khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất trường đại học sư phạm thành phố hồ chí minh - Pdf 10

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
o0o

NGUYỄN THỊ THIÊN KIM

KHÓ KHĂN TÂM LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
CỦA SINH VIÊN NĂM THỨ NHẤT TRƯỜNG ĐẠI HỌC
SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: TÂM LÝ HỌC
Mã số: 60.31.80 LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
5. SD: Độ lệch tiêu chuẩn
6. STN: Sau thử nghiệm
7. SV: sinh viên
8. TPHCM: Thành phố Hồ Chí Minh
9. TN: Tự nhiên
10. TTN: Trước thử nghiệm
11. XH: Xã hội MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong cuộc sống, con người muốn tồn tại và phát triển phải tham gia vào các hoạt
động, bằng hoạt động và thông qua hoạt động nhân cách con người được hình thành và phát
triển. Tùy vào mục đích, nhiệm vụ, vị trí và hoàn cảnh khác nhau mà mỗi cá nhân, trong
hoạt động của mình sẽ gặp phải những khó khăn nhất định đòi hỏi cá nhân phải nỗ lực vượt

Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh là trường Sư phạm trọng điểm ở
phía Nam, với số lượng lớn sinh viên tuyển sinh đào tạo hàng năm, vấn đề chất lượng đào
tạo luôn được quan tâm hàng đầu nên việc tìm hiểu những khó khăn tâm lý trong học tập
của sinh viên và hỗ trợ họ là điều hết sức cần thiết và cấp bách.
Trong thời gian qua, các nhà tâm lý học thường tập trung nhiều vào các nghiên cứu
về sự thích ứng với hoạt động học tập, những trở ngại tâm lý trong giao tiếp của sinh viên.
Vấn đề khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên năm th
ứ nhất ít được quan
tâm nghiên cứu.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi đã lựa chọn và nghiên cứu đề tài: “Khó khăn
tâm lý trong hoạt động học tập của sinh vien năm thứ nhất trường Đại học Sư phạm
Thành phố Hồ Chí Minh”
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu một số khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất
trường Đại h
ọc Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm
giảm bớt những khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên năm
thứ nhất trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
3.2 Khách thể nghiên cứu: 367 sinh viên năm th
ứ nhất trường Đại học Sư phạm Thành
phố Hồ Chí Minh. Cụ thể như sau:
- Sinh viên khối Xã hội: 82 SV
- Sinh viên khối Tự nhiên: 107 SV
- Sinh viên khối Ngoại ngữ: 92 SV
- Sinh viên khối Đặc thù: 86 SV
4. Giả thuyết nghiên cứu
Đa số sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đều
gặp phải khó khăn tâm ly trong hoạt động học tập. Nếu có các biện pháp tích cự

Nghiên cứu khó kh
ăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất
trường ĐHSP TPHCM. Đề tài chỉ ra mức độ khó khăn tâm lý cũng như nguyên nhân của
nó. Từ đó đề xuất biện pháp giảm bớt những khó khăn tâm lý, giúp các em học tập hiệu quả
hơn.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong lịch sử nghiên cứu tâm lý, vấn đề khó khăn tâm lý nói chung, khó khăn tâm lý
trong hoạt động học tập nói riêng đã được nhiều nhà nghiên cứu tâm lý xem xét dưới nhiều
góc độ, nhiều khách thể khác nhau. Sau đây là vài nét sơ lược một số công trình nghiên cứu
về khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập trong và ngoài nước
1.1.1. Ở nước ngoài
Đối với con người, học tập là phươ
ng thức để tiếp thu tri thức, kỹ năng nhằm mục
đích nhận biết, tác động, cải tạo thế giới hiện thực, phũc vụ cho lợi ích của con người. Lịch
sử loài người đã chứng minh, chỉ thông qua con đường học tập, thì những di sản văn hoá vật
chất, tinh thần từ thế hệ trước mới được lưu truyền cho thế hệ sau và cũng nh
ờ đó mà những
giá trị này mới còn tồn tại. Tuy nhiên, học tập không phải là một hoạt động đơn giản. Trong
quá trình biến tri thức của nhân loại thành vốn kinh nghiệm riêng của cá nhân con người đã
gặp không ít khó khăn, trong đó có nhưng khó khăn về mặt tâm lý.
Khi bàn về khó khăn tâm lí trong học tập, tác giả A.V.Pêtrốpxki hướng đến đối tượng
là khó khăn tâm lý của trẻ em khi đi vào lớp một. Ông chia những khó kh
ăn này ra làm ba

được ít các nhà tâm lý học nước ngoài quan tâm nghiên cứu. Mặc dù trong công trình
nghiên cứu của mình, các tác giả đã có những đóng góp nhất định trong việc phát hiện va
nêu ra một số khó khăn tâm lý, đồng thời chỉ ra nguyên nhân của những khó khăn tâm lý đó.
Tuy nhiên đối tượng mà các công trình nghiên cứu này hướng tới chủ yếu là những khó
kh
ăn tâm lý của trẻ vào lớp một, đồng thời họ cũng chưa nêu được định nghĩa cũng như
vạch ra bản chất của những khó khăn tâm lý đó.
1.1.2 Ở Việt Nam
Trong tác phẩm “Nỗi khổ của con em chúng ta”, bác sỹ Nguyễn Khắc Viện đã nêu
ra những khó khăn tâm lý mà học sinh lớp một gặp phải đó là:
- Trẻ phải giữ kỷ luật lớp họ
c.
- Trẻ phải học một chương trình nặng hơn so với tuổi mẫu giáo.
- Trẻ ít được bố mẹ vỗ về âu yếm hơn trước và trẻ luôn chịu sự kiểm tra, đánh giá
của bố mẹ…[32]
Nhà giáo dục Nguyễn Thị Nhất trong tác phẩm “ 6 tuổi vào lớp 1” đã phát hiện ra
nhiều khó khăn tâm lý mà trẻ lớp một phải vượt qua. Tác giả cho rằng “trong quá trình lớn
lên của tr
ẻ em có những bước ngoặt chuyển tư giai đoạn này sang giai đoạn khác đòi hỏi trẻ
em phải thay đổi phương thức sinh hoạt một cách triệt để.” Đồng thời tác giả cũng nêu ra
một số khó khăn tâm lý cụ thể mà trẻ lớp một phải vượt qua:
- Trẻ phải rời bỏ cuộc sống thoải mái, đa dạng, vui nhộn, hoạt động tùy hứng ở m
ẫu
giáo và khép mình vào kỷ luật nghiêm khắc của lớp học phổ thông.
- Trẻ gặp khó khăn trong quan hệ với giáo viên.
- Trẻ bị “vỡ mộng” khi vào học lớp một vì sự hân hoan hồi hộp chờ đón những điều
hấp dẫn được thay bằng những điều khác xa với tưởng tượng của trẻ [23].
Năm 1995, tác giả Nguyễn Minh Hải trong bài “Những khó khăn tâm lý trong quá
trình giải toán của học sinh tiểu học” đã đề cập đến các nguyên nhân khác nhau hạn chế
năng lực giải toán của h

+ Do trẻ chưa đủ tuổi đến trường.
+ Do trẻ mắc một số bệnh bẩm sinh.
- Các nguyên nhân khách quan:
+ Nhóm nguyên nhân thuộc về gia đình.
+ Nhóm nguyên nhân thuộc về nhà trường.
+ Nhóm nguyên nhân thuộc về xã hội.
Tác giả cho rằng, các nguyên nhân chủ quan là những nguyên nhân gây ra khó khăn
tâm lý nhiều hơn cho học sinh lớp một. Ngoài ra tác giả cũng đưa ra một số giải pháp sư
phạm để tháo gỡ những khó khăn tâm lý cho trẻ[29, tr.32-35].
Những năm gần đây có một số luận văn thạc sỹ đã quan tâm nghiên cứu về khó khăn
tâm lý trong ho
ạt động học tập của học sinh – sinh viên như:
- Năm 2001, luận văn thạc sỹ “ Tìm hiểu những khó khăn tâm lý trong quá trình giải
bài tập hình học của học sinh lớp 11 trung học phổ thông” của tác giả Nguyễn Thị Nhân Ai
[2].
- Năm 2002, tác giả Nguyễn Thị Thu Huyền với đề tài “Thực trạng khó khăn tâm lý
trong quá trình giải bài tập thực hành các thao tác kỹ thuật của sinh viên trường CĐSP Kỹ
Thuật Vinh” [15].
Tóm l
ại, khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập là một hiện tượng tâm lý phức tạp
nhưng vấn đề này vẫn còn ít được quan tâm nghiên cứu. Các công trình nghiên cứu về vấn
đề này như đã nêu trên ít nhiều đã xây dựng được cơ sở lý luận và đưa ra những dữ kiện
thực tiễn. Tuy nhiên, khách thể nghiên cứu trong các công trình trên còn giới hạn, chủ yếu
tập trung vào học sinh mà chưa chú ý đến sinh viên, đặc biệt là sinh viên năm th
ứ nhất,
những người vừa rời khỏi ghế nhà trường phổ thông để bước vào một môi trường học tập
mới. Ngoài ra, khi nghiên cứu về vấn đề khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập, các công
trình trên chỉ tập trung nghiên cứu một cách chung chung, khái quát mà chưa đi sâu tìm hiểu
khó khăn tam lý biểu hiện một cách cụ thể trong hoạt động học tập.
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN

hành vi, cử chỉ, thái độ của mình.
Thành phần quan trọng nhất để tạo nên sự phát triển tự ý thức của sinh viên là năng
lực tự đánh giá, thể hiện thái độ đối với bản thân. Tự đánh giá sẽ hình thành nên lòng tự
trọng của cá nhân, bảo đảm cho tính tích cực của nhân cách được thể hiện trong đời số
ng cá
nhân cũng như trong mối quan hệ liên nhân cách.
Tự đánh giá phản ánh mức độ thoả mãn của chủ thể về trình độ phát triển các thuộc
tính nhân cách của cá nhân. Vì thế sự tự đánh giá của cá nhân có ảnh hưởng rất lớn tới hiệu
quả của hoạt động, đặc biệt là tự đánh giá về trí tuệ. Nó có tác dụng rất lớn đối với sự hình
thành và phát triển các phẩm chấ
t trí tuệ trong quá trình học tập ở đại học. Nếu sinh viên tự
đánh gia đặc điểm trí tuệ ở mức thấp sẽ gây ra những khó khăn trong quá trình học tập,
ngược lại những đặc điểm trí tuệ được đánh giá đúng mức cho đến cao là cơ sở tốt cho hoạt
động học tập ở đại học.
Nhưng một điều cần lưu y trong nhân cách c
ủa sinh viên trong giai đoạn này chính là
sự tự đánh giá còn mâu thuẫn và thậm chí thiếu thực tế. Nó thể hiện qua việc so sánh “cái
tôi lý tưởng” với “cái tôi thực tế” trong khi “cái tôi lý tưởng” la một hình mẫu mẫu đã được
đóng khung, không được thay đổi cho phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể. Chính từ sự so
sánh thiếu thực tế và cứng nhắc này đã làm sinh viên, đặc biệt là sinh viên năm thứ nhất
thiếu lòng tin ở bản thân, làm ảnh hưởng đến các hoạt động của bản thân, trong đó có hoạt
động học tập.
Điểm
đặc biệt khác trong sự phát triển tâm lý của sinh viên chính là sự phát triển của
tình cảm nghĩa vụ, ý thức trách nhiệm, tính độc lập trong các hoạt động ở mức độ cao. Sinh
viên dần có lập trường của bản thân một cách vững vàng, có cách giải quyết vấn đề chính
xác, đúng đắn và tự chủ hơn. Sự trưởng thành về mặt xã hội, tâm thế sẵn sang cho việc lĩnh
hội kinh nghiệm xã hội và kiế
n thức nghề nghiệp một cách độc lập được củng cố.
Bước vào tuổi sinh viên, khi mà việc xác định nghề nghiệp đã rõ ràng, người thanh

Tóm lại, tuổi sinh viên là giai đoạn phát triển đạt đến độ trưởng thành cả về sinh lý
và tâm lý. Tuy nhiên, sự phát tri
ển nhân cách của sinh viên không phải là một con đường
bằng phẳng, hoàn toàn thuận lợi mà gặp phải nhiều khó khăn vướng mắc, đòi hỏi sự nỗ lực
khắc phục của chính bản thân người sinh viên. Chính sự tích cực, tự giác của sinh viên sẽ là
yếu tố vô cùng quan trọng trong việc hình thành và phát triển các phẩm chất nhân cách của
người chuyên gia trong tương lai.
 Sinh viên Sư phạm
Sinh viên Sư phạm là những sinh viên đang theo họ
c tại các trường Cao đẳng và Đại
học Sư phạm. Họ tiến hành hoạt động học tập, rèn luyện về chuyên môn nghiệp vụ nhằm
mục đích trở thành người giáo viên trong tương lai.
Ngoài đặc điểm chung của sinh viên thì sinh viên Sư phạm cần phải có những năng
lực và phẩm chất riêng đặc trưng đòi hỏi cần thiết phải có của nghề dạy học. Cụ th
ể như:
- Xu hướng sư phạm: biểu hiện ở nhu cầu dạy học, mong muốn được làm giáo viên,
ý thức đầy đủ ý nghĩa của nghề đối với bản thân và xã hội.
- Hứng thú với nghề dạy học: biểu hiện ở sự yêu thích nghề dạy học và phát triển sự
yêu thích này thành lòng yêu nghề sâu sắc.
- Niềm tin về nghề dạy học: biểu hien ở việc có lòng tin mạ
nh mẽ vào những giá trị
tốt đẹp của nghề dạy học, vào sức mạnh tác động đến nhân cách con người của nghề.
- Thế giới quan khoa học: biểu hiện ở việc xây dựng được cho mình thế giới quan
khoa học biện chứng về tự nhiên, xã hội và con người.
- Lý tưởng nghề cao đẹp: đó là lý tưởng đào tạo thế hệ trẻ. Biểu hiện ở niềm say mê
học tập, rèn luyện chuyên môn, tác phong sư phạm, thể hiện tinh
thần trách nhiệm, lối sống tích cực…vv
Nghề dạy học có đối tượng trực tiếp là con người đang cần sự tác động của quá trình
giáo dục nhằm mục đích phát triển và hoàn thiện nhân cách.
Nghề dạy học là nghề không cho phép có “phế phẩm”. Do trách nhiệm cao cả của

cách học khác nhau để tiếp thu kinh nghiệm xã hội, nhưng thông thường học tập được
thường có hai dạng cơ bản: học ngẫu nhiên và học có mục đích.
- H
ọc ngẫu nhiên: Đây là dạng học được thực hiện một cách không chủ định. Kết quả
của hoạt động này chỉ thu được những tri thức rời rạc, không hệ thống, ngẫu nhiên, tiền
khoa học. Mục đích của cách học này là nhằm ứng phó với những tình huống, những vấn đề
cụ thể trong cuộc sống. Tuy nhiên để tồn tại và phát triển cũng như tác
động, cải tạo thế giới
hiện thực con người không chỉ dừng lại ở những tri thức kinh nghiệm mà đòi hoi cần có một
hệ thống tri thức khoa học, có tính khái quát cao để áp dụng vào mọi tình huống trong thực
tiễn. Để đạt được mục đích này con người cần tiến hành hoạt động học có hiệu quả hơn đó
là học có mục đích.
- Học có mục đích: là một dạng hoạt động đặc thù của con người. Hoạt động học chỉ
có thể thực hiện được khi con người phát triển ở một trình độ nhất định, có khả năng điều
ch
ỉnh những hành động của mình theo mục đích đã được ý thức. Khả năng này thường bắt
đầu hình thành vào lúc 5-6 tuổi.Và khi hoạt động học được tiến hành đúng nghĩa của nó thì
mới có thể hình thành hệ thống tri thức khoa học, kỹ năng, cấu trúc tương ứng của hoạt
động tam lý giúp phát triển toàn dien nhân cách cho con người.[30, tr.93].
Khi bàn về vấn đề học tập có rất nhiều quan điểm khác nhau tùy vào cách tiếp c
ận
của các nhà nghiên cứu.
I.B.Intenxơn cho rằng, học tập là loại học tập đặc biệt của con người nhằm mục đích
nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và các hình thức nhất định của hành vi. Nó bao
gồm cả ý nghĩa nhận thức và thực tiễn.
A.N.Lêônchiev, P.Iaganpêrin và N.Phatalưđina lại coi học tập xuất phát từ mục đích
trực tiếp và từ nhiệ
m vụ giảng dạy được biểu hiện ở hình thức tâm lý bên ngoài và bên trong
của hoạt động.
V.V.Đavưdov quan niệm học tập dựa trên cơ sở nâng cao trình độ tư duy lý luận.

cực của mình biến những kinh nghiệm xã hội – lịch sử của loài người thành vốn kinh
nghiệm của chính bản thân. Quá trình này diễn ra thông qua hoạt động của các giác quan,
diễn ra trong đầu bằng các quá trình tâm lý khác nhau như cảm giác, tri giác (quá trình nhận
thức cảm tính), tư duy, tưởng tượng…(quá trình nhận thức lý tính). Qua trình nội tâm hoá sẽ
đạt được kết quả khi cá nhân ngườ
i học có ý thức tự giác điều khiển, điều chỉnh được hoạt
động của mình.
- Quá trình thứ hai (quá trình ngoại tâm hoá) là quá trình cá nhân sử dụng những tri
thức tiếp thu được vận dụng vào hoạt động thực tiễn, làm biến đổi theo hướng tích cực các
sự vật hiện tượng phục vụ cho con người.
Hai quá trình này có mối quan hệ qua lại gắn bó chặt chẽ với nhau trong quá trình
hoạt động họ
c tập.
 Đặc điểm của hoạt động học tập
Được thể hiện ở những điểm sau:
Đối tượng của hoạt động học tập là hệ thống kiến thức khoa học, kỹ năng, kỹ xảo
mới tương ứng. Hoạt động học tập là loại học tập mà ở đó bang sự tự giác và có mục đích
c
ủa mình, chủ thể biến những tri thức chung của nhân loại thành cái của riêng mình. Trong
quá trình ấy, người học không sáng tạo ra tri thức mà chỉ tái tạo lại những tri thức đã có. Và
việc tái tạo tri thức này được diễn ra dưới sự tổ chức, hướng dẫn của người dạy. Vì vậy hoạt
động học tập sẽ không có kết quả nếu người học chỉ thụ động tiếp nhậ
n các tác động sư
phạm. Do đó để việc học tập hiệu quả, người học phải là chủ thể tích cực, tự giác và có năng
lực trí tuệ để lĩnh hội những tri thức mà giáo viên truyền thụ.
Thông thường các hoạt động khác hướng vào làm thay đổi khách thể để cải tạo và
biến đổi nó phục vụ cho con người thì hoạt động học tập chủ yếu tác động, làm biến đổi
chính bản thân chủ thể thì hoạt động học là hoạt động hướng vào làm thay đổi tương đối lâu
bền chính bản thân chủ thể. Hoạt động học không làm biến đổi nội dung của tri thức khi nó
được lĩ

tương lai. Ơ đại học người sinh viên không chỉ chiếm lĩnh những kiến thức tổng quát, nền
tảng (một phần trong quá trình h
ọc) mà mục tiêu chính là chiếm lĩnh hệ thống tri thức, kỹ
năng và thái độ về nghề nghiệp, hình thành những phẩm chất của người chuyên gia trong
tương lai. Tóm lại, trong quá trình học tập, sinh viên phải xây dựng cho mình một nhân cách
đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp sau này.
- Tính độc lập cao trong học tập: Do yêu cầu cao của việc học để trở thành chuyên
gia trong một lĩnh vực nghề nghiệp nhất định nên trong hoạt động học tập người sinh viên
đòi hỏi phải có sự độc lập cao, sự tự ý thức đầy đủ về học tập của b
ản thân. Đó là sự nhận
thức được mình là chủ thể của hoạt động học tập, là người định hướng, tổ chức và kiểm tra
đánh giá hoạt động học tập của bản thân dưới sự hướng dẫn, trợ giúp của giảng viên. Tính
độc lập trong học tập của sinh viên thể hiện trong suốt quá trình học tập, từ việc tích cực
giải quyết các nhiệm vụ
học tập đen việc tìm kiếm tài liệu phục vụ cho việc học, lập kế
hoạch học tập phù hợp và nỗ lực ý chí thực hiện nó. Bên cạnh đó, việc học tập của sinh viên
mang tính chất nghiên cứu khoa học nên buộc sinh viên phải có tính đoc lập cao trong học
tập.
- Tính thực tiễn: thể hiện ở việc chú trọng phương pháp học bộ môn, chuyên ngành,
cách thức tiến hành nghiên cứ
u khoa học, làm thí nghiệm…vv phục vụ cho nghề nghiệp
tương lai. Học tập của sinh viên trên cơ sở nắm vững hệ thống tri thức lý luận, phát triển kỹ
năng ứng dụng và năng lực sáng tạo trong chuyên môn của mình. Tính thực tiễn trong học
tập của sinh viên còn thể hiện ở sự đáp ứng về những đòi hỏi của xã hội trong việc đào tạo
một l
ực lượng chuyên gia về nghề phục vụ cho xã hội trong tương lai.
- Tính sáng tạo: Tính sáng tạo trong hoạt động học tập của sinh viên thể hiện ở việc
tham gia nghiên cứu khoa học. Tính sáng tạo của sinh viên một mặt xuất phát từ kết quả của
sự phát triển của tuổi trưởng thành vừa là yêu cầu của bản thân hoạt động học tập của sinh
viên trong thời đại mới.

kỹ xảo, bao gồm những phần sau:
- Các môn khoa học cơ ban: Triết học, Lịch sử Đảng, Kinh tế chính trị học, Mỹ học,
Xã hội học…vv, nhằm trang bị hệ thống kiến thức làm cơ sở hình thành củng cố thế giới
quan khoa họ
c.
- Các môn khoa học chuyên ngành: Toán học, Văn học, Vật lý học…vv, trang bị
những kiến thức chuyên sâu của việc đào tạo chuyên gia về từng lĩnh vực cụ thể, làm cơ sở
để sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học và học tập suốt đời.
- Các môn nghiệp vụ sư phạm: Tâm lý học, Giáo dục học, Phương pháp giảng dạy bộ
môn, giao tiếp sư phạm, kiến tập, thực tập sư ph
ạm nhằm trang bị hệ thống tri thức, kỹ năng
về nghề dạy học, làm cơ sở cho công tác dạy học và giáo dục học sinh sau này.
- Các môn ngoại ngữ, tin học: nhằm trang bị phương tiện học tập phục vụ việc
nghiên cứu, công tác giảng dạy cũng như trang bị phương tiện phục vụ cho xu thế học tập
suốt đời.
- Các môn thể dục, giáo dục qu
ốc phòng: nhằm rèn luyện sức khoẻ, nâng cao tinh
thần kỷ luật, ý thức công dân.
- Các môn học tự chọn: Nữ công, nhạc, hoạ…vv nhằm phát triển năng khiếu, nâng
cao trình độ thẫm mỹ.
Như vậy, đối tượng hoạt động học tập của sinh viên sư phạm là hệ thong kiến thức,
kỹ năng, kỹ xảo và cách thức chiếm lĩnh chúng thuộc các lĩnh vực khoa học chuyên ngành
và nghiệp vụ sư phạm.
Thứ hai, trong thời đại hiện nay, với sự phát triển về mọi mặt của xã hội loài người
và xu the toàn cầu hoá đã đặt ra nhiều yêu cầu mới cho n
ền giáo dục Việt Nam, đặc biệt là
giáo dục ở bậc đại học. Do đó hoạt động học tập của sinh viên sư phạm cũng không nằm
ngoài sự tác động này. Trong thế kỷ XXI, thế ky của công nghệ thông tin, một mô hình giáo
dục mới đã ra đời. Việc học tập trên mạng sẽ ngày càng phát triển và dần chiếm một vai trò
quan trọng trong quá trình chuyển giao tri thức. Vì vậy vai trò, vị trí của người giáo viên

gay go, khắc nghiệt đòi hỏi nhiều nỗ lực để khắc phục [35].
Như vậy, từ cách định nghĩa của các từ điển trên ta có thể thấy khi nói đến khó khăn
có nghĩa là nói đến những gì cản trở, trở ngại, đòi hỏi nhiều nỗ lực để vượt qua.
Trong thực ti
ễn, khi tiến hành bất cứ một hoạt động nào con người đều gặp phải
những khó khăn, làm cho hoạt động chệch hướng, làm giảm đi hiệu quả mà con người mong
muốn, thậm chí khong đạt hiệu quả hoạt động. Những khó khăn này, được gọi chung là
những khó khăn trong quá trình hoạt động của con người được tạo nên bởi các yếu tố mang
tính chất tiêu cực. Đó là những yế
u tố khách quan (bên ngoài) và yếu tố chủ quan (bên
trong).
Những yếu tố bên ngoài, được hiểu là những điều kiện, phương tiện, môi
trường…vv. Đây là những yếu tố có ảnh hưởng gián tiếp đến tiến trình hoạt động của con
người.
Những yếu tố bên trong, chính là những yếu tố xuất phát từ bản thân mỗi cá nhân khi
tham gia vào hoạt động đó, như nhận thức, thái độ tình cảm, nă
ng lực, vốn kinh nghiệm,
thao tác kỹ năng tiến hành hoạt động. Xét theo phương diện nguồn goc xuất phát, các yếu tố
bên trong có thể chia làm hai loại: yếu tố sinh học và yếu tố tâm lý. Những khó khăn do yếu
tố tâm lý tạo nên gọi là những khó khăn tâm lý. Chính yếu tố bên trong này ảnh hưởng trực
tiếp đen tiến trình và kết quả hoạt động của con người.
Xuất phát từ quan điểm trên, khó khă
n tâm lý trong đề tài này được hiểu như sau:
khó khăn tâm lý là những nét tâm lý cá nhân, nảy sinh trong quá trình hoạt động của
chu thể, gây cản trở, ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình và hiệu quả hoạt động của chủ
thể.
1.2.2.2 Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên
Hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo của sinh viên. Nó là một loại hoạt động nhận
thức, lao động trí óc că
ng thẳng có cường độ cao. Đây là một hoạt động đặc thù giúp con

không ý thức được những khó khăn tâm lý mà mình gặp phải để rút ra bài học kinh nghiệm
nhằm cải thiện hoạt động học tập của mình. Đặc biệt đối với sinh viên năm thứ nhất, phần
lớn mới kết thúc bậc phổ thông. Họ bước vào
Đại học với nhiều bỡ ngỡ, lạ lẫm. Họ đồng
thời vừa làm quen với cuộc sống mới, trường mới, bạn mới, những môn học mới, cách thức
tổ chức học tập mới, phương pháp giảng dạy mới. Những vấn đề này, khi học ở phổ thông,
ít học sinh nào quan tâm hoặc được quan tâm nhắc nhở để chuẩn bị tâm thế. Do đó ít nhi
ều,
hầu hết các bạn sinh viên năm nhất đều gặp phải cảm giác hẫng hụt, lo lắng. Trong quá trình
học, bên cạnh những sinh viên có tính thích ứng cao, dần làm quen với môi trường mới,
hoạt động học tập đi vào ổn định thì còn không ít sinh viên gặp nhiều khó khăn trong việc
tìm cách giải quyết những van đề này một cách đúng đắn khoa học. Thực tế cho thấy, sinh
viên năm thứ nhất thường lấy s
ự chăm chỉ, cần cù của mình để mong đổi lấy một kết quả
học tập cao. Chính vì thế, đôi khi ngay cả ở những sinh viên khá giỏi van xảy ra việc không
có phương pháp học tập khoa học. Họ thường lấy việc tập trung nghe giảng trên lớp, ghi
chép cẩn thận, chăm chỉ tìm những tài liệu có liên quan theo sự hướng dẫn của giáo viên,
làm bài tập theo mẫu, hoc thuộc lòng để thay thế cho việc học tập khoa học, có hệ thống và
nắm bản chất vấn đề, một điều mà theo người nghiên cứu là quan trọng chủ yếu của học tập

đại học.
1.2.2.3 Biểu hiện của khó khăn tâm lý trong hoat động học tập
Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập được hiểu là những nét tâm lý cá nhân
mang tính tiêu cực nảy sinh, tồn tại trong hoạt động học tập của chủ thể học tập, làm cho
quá trình học tập bị chệch hướng, bị cản trở, dẫn tới hiệu quả học tập không cao. Những khó
khăn tâm lý này có thể đượ
c biểu hiện ở những dạng sau:
 Nhận thức
Nhận thức là một trong những thành tố quan trọng của đời sống tâm lý con người.
Nhận thức giúp con người hiểu biết về các sự vật hiện tượng, từ đó bày tỏ thái độ tình cảm

- Nhận thức về đối tượng học tập: nhận thức ở đây không có nghĩa là khả năng nh
ận
thức nội dung môn học của sinh viên mà người nghiên cứu muốn nhấn mạnh đến sự nhận
thức của sinh viên về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của đối tượng học tập đối với sự phát
triển của bản thân chủ thể học tập. Như chúng ta đã biết, học tập của sinh viên luôn gắn liền
với việc trở thành chuyên gia trong một lĩnh vực cụ
thể ở tương lai, trở thành một người
hoạt động nghề phục vụ cho nhu cầu xã hội và chính hoạt động học tập ở đại học sẽ giúp họ
đạt được mục tiêu này. Chính vì thế, việc nhận thức đúng đắn vai trò, vị trí, tầm quan trọng
của đoi tượng học tập sẽ giúp sinh viên tích cực học tập và ngược lại sẽ gây ra việc sinh
viên thiếu tâm thế
học tập, học đối phó, dẫn đến hoạt động học tập kém hiệu quả.
 Thái độ
Đây là thái độ, tình cảm của sinh viên đối với việc học tập. Có thể nói khó khăn tâm
lý biểu hiện ở dạng thái độ, tình cảm là việc xuất hiện những xúc cảm âm tính đối với hoạt
động học tập như coi thường việc học tập, chán ghét, thờ ơ, lo l
ắng, sợ hãi, căng thẳng, chán
nản khi gặp những vấn đề nảy sinh trong học tập…vv. Khi có những thái độ, tình cảm tiêu
cực đối với hoạt động học tập thì việc học tập khó mà có hiệu quả cao được. Ngược lại nếu
sinh viên nào có thái độ tích cực đối với việc học, cần cù, chăm chỉ, biết tìm những biện
pháp tạo ra hứng thú trong học tập vv thì chắc chắ
n hiệu quả của hoạt động học tập sẽ được
nâng lên.
 Hành vi
Hành vi là “bộ mặt” đời sống tâm lý của con người. Đây là dạng khó khăn tâm lý
biểu hiện cụ thể, dễ nhận thấy nhất trong hoạt động học tập. Những khó khăn tâm lý về mặt
hành vi có thể là kết quả của sự chi phối bởi nhận thức và thái độ tình cảm hoac do những
kỹ năng học tập không đủ thuần thục để sử dụng trong quá trình học tập khiến cho hoạt
động học tập không có hiệu quả cao.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, người nghiên cứu tập trung tìm hiểu khó khăn

này đều có những vị trí, vai trò và tầm quan trọng như nhau bởi sự đóng góp của nó trong
quá trình đào tạo nên một ng
ười giáo viên trong tương lai giỏi về chuyên môn và nghiệp vụ
cũng như hình thành nhân cách người giáo viên.
Tuy nhiên, không phải sinh viên năm thứ nhất nào cũng nhận thức được tầm quan
trong, vị trí, vai trò của từng bộ môn trong hoạt động học tập. Chính sự hiểu biết mơ hồ,
không rõ ràng về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của các bộ môn trong chương trình học là

Trích đoạn Kết quả so sánh kỹ năng thuyết trình của khách thể trước và sau khi thử nghiệm KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Quy trình tổ chức một bài thuyết trình Một số đề nghị mhằm hạn chế sự lo lắng khi thuyết trình.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status