BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Vũ Kim Xuyến
MỘT SỐ KHÓ KHĂN TÂM LÝ TRONG
HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA HỌC VIÊN
PHÂN VIỆN MIỀN NAM, HỌC VIỆN
THANH THIẾU NIÊN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Chuyeân ngaønh: TÂM LÝ HỌC
Mã số: 60 31 80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. ĐOÀN VĂN ĐIỀU
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2011
LỜI CẢM ƠN
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn:
* Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh;
* Phòng Sau đại học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh;
* Khoa Tâm lý - Giáo dục Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh;
* Các Thầy Cô giáo phòng sau đại học và khoa tâm lý giáo dục Trường Đại học Sư phạm
Thành phố Hồ Chí Minh;
* Thầy Cô giáo và các em Học viên K14, 15 của Phân viện Miền Nam, Học viện Thanh thiếu
0T1.2.2.3. Bản chất của hoạt động học tập0T 19
0T1.2.2.4. Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học viên các trường chuyên nghiệp0T 21
0T1.2.2.5. Hoạt động học tập và khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học viên Phân viện
Miền Nam, học viên Thanh thiếu niên Việt Nam0T 27
0T1.2.2.6. Nguyên nhân của những khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập0T 33
0TCHƯƠNG 2: KẾT QUẢ CỦA PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHẢO SÁT0T 35
0T2.1. Thể thức và phương pháp nghiên cứu0T 35
0T2.1.1. Cách soạn thang đo0T 35
0T2.1.2. Mẫu nghiên cứu0T 36
0T2.2. Thực trạng những khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học viên Phân viện Miền Nam, Học
viện thanh thiếu niên Việt Nam0T 37
0T2.3. Thực trạng nguyên nhân gây ra những khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học viên Phân
viện Miền Nam0T 55
0TCHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GÓP PHẦN GIÚP HỌC VIÊN GIẢM BỚT
NHỮNG KHÓ KHĂN VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP
0T 64
0TKẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ0T 78
0TTÀI LIỆU THAM KHẢO0T 84
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1- ĐLTC: Độ lệch tiêu chuẩn
2- TW: Trung ương
3- F: Kiểm nghiệm F
4- GV: Giáo viên
5- GD: giáo dục
6- HV: học viên
7- N: Số người lựa chọn
8- NXB: Nhà xuất bản
9- NQ: nghị quyết
10- P: Mức ý nghĩa của so sánh
trước nhiều thời cơ và vận hội mới của đất nước, song cũng phải đối mặt với những khó khăn và
thách thức không nhỏ. Những đòi hỏi của phong trào thanh thiếu nhi cả nước trong quá trình hội
nhập quốc tế, người cán bộ Đoàn, Hội, Đội phải có một trình độ tương xứng với thực tiễn cuộc sống
đặt ra,…. Chính vì vậy, Học viện nói chung và Phân viện Miền Nam nói riêng phải quan tâm hơn
nữa đến việc nâng cao chất lượng đào tạo của mình để đáp ứng kịp thời nhu cầu và xu thế phát triển
của xã hội. Song trong thực tế do cơ chế chính sách đối với cán bộ Đoàn còn chưa thoả đáng, chưa
tạo ra được động lực phát huy tài năng, chưa thu hút được cán bộ giỏi làm công tác thanh niên,
nguồn tuyển sinh đầu vào của các khóa học của học viện nhìn chung còn thấp, vẫn theo công thức
các cơ sở chọn cử và học viện tiếp nhận, đào tạo. Thời gian gần đây hầu hết học viên là những học
sinh mới tốt nghiệp trung học phổ thông vào học nên còn rất bỡ ngỡ và gặp nhiều khó khăn do
chưa quen với môi trường và phương pháp học tập của học viện. Một số học viên đã từng học qua
các trường chuyên nghiệp khác, có những học viên đang đảm nhận các chức vụ khác nhau ở cơ sở
Đoàn các cấp của các địa phương hoặc ở trong lực lượng vũ trang nhân dân hay ở các cơ quan
kinh tế, chính trị, các đơn vị sản xuất, nhưng cũng có nhiều học viên chưa từng kinh qua kinh
nghiệm công tác thực tế,…Bên cạnh đó, do tác động của cơ chế thị trường và một số nguyên nhân
khác cũng đã gây ra những khó khăn tâm lý không nhỏ, ảnh hưởng đến chất lượng học tập và rèn
luyện của học viên. Chính vì vậy, việc nghiên cứu xác định những khó khăn tâm lý cụ thể và tìm
ra biện pháp khắc phục những khó khăn đó trong hoạt động học tập của học viên Phân viện Miền
Nam, Học viện thanh thiếu niên Việt Nam là một việc rất cần thiết và có ý nghĩa quan trọng đối
với sự nghiệp đào tạo lực lượng cán bộ chính trị trẻ. Do đó, chúng tôi đã lựa chọn và nghiên cứu
đề tài “Một số khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học viên Phân viện Miền Nam,
Học viện thanh thiếu niên Việt Nam”
2.Mục đích nghiên cứu
Khảo sát thực trạng một số khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học viên Phân viện
Miền Nam, Học viện thanh thiếu niên Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp để giải
quyết các khó khăn đó.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1- Khách thể nghiên cứu: Học viên Phân viện Miền Nam, Học viện thanh thiếu
niên Việt Nam.
3.2- Đối tượng nghiên cứu: Một số khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trong lịch sử nghiên cứu tâm lý, vấn đề khó khăn tâm lý nói chung khó khăn tâm lý trong
hoạt động học tập nói riêng đã được nhiều nhà nghiên cứu tâm lý xem xét, nghiên cứu theo nhiều
góc độ, nhiều khách thể khác nhau. Để có cái nhìn tổng quan nhất về các vấn đề có liên quan đến
vấn đề nghiên cứu trong đề tài, tôi xin tóm lược một công trình nghiên cứu về khó khăn tâm lý trong
hoạt động học tập trong và ngoài nước như sau:
1.1.1.Trên thế giới
Trong cuộc sống, học tập là phương thức để tiếp thu tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo thực
hiện hành động để áp dụng tri thức đã học vào thực tiễn cuộc sống cải tạo thế giới hiện thực, không
ngừng thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Lịch sử loài người đã chứng minh, chỉ thông qua con
đường học tập thì những di sản văn hóa vật chất và tinh thần của thế hệ trước mới có thể truyền lại
cho thế hệ sau và cũng chính nhờ hoạt động học tập đó mà những giá trị này mới tồn tại. Tuy nhiên,
hoạt động học tập không phải là hoạt động đơn giản, trong quá trình hấp thu và biến vốn kinh
nghiệm xã hội lịch sử của nhân loại thành vốn kinh nghiệm, tri thức của bản thân con người đã gặp
không ít những cản trở, khó khăn, trong đó có những khó khăn tâm lý.
Một số nhà tâm lý học Liên Xô (cũ) như A.I.Pancô, N.V.Cudơmina, L. Oxtrốpxkaia,… đã có
những công trình nghiên cứu và đã chỉ ra những khó khăn trong công tác giáo dục trẻ mầm non.
Theo các tác giả này, những khó khăn thường nảy sinh với những giáo viên chưa được đào tạo về
chuyên môn, họ thường gặp khó khăn trong việc điều khiển hoạt động học tập, trong đó có liên quan
đến việc phân bố thời gian cho giờ học, sự lựa chọn phương pháp và cách thức tiến hành giờ học, sự
sử dụng các phương tiện kỹ thuật đồ dùng dạy học, sự chuyển tải lưu lượng thông tin tới học sinh
trong giờ học,… Các tác giả trên cũng chỉ ra rằng: Mức độ khó khăn trong công tác của người giáo
nhà nghiên cứu đã đi đến kết luận: Sự khắc phục khó khăn và lĩnh hội tay nghề sư phạm diễn ra
trong quá trình giáo viên nghiên cứu tâm lý trẻ, làm sâu sắc và giàu có kiến thức, nâng cao trình độ
văn hóa chung, hình thành kỹ năng và hiểu biết nghề nghiệp. Điều quan trọng để đạt được những
vấn đề cơ bản trên là sự học tập, trau dồi nghiệp vụ, chuyên môn của các giáo sinh sư phạm mầm
non. Kinh nghiệm của Liên Xô (cũ) cũng chỉ ra tầm quan trọng phải làm là phải nâng cao hiệu quả
đào tạo đội ngũ giáo viên mầm non, nâng cao trình độ, chuẩn bị tâm lý giáo dục học cho giáo viên
ngành mầm non, tổ chức việc thực tập sư phạm tốt hơn, hoàn thiện hơn công tác hướng nghiệp để
tác động tích cực đến nâng cao tay nghề cho giáo viên [17, tr.7].
Khi bàn đến khó khăn tâm lý trong học tập, tác giả A.V.Pêtrốpxki nghiên cứu đối tượng là
khó khăn tâm lý trẻ em khi vào lớp một. Theo ông có 3 loại khó khăn dạng này:
Loại 1: Những khó khăn liên quan đến đặc điểm chế độ học tập mới.
Loại 2: Những khó khăn trong việc thiết lập mối quan hệ giao tiếp mới với thầy cô giáo và
bạn bè.
Loại 3: Khó khăn trong việc thích nghi với hoạt động mới. Lúc đầu trẻ được sự chuẩn bị của
gia đình, nhà trường, xã hội nên có tâm lý vui thích và sẵn sàng đi học, về sau hứng thú học tập
giảm dần và trẻ chán học. Tác giả có đề cập đến những nguyên nhân dẫn đến khó khăn và ảnh
hưởng của chúng đến đời sống của trẻ, từ đó tác giả đề xuất những biện pháp giải quyết khó khăn
cho trẻ. [10]
Nhà tâm lý học Pháp, ông Bianka Zazzo cùng các đồng sự của mình thuộc trung tâm nghiên
cứu trẻ em của đại học Pari 10 đã có nghiên cứu về bước chuyển từ mẫu giáo lên cấp một của trẻ
em. Theo nhóm tác giả: khó khăn tâm lý lớn nhất mà trẻ gặp phải, làm cản trở đến sự thích ứng hoạt
động học tập của trẻ đó là “sự thay đổi môi trường hoạt động một cách triệt để” [22]
Tóm lại: Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập là một hiện tượng tâm lý phức tạp cũng đã
được nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài quan tâm nghiên cứu và đã có những đóng góp nhất định
trong việc phát hiện và nêu ra một số khó khăn tâm lý và cũng đã chỉ ra một số nguyên nhân của
những khó khăn đó. Tuy nhiên các nhà nghiên cứu mới chỉ hướng tới khách thể nghiên cứu là giáo
viên mầm non và trẻ chuẩn bị vào lớp một. Theo hiểu biết của người nghiên cứu, đến nay có ít
nghiên cứu trên khách thể nghiên cứu của đề tài.
1.1.2.Ở Việt Nam
Khi nghiên cứu về khó khăn tâm lý của học sinh tiểu học, trong tác phẩm “nỗi khổ của con
+ Các nguyên nhân thuộc về nhà trường.
+ Các nguyên nhân thuộc về xã hội.
Theo tác giả, các nguyên nhân chủ quan là những nguyên nhân gây ra những khó khăn tâm lý
nhiều hơn cho trẻ lớp một.
Thời gian gần đây còn có một số luận văn thạc sỹ quan tâm nghiên cứu vấn đề khó khăn tâm
lý trong hoạt động học tập của học sinh, sinh viên như:
- Năm 1999, luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Văn Kính “Tìm hiểu khó khăn tâm lý trong
quá trình giải bài tập hình học của học sinh phổ thông trung học cơ sở” [11, tr.66 - 69], tác giả chỉ ra
những nguyên nhân của khó khăn tâm lý trên như sau:
+ Nguyên nhân khách quan: Do phương pháp giảng dạy của một giáo viên, do tính chất môn
học,…
+ Nguyên nhân chủ quan: Do khả năng tư duy của học sinh trung học cơ sở đặc biệt là khả
năng khái quát hoá và suy luận hóa của học sinh còn nhiều thiếu sót, khả năng hiểu các định lụât,
định lý của trẻ chưa được khái quát,…
- Tác giả Cao Xuân Liễu có nghiên cứu “Một số khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của
học sinh lớp 1 người dân tộc K’ho ở Lâm Đồng’”. Tác giả đã chỉ ra những khó khăn tâm lý của học
sinh dân tộc K’ho là: khó khăn tinh thần chi phối việc tiếp thu tri thức, khó khăn ngôn ngữ, khó
khăn trong giao tiếp,…[15]
- Trong luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thị Nhân Ái (2001) “Tìm hiểu khó khăn tâm lý
trong quá trình giải bài tập hình học của học sinh lớp 11 trung học phổ thông” [1]. Luận văn thạc sỹ
của tác giả Nguyễn Thu Huyền (2002) với đề tài “Thực trạng khó khăn tâm lý trong quá trình giải
bài tập thực hành các thao tác kỹ thuật của sinh viên trường CĐSP kỹ thuật Vinh” [9] cũng có
nghiên cứu và nêu ra một số khó khăn tâm lý cơ bản của người trong quá trình học các môn khoa
học tự nhiên như: Do vốn kiến thức cơ bản của người học, do khả năng suy luận,…
- Trong luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Xuân Thức (2005) “Khó khăn tâm lý trong hoạt
động học tập của sinh viên năm thứ nhất đại học Sư phạm Hà Nội” đã tìm hiểu một số biểu hiện khó
khăn tâm lý, nguyên nhân và ảnh hưởng của chúng đến nhân cách người sinh viên [25]. Trong luận
văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thị Thiên Kim (2007) “Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập
của sinh viên năm nhất trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh” [10, tr.91-92]. Theo tác
giả, sinh viên năm nhất trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh thường gặp phải một số
ngoài và bên trong của hoạt động tạo nên và phụ thuộc vào:
- Tính chất của chính các nhân tố bên ngoài của hoạt động,
- Sự chuẩn bị về trình độ văn hoá, chuyên môn, đạo đức và thể chất của con người đến
với hoạt động ,
- Quan hệ của con người với hoạt động. [2]
I.ia. Lecne cũng chỉ ra rằng “khó” là một phạm trù chủ quan, mức độ “khó” phụ thuộc vào
khả năng và trạng thái của chủ thể. Một hành động như nhau về mức độ phức tạp có thể có mức độ
“khó” khác nhau đối với người này hay người khác [13]. Như vậy trong hoạt động muôn màu muôn
vẻ của mình, con người có thể gặp những khó khăn muôn màu, muôn vẻ khác nhau.
Qua các cách định nghĩa trên chúng ta có thể khẳng định “Khó khăn” là nói đến những trở
ngại, cản trở đòi hỏi phải có sự cố gắng, nỗ lực để vượt qua.
Trong quá trình hoạt động chủ thể có thể gặp những trở ngại làm cho hoạt động đó không thể
tiếp tục hay không đạt được hiệu quả hoặc giảm hiệu quả của hoạt động thì những vấn đề đó được
xem là các yếu tố gây nên khó khăn. Những yếu tố đó có thể là những yếu tố bên ngoài như: điều
kiện, phương tiện hoạt động,…; có thể là những yếu tố bên trong xuất phát từ bản thân mỗi cá nhân
khi tham gia hoạt động như: nhận thức, tình cảm, thái độ, năng lực, vốn kinh nghiệm, thao tác kỹ
năng tiến hành hoạt động,… Trong đó, yếu tố bên trong ảnh hưởng trực tiếp đến tiến trình và kết
quả hoạt động của con người.
Xét theo phương diện nguồn gốc xuất phát, các yếu tố bên trong có thể chia ra làm hai loại:
yếu tố sinh học và yếu tố tâm lý. Trong đó, những khó khăn do yếu tố tâm lý như: nhận thức, thái
độ, tình cảm, năng lực riêng của cá nhân, vốn kinh nghiệm sống của chủ thể,…tạo nên gọi là những
khó khăn tâm lý.
Chúng ta cũng có thể tìm thấy một số thuật ngữ tương đương với những “khó khăn tâm lý” là
“trở ngại tâm lý”, “hàng rào tâm lý”, “áp lực tâm lý”… Trong đó tác giả V. Ph. Galưgin cho rằng:
Rào cản tâm lý là những chướng ngại có tính chất tâm lý cản trở đến quá trình thích ứng tâm lý của
cá nhân đối với những yếu tố mới của ngoại cảnh, do đặc điểm của hoàn cảnh và đặc điểm cá nhân
tạo nên. Tác giả B.D. Parưghi thì cho rằng: rào cản tâm lý được hiểu ngầm như là các quá trình,
các thuộc tính, các trạng thái của con người nói chung bao bọc tiềm năng trí tuệ, tình cảm của con
người [15, tr.8]
Theo sổ tay tâm lý học, cơ chế tình cảm của rào cản tâm lý là sự gia tăng những mặc cảm và
động học tập là những đặc điểm tâm lý cá nhân nảy sinh ở người sinh viên trong học tập làm cản
trở tiến trình và kết quả hoạt động học tập của người sinh viên” [26, tr.14]
Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập là một một hiện tượng tâm lý phức tạp, nảy sinh
trong q trình học tập của người học. Trong đề tài này, người nghiên cứu cho rằng: Khó khăn tâm
lý trong hoạt động học tập là những đặc điểm tâm lý cá nhân nảy sinh trong q trình học tập
của người học, gây ra những cản trở làm ảnh hưởng tiêu cực đến q trình và hiệu quả hoạt
động của chủ thể đó.
1.2.2. Hoạt động học tập và khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học viên trường
trung học chun nghiệp và dạy nghề
1.2.2.1. Khái niệm Hoạt động
Theo các nhà tâm lí học Mác xít thì nhân cách được hình thành thông qua hoạt động dưới
sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố như môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, giáo dục, tự giáo
dục, … Hoạt động là con đường, là cơ chế để giáo dục sự hình thành và phát triển nhân cách cho
thế hệ trẻ.
Có nhiều cách đònh nghóa khác nhau về hoạt động. Theo A. N. leonchiev [12] thì hoạt động
được hiểu là “một tổ hợp các tác động vào đối tượng nhằm đạt mục đích thỏa mãn một nhu cầu nhất
định và chính kết quả hoạt động đó là sự cụ thể hố nhu cầu của chủ thể”. Theo tác giả Vũ Dũng thì
hoạt động là hệ thống năng động các tác động qua lại giữa chủ thể và mơi trường, nơi nảy sinh hình
ảnh tâm lý về khách thể qua đó các mối quan hệ của chủ thể trong thế giới đối tượng được trung
gian hố [4, tr.317].
Như vậy, có thể hiểu hoạt động là quá trình tác động của con người vào đối tượng để tạo
ra những sản phẩm nhằm đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của con người. Hoạt động của con
người rất đa dạng và phong phú. Cuộc sống của con người là một chuỗi các hoạt động được diễn
ra liên tiếp. Chính thông qua các hoạt động mà con người được trưởng thành. Thông qua hoạt
động con người sẽ tiếp thu và lónh hội được những giá trò văn hoá, tinh thần của những thế hệ
trước đã được kết tinh lại trong những sản phẩm họ làm ra để làm phát triển về mặt tâm lí, ý
thức của cá nhân. Xét về phương diện phát triển cá thể, người ta thấy trong đời người có ba loại
hình hoạt động kế tiếp nhau. Đó là các hoạt động: vui chơi, học tập và lao động.
1.2.2.2. Khái niệm hoạt động học tập
Hoạt động học tập là một loại hình hoạt động cơ bản, đặc biệt của con người. Qua đó giúp
tạo trên cơ sở đó tiến hành tích cực các hoạt động học tập một cách độc lập.
1.2.2.3. Bản chất của hoạt động học tập
• Đối tượng của hoạt động học là tri thức và những kó năng, kó xảo tương ứng với nó.
Cái đích mà hoạt động học hướng tới là chiếm lónh tri thức, kó năng, kó xảo của xã hội thông qua
sự tái tạo của cá nhân. Để việc học có kết quả, người học phải tích cực tiến hành các hoạt động
học tập bằng chính ý thức tự giác và năng lực trí tuệ của bản thân mình.
• Hoạt động học là hoạt động hướng vào làm thay đổi chính mình. Đây là điểm đặc
trưng so với các hoạt động khác. Nếu như các hoạt động khác hướng vào làm thay đổi khách thể
thì hoạt động học lại hướng vào thay đổi và phát triển chính chủ thể. Thông qua những tri thức
mà người học chiếm lónh được sẽ làm cho tâm lí của chủ thể thay đổi và phát triển.
• Hoạt động học là hoạt động được điều khiển một cách có ý thức nhằm tiếp thu tri
thức, kó năng, kó xảo. Khác với những tri thức mà người học học được qua những tình huống thực
tế – mang tính kinh nghiệm chỉ có thể áp dụng trong những tình huống cụ thể thì những tri thức
mà người học thu được qua hoạt động học tập một cách chính thức trong nhà trường có thể đúng
và thích hợp cho mọi hoàn cảnh tương tự. Vì vậy sự tiếp thu những tri thức đó chỉ có thể diễn ra
trong hoạt động học được điều khiển một cách có ý thức của người lớn.
• Hoạt động học không chỉ hướng vào việc tiếp thu những tri thức, kó năng, kó xảo
mới mà còn hướng vào việc tiếp thu cả những tri thức của chính bản thân hoạt động, nói cách
khác là tiếp thu được cả phương pháp chiếm lĩnh được tri thức đó (cách học).
Muốn cho hoạt động học diễn ra có kết quả cao, người học phải biết cách học, nghóa là
phải có những tri thức về bản thân hoạt động học. Sự tiếp thu tri thức này không thể diễn ra một
cách độc lập với việc tiếp thu tri thức, kó năng, kó xảo. Do đó khi tổ chức hoạt động cho học sinh,
người dạy vừa phải ý thức được những tri thức, kó năng, kó xảo nào cần được hình thành ở học
sinh, vừa phải có một quan niệm rõ ràng thông qua tổ chức sự tiếp thu tri thức, kó năng, kó xảo
đó thì học sinh lónh hội được cách học gì, con đường lĩnh hội tri thức kó năng, kó xảo như thế nào
(nói cách khác là những tri thức về hoạt động học).
Cần nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của việc hình thành phương pháp học tập ở học
sinh. Nó là công cụ, là phương tiện không thể thiếu được để đạt mục đích của hoạt động học
này. Nội dung và tính chất của hoạt động học được hình thành sẽ quyết đònh nội dung và chất
lượng của sự lónh hội tri thức, kó năng, kó xảo. Vì thế trong dạy học, hai công việc này phải được
viên là một loại hoạt động nhận thức cơ bản của sinh viên, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của
cán bộ giảng dạy, nhằm lĩnh hội, nắm vững hệ thống kiến thức, kỹ năng về một loại nghề nào đó,
làm cơ sở cho hoạt động nghề nghiệp trong tương lai” [22, tr. 89].
Do đặc điểm đặc trưng mà hoạt động học tập ở các trường trung học chuyên nghiệp và dạy
nghề có sự khác biệt so với các trường phổ thông và các trường cao đẳng, đại học. Chính vì vậy
trong quá trình học tập, nếu gặp những khó khăn thì bản thân học viên phải cố gắng nỗ lực khắc
phục rất nhiều. Việc khắc phục những khó khăn tâm lý này có những lúc là sự ngẫu nhiên, là việc tự
rút kinh nghiệm sau những lần thất bại trong học tập ở trường, việc này gây hao tổn không ít thời
gian trong quá trình học tập. Nhưng cũng có những học viên không ý thức được những khó khăn
tâm lý mà mình gặp phải để tự rút ra bài học cho bản thân và kết quả là không cải thiện được hiệu
quả học tập của mình. Đặc biệt đối với những học viên vừa học xong các trường phổ thông, bước
chân ngay vào môi trường sinh hoạt và học tập ở trường chuyên nghiệp với nhiều bỡ ngỡ và lạ lẫm.
Họ phải nhanh chóng làm quen và thích ứng với môi trường cuộc sống mới, với cách thức tổ chức
học tập, phương pháp giảng dạy và kiểm tra, thi cử,… mới. Hầu hết những học viên này chưa được
quan tâm hướng dẫn để chuẩn bị tâm thế sẵn sàng. Do vậy, họ có những cảm giác hẫng hụt, không
kịp đáp ứng với yêu cầu mới của hoạt động học tập. Trong quá trình học tập, bên cạnh những học
viên có tính thích ứng cao, dần dần hoặc nhanh chóng làm quen với môi trường và hoạt động học
tập mới, họ nhanh chóng đi vào ổn định và đáp ứng tốt những yêu cầu của hoạt động học tập; thì có
những học viên (thường là những học viên mới tốt nghiệp phổ thông lấy sự cần cù, chăm chỉ của
mình mong đạt kết quả học tập tốt), do vậy cũng có những học viên có kết quả học tập khá tốt
nhưng vẫn chưa có phương pháp học tập khoa học và khả năng vận dụng kiến thức đã học vào công
việc thực tế chưa cao. Bên cạnh đó, còn có những học viên chưa thực sự tích cực, tự giác trong học
tập. Một số học viên cho rằng họ đã từng học một hoặc vài trường chuyên nghiệp khác còn cao hơn
trình độ hiện nay đang học nên họ có tâm thế ỷ lại, chây lười trong học tập và rèn luyện. Một số thì
chấp nhận với thực tế của bản thân, thiếu ý chí tiến thủ, chây lười trong học tập và rèn luyện.
Những khó khăn tâm lý không chỉ làm cho kết quả học tập giảm sút mà còn làm phức tạp hóa
những quan hệ qua lại với giáo viên và bạn bè cùng lứa, phá vỡ mối tương quan bình thường giữa
sự tự đánh giá và những ý kiến đánh giá mà người học nhận được [21, tr.135]. Nếu những khó khăn
tâm lý không được giải quyết sẽ dẫn đến những khó khăn nghiêm trọng hơn trong sự phát triển nhân
cách của người học. Nhóm các nhà tâm lý học do N.A.Menchinskalja tổ chức đã nghiên cứu dựa
là sự lo lắng vì không hoàn thành tốt, sợ bạn bè, thầy cô chỉ chích và lúng túng không biết làm thế
nào. Chính vì họ không tập trung vào bài học, học sinh không thể theo kịp lời giảng của giáo viên,
nó cứ như một vòng xoay mà người học không biết cách nào để thoát ra.
Hai là: Với tài liệu học tập không rõ ràng, khô cứng cũng tạo ra khó khăn trong quá trình tri
giác của học sinh, họ không nắm rõ được vấn đề trọng tâm của bài học, không hiểu được mục đích ý
nghĩa của bài học và thêm vào đó là cả sự bận rộn với những ý nghĩ lo âu khiến các em lúc nào cũng
bị lúng túng, hồi hộp trong việc sắp đặt kế hoạch, không phát triển được động lực học tập.
Ba là: ảnh hưởng của nỗi lo âu làm hạn chế khả năng khái quát bài học của người học – đây
là những học sinh có khả năng không quá kém nhưng vì lo âu, hồi hộp họ đã không thể diễn tả được
những điều mà họ muốn. [30].
- Về động cơ học tập, các nghiên cứu cho rằng có hai loại động cơ: động cơ hoàn thiện tri
thức và động cơ quan hệ xã hội. Hoạt động học tập được thúc đẩy bởi động cơ hoàn thiện tri thức sẽ
thúc đẩy người học khắc phục khó khăn trong tiến trình học tập. Đó là những nỗ lực hướng vào việc
khắc phục những trở ngại bên ngoài để đạt được nguyện vọng đã nảy sinh, chứ không phải là việc
đấu tranh với chính bản thân mình. Do đó, chủ thể của hoạt động thường không bị những căng
thẳng tâm lý. Còn nếu hoạt động học tập bị thúc đẩy bởi những quan hệ xã hội ở một mức độ nào đó
mang tính chất cưỡng bách và có lúc xuất hiện như một vật cản cần khắc phục trên con đường đi
đến mục đích cơ bản. Nét đặc trưng tâm lý của hoạt động này là có những lực chống đối nhau (ví dụ
như kết quả học tập không đáp ứng được nguyện vọng về địa vị xã hội của cá nhân sau này) có thể
gắn liền với những căng thẳng tâm lý đáng kể, đòi hỏi những nỗ lực bên trong, có thể có cả sự đấu
tranh với chính bản thân mình. Khi có sự xung đột gay gắt, người học thường có những hiện tượng
vi phạm nội qui như: quay cóp, gian lận, phá bĩnh,…, thờ ơ trong học tập hoặc bỏ học. [8, tr.122]
Theo A. V. Petropvski, những điều kiện ảnh hưởng đến việc hình thành các khái niệm gồm
đặc điểm nhân cách và những đặc điểm của hệ thống động cơ; những nỗ lực, những tìm tòi có
phương hướng và nhiều lần làm thử được kèm theo sự kiểm tra các kết quả; những tri thức và kỹ
năng nền tảng mà người học đã có; sự hướng dẫn của giáo viên về mục đích và lĩnh vực kiến thức
phục vụ; xu hướng của tư duy,… tất cả những điều kiện này không được thỏa mãn sẽ khiến người
học khó tiếp thu tri thức. [21, tr.79]
Khi xét đến khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập là xem xét đến những biểu hiện tiêu cực
về mặt tâm lý của người học chi phối quá trình nhận thức, thái độ và hành vi lĩnh hội tri thức của cá
định được động cơ học tập hoặc động cơ học tập không rõ ràng chính là một khó khăn tâm lý trong
hoạt động học tập của người học và có thể dẫn đến những biểu hiện như:
+ Các quá trình tiếp thu bài học có sự hạn chế: nhận thức chậm, khó khăn trong tập trung ghi
nhớ có chủ định và tổng hợp, nền tảng tri thức và kỹ năng không vững chắc.
+ Nhận thức về bản thân chưa đúng: có thể đánh giá quá thấp hoặc quá cao về bản thân,
thường chỉ tập trung vào mặt khuyết điểm, hạn chế của bản thân dẫn đến sự mặc cảm, tự ty.
+ Động cơ học tập vì quan hệ xã hội, mục tiêu học tập quá cao hoặc quá thấp so với khả năng
thực tế của bản thân dẫn đến sự căng thẳng hoặc chủ quan trong học tập, không có sự mơ ước về
nghề nghiệp,
Nhận thức về đối tượng học tập: Việc học tập ở các trường trung học chuyên nghiệp
và dạy nghề của người học luôn gắn liền với việc sẽ trở thành một chuyên gia hoạt động trong một
lĩnh vực cụ thể phục vụ cho nhu cầu của xã hội. Do vậy, việc nhận thức đúng được vị trí, vai trò,
tầm quan trọng của đối tượng học tập sẽ giúp người học tích cực trong học tập, rèn luyện; Nếu
ngược lại, sẽ gây cho người học không sẵn sàng tâm thế cho hoạt động học tập, học tập một cách
đối phó, dẫn đến hiệu quả học tập và rèn luyện sẽ kém. Trong quá trình học tập, người học có thể
nhận thức chưa đúng đắn, đầy đủ về ví trí, vai trò của các môn học trong chương trình học tập dẫn
đến việc đầu tư không đúng và đầy đủ với từng môn học.
Về thái độ của người học đối với việc học tập
Thái độ là trạng thái sẵn sàng về mặt tinh thần và thần kinh được tổ chức thông qua kinh
nghiệm, có tác dụng điều chỉnh hoặc có ảnh hưởng một cách linh hoạt đến phản ứng của cá nhân
với tất cả các khách thể và tình huống mà nó có mối liên hệ. Nhìn chung thái độ có ba thành tố:
nhận thức, xúc cảm và hành vi kết hợp lại để truyền tải một phản ứng tích cực, tiêu cực hoặc trung
lập [4, tr. 790]. Thái độ là khuynh hướng suy tư, cảm nghĩ, tri giác và hành xử đối với một đối
tượng tâm lý. Thái độ ấy có thể là ý nghĩ tích cực hay tiêu cực [28, tr.165]. Thái độ học tập của
người học là những cảm nghĩ tích cực hoặc tiêu cực của người học đối với việc học. Để lĩnh hội tài
liệu học tập đạt được kết quả tốt, thái độ tích cực là điều kiện rất cần thiết được thể hiện qua cảm
xúc trí tuệ của người học đối với các ý nghĩ, tư tưởng, các quá trình và kết quả hoạt động trí tuệ - nó
bao gồm sự hứng thú, ham hiểu biết, tin tưởng vào bản thân và sự sẵn sàng nỗ lực của ý chí để khắc
phục khó khăn.
Có thể khẳng định, khó khăn tâm lý thể hiện ở dạng thái độ, tình cảm là việc xuất hiện những