24
mô hình thông tin” đồng thời cố gắng từng bộ phận đi vào mô hình kiến thức.
Vì vậy các trường SP cần phải dạy “cách học mới cho SVSP, tạo cho họ khả
năng tự học”
Trong xu thế phát triển của thời đại, sự tác động mạnh mẽ của tiến trình
toàn cầu hoá, nhiều vấn đề mới đã được đặt ra cho các nền giáo dục của các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status