Đề tài: Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập theo hệ thống tín chỉ của sinh viên năm thứ nhất ngành tâm lý học định hướng quản trị nhân sự trường Đại học Hồng Đức doc - Pdf 11

PHẦN I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Cơ sở lý luận
Trong cuộc sống con người muốn tồn tại và phát triển phải tham gia
vào các hoạt động, bằng hoạt động và thông qua hoạt động nhân cách con
người được hình thành và phát triển. Tùy vào mục đích, nhiệm vụ, vị trí và
hoàn cảnh khác nhau mà mỗi cá nhân trong hoạt động của mình phải gặp
những khó khăn nhất định đòi hỏi cá nhân phải nỗ vượt qua để hoạt động
được diễn ra thuận lợi và đạt được mục đích đã xác định.
Cũng như trong cuộc sống khi con người thường gặp những khó khăn
trở ngại trong quá trình sống và hoạt động của mình, nếu con người có thể
giải quyết được khó khăn mà mình đang gặp phải thì con người có thể vượt
qua nó một cách dễ dàng, còn nếu con người không thể giải quyết được thì
nó sẽ trở thành một khó khăn tâm lý của bản thân con người.
Đối với sinh viên hoạt động học tập là một hoạt động chủ đạo chiếm
nhiều nhất thời gian của sinh viên, hàng ngày sinh viên phải đối mặt với rất
nhiều hoạt động như chuẩn bị bài trước khi lên lớp, hoạt động tự học và thảo
luận nếu sinh viên có thể sắp xếp thời gian và có cách học khoa học thì dễ
dàng đạt kết quả học tập tốt, ngược lại nếu không biết cách bố trí hợp lý thì
học tập sẽ gây nhiều khó khăn cho sinh viên dẫn đến việc gây ra những khó
khăn tâm lý cho sinh viên.
Đối với sinh viên ở trường đại học, học tập là một hoạt động cơ bản mà
thông qua nó người sinh viên “Nắm vững kiến thức chuyên môn và kỹ năng
thực hành về nghề, có khả năng phát hiện và giả quyết những vấn đề thông
thường thuộc chuyên nghành đào tạo”, để trở thành chuyên gia trong lĩnh
vực đào tạo, có khả năng lao động nghề, nuôi sống bản thân, phục vụ xã hội
trong tương lai. Do đó hoạt động học tập cần sự tham gia nghiên cứu, tìm
hiểu nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi cũng như giảm bớt những khó
khăn nảy sinh trong quá trình học tập của sinh viên.
1
1.2 Cơ sở thực tiễn

của tỉnh với số lượng lớn sinh viên dự tuyển hàng năm, vấn đề chất lượng
đào tạo luôn được quan tâm hàng đầu do đó vấn đề tìm hiểu nghên cứu
những khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất
ngành tâm lý học định hướng QTNS trường đại học Hồng Đức là cấp thiết.
Chính vì vậy chúng tôi chọn “Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập
theo hệ thống tín chỉ của sinh viên năm thứ nhất ngành tâm lý học định
hướng quản trị nhân sự trường Đại học Hồng Đức” làm vấn đề nghiên
cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng những khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của
sinh viên năm thứ nhất ngành tâm lý học định hướng quản trị nhân sự
Trường Đại Học Hồng Đức và nguyên nhân gây ra khó khăn tâm lý đó.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập theo hệ thống tín chỉ của sinh
viên năm thứ nhất ngành tâm lý học định hướng QTNS Trường Đại Học
Hồng Đức.
3.2. Khách thể nghiên cứu
50 sinh viên năm thứ nhất ngành tâm lý học trường Đại học Hồng Đức.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về vấn đề khó khăn tâm lý trong hoạt động
học tập của sinh viên năm thứ nhất.
- Khảo sát thực trạng khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh
viên năm thứ nhất và tìm hiểu các nguyên nhân gây ra khó khăn tâm lý đó.
Từ đó đề ra một giảm bớt khó khăn tâm lý trong học tập của sinh viên
năm thứ nhất ngành tâm lý học định hướng quản trị nhân sự và một số biện
pháp nhằm giảm bớt khó khăn tâm lý trong học tập của sinh viên năm thứ
nhất trường Đại Học Hồng Đức.
3
5. Phương pháp nghiên cứu

trong hoạt động học tập và các nguyên nhân gây ra KKTL để điều tra các
khách thể nghiên cứu.
5.2.4. Phương pháp thống kê toán học
Để có những nhận xét khách quan về kết quả nghiên cứu, chúng tôi sử
dụng các phương pháp thống kê toán học để xử lý các số liệu thu được từ
phương pháp chính.
Cụ thể:
- Tính trung bình cộng:

n
i
i 1
X
X
n
=
=

Trong đó: +
X
là số trung bình.
+
n
i
i 1
X
=

là tổng điểm của một khách thể nghiên cứu.
+ n là số khách thể được nghiên cứu.

chỉ năm thứ nhất còn ít được đề cập vì đây là một hình thức đào còn mới. Ở
Việt Nam các tác giả chủ yếu tập trung vào nghiên cứu những khó khăn tâm
lý trong giao tiếp, ngoài ra còn một số tác giả xem xét nghiên cứu những khó
khăn tâm lý trong hoạt động học tập nhưng chủ yếu là học sinh ở tiểu học.
1.1. Ở nước ngoài
1.1.1. Những hướng nghiên cứu khó khăn tâm lý trong giao tiếp
Bàn về vấn đề này chúng ta có thể kể đến một số công trình tiểu biểu
sau:
Công trình nghiên cứu của hai tác giả: H.ipp và M.Phrvec trong “ Nhập
môn tâm lý học xã hội”, các ông đã nêu ra những nhân tố gây khó khăn cho
giao tiếp như: Người phát hiện không có khái niệm chính xác về người cùng
giao tiếp với mình, đánh giá sai về trình độ văn hóa, nhu cầu, quyền lợi và
những phẩm chất của người nhận…Ngoài ra, do cách kiến giải khác nhau về
khái niệm sử dụng và trao đổi thông tin tạo nên những:“ hàng rào khái niệm”
ngăn cản giao tiếp. trong công trình này, hai tác giả đã nêu ra một loạt các
nhân tố gây khó khăn cho giao tiếp. Nhưng để làm rõ giao tiếp là gì? cách
phân loại nó ra sao? thì công trình nghiên cứu này chưa đề chưa đề cập tới.
Trong công trình cứu của G.M.Andreva khi phân tích chức năng thông
tin về giao tiếp đã chỉ ra một vài nguyên nhân làm nảy sinh các KKTL trong
quá trình giao tiếp. Tác giả cho rằng những khó khăn này có thể nảy sinh do
sự khác biệt về tôn giáo, ngôn ngữ, nghề nghiệp, thiếu đồng nhất trong nhận
thức tình huống giao tiếp giữa các thành viên tham gia giao tiếp hoặc do đặc
điểm tâm lý cá nhân. Như vậy, ở các công trình nghiên cứu này các tác giả
đã phát hiện ra một số nguyên nhân làm nảy sinh các KKTL trong giao tiếp,
nhưng để đưa ra khái niệm KKTL trong giao tiếp là gì thì tác giả chưa đề
7
cập tới.
Đến năm 1987, E.V.Sucanova đã đánh dấu một mốc quan trọng trong
công việc nghiên cứu vấn đề KKTL trong giao tiếp bằng việc đã ra cuốn
sách “Những khó khăn của giao tiếp liên nhân cách”. Trong công trình này

động học tập
Theo Binaka Zazzo cùng cộng sự của bà thuộc trung tâm nghiên cứu
trẻ em của đại học Pari, 10 công trình nghiên cứu về bước chuyển từ mẫu
giáo lên lớp 12 của trẻ em. Tác giả đã chỉ ra KKTL lớn nhất mà trẻ gặp phải
làm cản trở đến sự thích ứng với hoạt động học tập của trẻ là: “Sự thay đổi
môi trường hoạt động một cách triệt để, gọi là chuyển dạng hoạt động chủ
đạo, vừa chơi trở thành hoạt động đa dạng, tính tùy tự do tùy hứng của cá
nhân nặng hơn là tính chỉ đạo của giáo viên. Bước sang lớp 1, học tập chủ
đạo của học sinh phải nghiêm chỉnh theo sự chỉ đạo của giáo viên, theo
nguyên tắc lớp học”.
Nghiên cứu về KKTL trong hoạt động học tập, tác giả A.V. Petropxki
đã chia KKTL của trẻ em khi đi học lớp 1 là 3 loại:
Loại 1: Những khó khăn có liên quan đến đặc điểm của chế độ học tập
mới.
Loại 2: Khó khăn trong việc thiết lập quan hệ giao tiếp mới với thầy cô
và bạn bè.
Loại 3: Khó khăn trong việc thích nghi với hoạt động mới, lúc đầu trẻ
được sự chuẩn bị của gia đình, nhà trường và xã hội nên trẻ có tâm lý vui,
thích, sẵn sàng đi học , về sau giảm dần khát vọng và chán học.
Bên cạnh đó, tác giả đã đề cập đến những khó khăn, ảnh hưởng của
những khó khăn đến đời sống của trẻ và một số biện pháp để giải quyết khó
khăn cho trẻ. Như vậy, tác giả đã đi sâu nghiên cứu khó khăn tâm lý đối với
hoạt động học tập nhưng nó mới chỉ dừng lại ở nghiên cứu học sinh lớp 1.
Theo các nhà tâm lý học Maurice debesse, trong công trình nghiên cứu
khó khăn tâm lý của trẻ em khi học lớp 1 đã chỉ ra rằng: Đứng giữa ngưỡng
9
cửa của lớp 1 trẻ em gặp rất nhiều khó khăn tâm lý. Điều này ảnh hưởng đến
sự thích ứng của hoạt động học tập của trẻ, làm cho trẻ sợ học, không muốn
đến trường và kết quả học tập không cao.
Tóm lại, các tác giả nước ngoài khi nghiên cứu về KKTL trong hoạt

+ Bức tường sợ hãi xuất hiện do những suy nghĩ, băn khoăn dẫn đến
tiếp xúc gượng ép, thiếu tự nhiên.
+ Bức tường thiếu hiểu biết nảy sinh do tiếp xúc không hiểu nhau hoặc
không hiểu đúng về nhau.
Trong bài viết này tác giả đề cập đến 4 trở ngại tâm lý, mà chưa đề cập
đến lý luận trở ngại tâm lý.
Năm 1995 tác giả Mạnh toàn đã trích ra ý kiến của bác sĩ người Mỹ
Rabbi Kahler về 5 nguyên nhân cản trở những cuộc tiếp xúc tâm lý giữ
người với người:
+ Kiêu ngạo
+ Hay lo
+ Mặc cảm
+ Nhút nhát
+ Luôn cảm thấy có lỗi
Ở đây tác giả chỉ nêu ra 5 nguyên nhân mà chưa bàn lý luận cũng như
không có nghiên cứu thực nghiệm về KKTL trong giao tiếp.
Đến năm 1997 trong luận án bảo vệ PTS, tác giả Nguyễn thị thanh
Bình đã đi sâu nghiên cứu về trở ngại tâm lý (khái niệm, bản chất, biểu hiện,
nguyên nhân, phân loại và ảnh hưởng). Tác giả đã tiến hành khảo sát những
KKTL trong giao tiếp của sinh viên , đồng thời thử nghiệm các biện pháp tác
động nhằm hạn chế những khó khăn này.
1.2.2. Nghiên cứu KKTL trong hoạt động học tập.
Trong tác phẩm “ Nỗi đau của con em chúng ta” bác sĩ Nguyễn khắc
Viện đã nêu ra KKTL mà học sinh lớp 1 gặp phải là:
+ Trẻ phải giữ kỉ luật lớp học
11
+ Trẻ phải học một chương trình nặng hơn
+ Trẻ ít được bố mẹ âu yếm hơn trước và luôn bị kiểm tra, đánh giá của
bố mẹ….
Trong tác phẩm “6 tuổi vào lớp 1” tác giả Nguyễn Thị Nhất đã nêu

Vũ Ngọc Hà đã nêu ra một số trở ngại tâm lý mà khi vào lớp 1 trẻ em
thường gặp phải đó là:
+ Khó khăn trong việc thích nghi với môi trường
+ Khó khăn trong các mối quan hệ
+ Khó khăn khi đến trường
Tác giả Nguyễn Xuân Thức, trong bài viết “Các nguyên nhân dẫn đến
KKTL của học sinh khi vào lớp 1” đã nêu ra nguyên nhân gây KKTL của trẻ
là:
* Các nguyên nhân chủ quan:
+ Trẻ chưa hiểu rõ nội dung.
+ Trẻ được chuẩn bị quá kỹ trước khi đến trường.
+ Do tính cách của trẻ.
+ Do trẻ chưa đủ tuổi đến trường.
+ Do trẻ mắc một số bệnh bẩm sinh.
* Các nhóm nguyên nhân khách quan: có thể khái quát thành 3 nhóm
cơ bản sau:
+ Nhóm nguyên nhân thuộc về gia đình.
+ Nhóm nguyên nhân thuộc về nhà trường.
+ Nhóm nguyên nhân thuộc về xã hội.
Tác giả cho rằng, các nguyên nhân chủ quan là nguyên nhân gây ra khó
khăn tâm lý nhiều hơn cho học sinh lớp 1. Ngoài ra, tác giả cũng đưa ra một
số giải pháp sư phạm để tháo ngỡ KKTL cho trẻ.
Những năm gần đây có một số luận văn thạc sỹ đã quan tâm nghiên
cứu về KKTL trong hoạt động học tập của sinh viên như:
Năm 2011, Nguyễn Thị nhân Ái với đề tài: “ Tìm hiểu KKTL trong
13
quá trình giải bài tập hình học của học sinh lớp 11 THPT”
Năm 2012, Nguyễn Thị thu huyền với đề tài: “ Thực trạng KKTL trong
quá trình giải bài tập thực hành các thao tác kỹ thuật của sinh viên trường
cao đẳng sư phạm kỹ thuật Vinh”.

động đó.
2.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến khó khăn tâm lý.
Bàn về KKTL chúng tôi cho rằng: KKTL trong hoạt động học tập là
những nét tâm lý của cá nhân nảy sinh ở người sinh viên trong hoạt động
học tập làm cản trở đến tiến trình và kết quả của hoạt động học tập của họ.
Biểu hiện qua 3 mặt: Nhận thức, thái độ, hành vi.
Cụ thể:
* Về nhận thức
Từ những kiến thức phân tích trên đây chúng tôi nhận thấy sinh viên
năm thứ nhất ngành tâm lý học định hướng QTNSvgặp nhiều khó khăn
trong hoạt động học tập theo hệ thống tín chỉ.
Trong tâm lý học nhận thức là một trong những thành tố quan trọng
của đời sống tâm lý con người. Nhận thức giúp con người hiểu biết về các sự
vật, hiện tượng. Thông thường nhận thức là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình
hành động của con người giúp con người bày tỏ thái độ và có hành vi tương
ứng khi nhìn nhận, đánh giá thế giới khách quan. Những khó khăn thường
xuất hiện trong quá trình học tập đó là:
Sự nhận thức chưa đầy đủ về mục đích kế hoạch nội dung, phương
pháp học tập dẫn đến tình trạng người học còn lúng túng thiếu tự tin trong
quá trình tiến hành hoạt động học tập của bản thân.
Trong quá học tập nhiều khi chủ thể đánh giá chưa đúng về năng lực
học tập chưa xác định được điểm mạnh điểm yếu của bản thân nên kết quả
học tập không cao.
* Về mặt xúc cảm, tình cảm
Đây là thái độ xúc cảm của con người thể hiên trong quá trình học tập.
Thông thường những người ít gặp KKTL trong hoạt động học tập là những
15
người biết làm chủ trạng thái cảm xúc bản thân, biểu hiện ở việc biết kìm
chế, biết tạo ra hứng thú xúc cảm tích cực, biết điều chỉnh, điều khiển các
diễn biến tâm lý của mình. Trên cơ sở đó họ lựa chọn được phương pháp

sống của bản thân.
2.2.2. Sinh viên năm thứ nhất.
* Khái niệm sinh viên.
Sinh viên là đại biểu của một nhóm xã hội đặc biệt, là những người
đang trong quá trình tích lũy tri thức nghề nghiệp để trở thành những chuyên
gia có trình độ chuyên môn cao để hoạt động, lao động trong một lĩnh vực
nhất định có ích cho xã hội.
* Đặc điểm tâm lí của sinh viên.
Sinh viên là những người thuộc lứ tuổi từ 18 đến 25. lứa tuổi này con
người đã đạt đến trình độ trưởng thành cả về thể chất lẫn tinh thần.
Tuổi sinh viên là thời gian nở rộ nhất của sự phát triển nói chung và
tâm lý, nhân cách nói riêng. Đây là lứa tuổi thuận lợi nhất cho sự hình thành
và phát triển của các chức năng tâm lý quan trọng ở con người, đặc biệt là sự
phát triển năng lực trí tuệ.
Đặc điểm tâm lý quan trọng nhất của lứa tuổi sinh viên. Là có sự phát
triển của tự ý thức. Hơn nữa đây là giai đoạn tự ý thức phát triển cao, họ đã
ý thức và đánh giá về hoạt động và kết quả tác động của chính mình, biết
đánh giá toàn diện về bản thân, về vị trí của mình trong cuộc sống xã hội.
Đây là những dấu hiệu giữ vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện và phát
triển nhân cách.
Thành phần quan trọng bậc nhất, tạo nên sự phát triển tự ý thức của
sinh viên là năng thực tự đánh giá, thể hiện thái độ với bản thân, biểu hiện
các phẩm chất và năng lực trong hoạt động giao tiếp và tự giáo dục. Tự đánh
giá là kết quả đánh giá từ bên ngoài hình thành nên lòng tự trọng của cá
nhân đảm bảo cho tính tích cực của nhân cách được thể hiện trong đời sống,
trong mối quan hệ liên nhân cách. Tự đánh giá phản ánh mức độ thỏa mãn
17
nhân cách của bản thân, là mức độ thỏa mãn của chủ thể về trình độ phát
triển của các thuộc tính cá nhân.
Sự phát triển nhân cách của sinh viên là nhân cách của người trẻ tuổi,

lối sống của một số tầng lớp, giai cấp và của địa phương mình.
Do vậy, trong tập thể sinh viên năm thứ nhất thường có va chạm mạnh
do tính độc đáo của nhân cách con người trẻ. Trong quá trình làm quen với
cuộc sống tập thể ở trường đại học sinh viên thường có hành vi bắt chước
lẫn nhau thể hiện bước đầu đồng nhất xã hội. Ở đây sinh viên chưa có quan
điểm phân hóa đối với vai trò của mình.
Việc nắm bắt đặc điểm nhân cách của sinh viên năm nhất có ý nghĩa
quan trọng trong việc xác định nội dung, hình thức và phương pháp tác động
đến họ theo hướng hình thành nhân cách người chuyên gia tương lai trong
trường đại học, cao đẳng. Hình thành nhân cách chuyên gia không thể năm
ngoài quy luật chung là: Nhân cách được bộc lộ, hình thành và phát triển
trong hoạt động, trong đó hoạt động học tập đóng vai trò là hoạt động chủ
đạo có ảnh hưởng đến nhận thức nghề nghiệp và hoàn thiện nhân cách của
sinh viên.
2.2.3. Hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất trong đào tạo theo hệ
thống tín chỉ.
Sinh viên học theo hệ thống tín chỉ là học theo một phương thức đào tạo
mới. Đây là hình thức đào tạo phát huy sự năng động, chủ động của người
học do đó sinh viên học theo hệ thống tín chỉ nói chung và sinh viên năm nhất
học theo hệ thống tín chỉ nói riêng cần phải cần có những kế hoạch học tập
thật khoa học, chủ động. Đặc biệt sinh viên năm nhất là những người lần đầu
được tiếp xúc với các môn học, phương pháp học hoàn toàn mới, việc chuẩn
bị các nội dung về lý thuyết trước giờ lên lớp, tự học, thảo luận cũng như
tham gia tranh luận trong các buổi học yêu cầu sự chủ động rất cao.
Từ những học sinh phổ thông đang học những tri thức cơ bản của cấp
phổ thông, lên đại học - cao đẳng họ bắt đầu học những môn học đại cương
chuyên về các lĩnh vực của nghành và xã hội. Và hơn nữa bên cạnh việc tự
19
học ở nhà giờ đây họ phải tham gia các buổi thảo luận cũng như chuẩn bị
các nội dung thảo luận và các câu hỏi chất vấn… nên hoạt động học tập của

Do ảnh hưởng của cách dạy cũ ở phổ thông.
Do thiếu sách giáo trình tài liệu tham khảo.
Lượng tri thức tiếp thu ở trường đại học cao đẳng quá lớn.
Do tính chất học tập ở trường cao đảng khác xa so với trường phổ
thông.
* Nhóm nguyên nhân chủ quan
Do lực học của bản thân.
Do sinh viên chưa quen với môi trường học tập mới và phương pháp
dạy học mới.
Do rụt rè nhút nhát không chịu học hỏi.
Do sinh viên chưa ý thức học tập.
Do động cơ chọn nghề của sinh viên.
Do bản thân chưa có phương pháp học tập hợp lý.
Do thiếu kinh nghiệm sống, hoạt động học tập một cách tích cực.
Một trong những KKTL lớn nhất trong quá trình học tập của sinh viên
năm thứ nhất đào tạo theo học chế tín chỉ là do họ phải tiếp cận với khối
lượng kiến thức lớn, song song với nó họ phải hình thành được kỹ năng kỹ
xảo, nghề nghiệp với tính chất chuyên sâu. Mục đích, nhiệm vụ học tập đòi
hỏi cao nhưng họ thiếu kinh nghiệm học tập, họ thường áp dụng những
phương pháp học tập của phổ thông, những phương pháp này không còn phù
hợp với hoạt động ở những trường cao đẳng đại học. Thực tế cho thấy sinh
viên năm thứ nhất trong quá trình học tập họ thường lấy sự cần cù chăm chỉ
của mình để đổi lấy kết quả học tập cao, đôi khi xảy ra với cả những học
sinh khá giỏi cũng chưa biết cách lựa chọn phương pháp học tập khoa học.
Những KKTL trong học tập của sinh viên năm thứ nhất không chỉ liên
quan đến việc sinh viên phải lĩnh hội lượng tri thức lớn mà chủ yếu còn liên
quan đến cách học, cách áp dụng các tri thức đã học vào thực tiễn một cách
hiệu quả. Bên cạnh đó một số KKTL khác làm ảnh hưởng không nhỏ tới chất
21
lượng học tập của sinh viên, đó là các vấn đề như: hoàn cảnh sống, sự cô đơn,

nước, phục vụ đắc lực sự nghiệp CNH, HĐH của tỉnh Thanh Hóa và miền
Trung.
Sứ mạng của nhà trường là không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo nguồn
nhân lực khoa học, công nghệ và quản lý đạt trình độ cao để hội nhập thành công về
kinh tế trong khu vực và thế giới. Với chức năng chủ yếu: giảng dạy, nghiên cứu
khoa học và phát triển công nghệ nhằm phát triển nhà trường, góp phần phát triển
kinh tế – xã hội của đất nước. Trường có nhiệm vụ sau đây:
1. Đào tạo cán bộ các ngành khoa học và công nghệ có trình độ đại học để đáp
ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và các tỉnh lân cận.
2. Nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ phục vụ sự nghiệp
phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Thanh Hóa và đất nước.
Nhà trường có hai cơ sở, cơ sở I tại cầu Quán Nam, phường Đông Vệ, TP
Thanh Hóa là nơi đào tạo khối kinh tế; nông lâm ngư nghiệp; kỹ thuật công
nghệ và là nơi làm việc của Ban Giám hiệu, các phòng, ban từ năm 2011và là
nơi làm việc của Ban Giám hiệu, các phòng, ban trường hiện nay;. cơ sở II tại
phường Đông Sơn, TP Thanh Hóa, nơi đào tạo khối sư phạm và một số nghành
23
Xã hội học, việt nam học, Quản lý văn hóa, Địa lý – tài nguyên môi trường, tâm
lý học định hướng QTNS
Đội ngũ cán bộ giảng viên của trường Đại học Hồng Đức phát triển cả về số
lượng và chất lượng. Khi mới thành lập trường năm 1997 tỷ lệ CBGD có trình
độ sau đại học mới đạt 15,9%, đến nay (8/2006) đã nâng lên 49,4%. Nhà trường
hiện có 660 cán bộ viên chức trong biên chế, trong đó có 3 chuyên viên chính,
105 giảng viên chính, 315 giảng viên, 62 giáo viên; về học vị có 31 Tiến sĩ, 188
Thạc sĩ. Hiện tại nhà trường có 25 GV đang học Nghiên cứu sinh (3 NCS nước
ngoài), 52 GV đang học Cao học (2 cao học nước ngoài).
Hệ thống tổ chức của nhà trường gồm: 8 Phòng, 3 Ban, 11 Khoa, 4 Trung
tâm, 01 Bộ môn trực thuộc, 42 Bộ môn, 01 Trung tâm trực thuộc khoa, 01
Trường Mầm non thực hành.
Để không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo, Nhà trường đã đầu tư nâng

kế hoạch hóa nguồn nhân lực…cơ sở lao động.
- Ngoài những kiến thức cơ bản trên người học còn phải có được những
kiến thức về một số kiến thức cơ bản về luật liên quan đến con người, chính
sách xã hội, chính sách tiền công tiền lương, hiểu biết về luật pháp quốc tế,
trong điều kiện Việt nam trở thành thành viên WTO. Trên cơ sở những kiến thức
được trang bị đó sau khi tốt nghiệp người học có thể tiếp tục theo học ở các trình
độ cao hơn.
* Về kỹ năng
- Người học được rèn luyện và hình thành những kỹ năng cơ bản về thực
hành vận dụng những kiến thức tâm lý để tư vấn, quản lý và phát triển nguồn
nhân lực phục vụ cho việc sử dụng, quản lý người lao động ở các loại hình khác
nhau một cách hiệu quả.
- Sau khi tốt nghiệp người học có thể làm công tác nghiên cứu, vận dụng
kiến thức tâm lý, quản lý kinh tế…để làm tư vấn, tham vấn, sử dụng người lao
động hay trực tiếp tham gia vào công tác tổ chức, quản lý nguồn nhân lực trong
cá cơ quan hành chính - sự nghiệp nhà nước,trong các tổ chức chính trị. Xã hội
các công ty liên doanh, các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thuộc các thành
phần kinh tế khác nhau hoặc tham gia vào các lĩnh vực hoạt động có sử dụng
kiến thức tâm lý học.
2. Thực trạng khó khăn tâm lý của sinh viên năm nhất theo học chế tín chỉ
của trường Đại Học Hồng Đức
2.1. Nhận thức trong hoạt động học tập của sinh viên năm nhất ngành tâm lý
học theo học chế tín chỉ
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status