MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Từ khi mới sinh ra con người đã luôn luôn gặp những khó khăn trở ngại
trong hoạt động và chính từ những khó khăn đó đã đòi hỏi con người phải có sự
nỗ lực vượt qua bằng cách này hay cách khác để đạt được mục đích như mong
muốn.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, khi miền Bắc hoàn toàn giải
phóng và bắt tay vào lao động sản xuất, xây dựng đất nước đi lên chủ nghĩa xã
hội, Đảng và Nhà nước ta đã nhận thấy vai trò vô cùng quan trọng của giáo dục,
và nhiệm vụ mang tính chiến lược được đặt ra là phải tạo nên những thế hệ giáo
viên có trình độ chuyên môn cao, phẩm chất nhân cách tốt để đáp ứng yêu cầu
phát triển đất nước. Các nhà trường CĐSP là một khâu - mắt xích không thể
thiếu trong nhiệm vụ đó, nó có một vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước. Do vậy trường CĐSP phải thực hiện nhiệm vụ
giáo dục - đào tạo những sinh viên sư phạm, trang bị cho họ những tri thức khoa
học, nghiệp vụ sư phạm để họ trở thành những người giáo viên có đủ khả năng
dạy học và giáo dục.
Trong quá trình học tập tại trường CĐSP, sinh viên phải trải qua rất nhiều
khó khăn, nhất là đối với sinh viên năm thứ nhất và đặc biệt là sinh viên các dân
tộc thiểu số miền núi. Những sinh viên này phải tiếp cận với nội dung tri thức
mới với số lượng và nội dung lớn hơn, phức tạp hơn so với phổ thông. Cách thức
học tập cũng như phương pháp dạy của thầy cũng rất khác so với phổ thông.
Phần lớn những sinh này đều xuất thân từ những gia đình có kinh tế khó khăn,
trình độ học vấn của bố mẹ thấp, họ học tập ở môi trường phổ thông với điều
kiện không thuận lợi. vậy nên trình độ đầu vào của những sinh viên này tương
đối thấp, tiếng phổ thông chưa được thạo, chưa có sự bạo dạn trong giao lưu học
hỏi. Những yếu tố trên đã gây không ít những khó khăn tâm lý cho sinh viên
trong quá trình học tập. Đứng trước những khó khăn tâm lý đó nếu không có
1
những cách thức khắc phục khó khăn thì sẽ dễ làm cho sinh viên chán nản, bỏ
bê. Từ đó tạo cho họ sự trì trệ, buông xuôi, phó mặc và không có động lực để
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm giải quyết những nhiệm vụ sau:
5. 1 Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến đề tài nghiên
cứu (học tập, khó khăn tâm lý trong học tập, ảnh hưởng của khó khăn tâm lý đến
kết quả học tập.
5.2 Phát hiện thực trạng những khó khăn tâm lý trong học tập của sinh
viên dân tộc thiểu số năm thứ nhất trường CĐSP và nguyên nhân nảy sinh những
khó khăn tâm lý đó.
5.3 Xây dựng chân dung điển hình về khăn tâm lý trong học tập của sinh
viên dân tộc thiểu số năm thứ nhất trường CĐSP Sơn La
5.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục những khó khăn tâm lý đó
6. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài chỉ nghiên cứu thực trạng những khó khăn tâm lý trong hoạt động
học tập của sinh viên các dân tộc thiểu số năm thứ nhất, thử nghiệm một vài biện
pháp tác động nhằm hạn chế những khó khăn tâm lý đó.
7. Địa bàn nghiên cứu
Trường CĐSP Sơn La và một số gia đình có con em là sinh viên các dân
tộc thiểu số năm thứ nhất trường CĐSP Sơn La ở các huyện lân cận.
8. Phương pháp nghiên cứu
8.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận
8.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
8.2.1 Phương pháp trò chuyện phỏng vấn
8.2.2 Phương pháp quan sát
3
8.2.3 Phương pháp điều tra viết
8.2.4 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
8.2.5 Phương pháp nghiên cứu điển hình
8.3 Phương pháp thống kê toán học
9. Cấu trúc luận văn (gồm 3 chương)
Chương 1: cơ sở lý luận của đề tài (thể hiện trong 20 trang)
tập của từng SV châu Á khi học tại các trường đại học của Úc
Các tác giả đã kết luận: Sinh viên cần phải có một sự chuyển biến lớn giữa
các nền văn hoá, kiến thức khác nhau để thích ứng với môi trường học tập mới.
1.1.2 Ở Việt Nam:
Từ trước đến nay, vấn đề khó khăn tâm lí được các nhà tâm lí học, giáo
dục học nghiên cứu chưa nhiều, một số tác giả tiêu biểu như Trần Trọng Thuỷ,
Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Thị Nhất, Phạm Thị Đức, Nguyễn Xuân Thức đã
có một số bài viết đề cập đến vấn đề này.
- Nguyễn Khắc Viện trong tác phẩm “Nỗi khổ của con em chúng ta” đã
nêu ra những khó khăn tâm lí mà học sinh lớp 1 gặp phải
- Trong tác phẩm “6 tuổi vào lớp 1” Nhà giáo dục Nguyễn Thị Nhất đã chỉ
ra nhiều khó khăn tâm lí mà trẻ lớp 1 phải vượt qua. Tác giả cho rằng: “Trong
5
quá trình lớn lên của trẻ em có những bước ngoặt chuyển từ giai đoạn này sang
giai đoạn khác, trẻ em đòi hỏi phải thay đổi phương thức hoạt động một cách
triệt để”
- Tác giả Nguyễn Thanh Sơn trong bài viết “Những khó khăn của học sinh
miền núi khi học tác phẩm văn học cổ điển Việt Nam” đã phân tích những khó
khăn của học sinh miền núi khi học tác phẩm văn học cổ điển Việt Nam.
- Tác giả Nguyễn Xuân Thức với các bài viết “Khó khăn tâm lí của trẻ em
đi học lớp 1”; “Thực trạng khó khăn tâm lí và biểu hiện của chúng ở học sinh lớp
1 tiểu học” và “Các nguyên nhân khó khăn tâm lí của học sinh khi đi học lớp 1”
đã cho rằng: Trẻ em mẫu giáo lớn khi bước vào học lớp 1 gặp những khó khăn
tâm lí mà chính những khó khăn này làm cản trở sự thích ứng với hoạt động học
tập của các em, dẫn đến trẻ sợ học và kết quả học tập không cao.
1.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHÓ KHĂN TÂM LÝ TRONG
HỌC TẬP CỦA SV NÓI CHUNG VÀ SV DTTS NĂM THỨ NHẤT NÓI
RIÊNG.
1.2.1 Khó khăn tâm lí
1.2.1.1 Khó khăn nói chung
thành hành vi tích cực, hình thành cấu trúc tương ứng của hoạt động tâm lí và sự
phát triển toàn diện nhân cách.
Khi nghiên cứu về hoạt động học tập có rất nhiều quan niệm khác nhau
tuỳ theo góc độ nghiên cứu của các tác giả. Các tác giả người nước ngoài như: L.
B Enconhin, Leonchiev, Ganperin. Petrovxki các tác giả chưa có sự thống
nhất hoàn toàn trong việc quan niệm về hoạt động học tập, tuy nhiên họ đều xem
xét hoạt động học tập hoặc có liên quan đến nhận thức hoặc liên quan chỉ với tư
duy hay nghề nghiệp. Mỗi quan niệm thường nhấn mạnh một khía cạnh nào đó,
7
nhưng các tác giả cũng có điểm chung về hoạt động học tập là có mục đích tự
giác, có ý thức về động cơ và trong đó diễn ra quá trình nhận thức, đặc biệt là
quá trình tư duy. Các tác giả trong nước nghiên cứu về hoạt động học tập như
Bùi Văn Huệ, Lê Văn Hồng, Nguyễn Quang Uẩn đều có những quan điểm
tương đối thống nhất khi đưa ra các đặc điểm cơ bản thể hiện bản chất của nó
như sau: 1/đối tượng của hoạt động học tập là những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo
tương ứng với nó; 2/hoạt động học tập là hoạt động hướng vào làm thay đổi và
phát triển tâm lí của chính chủ thể học tập; 3/Hoạt động học tập là hoạt động
được điều khiển bởi mục đích có ý thức nhằm tiếp thu những tri thức, kĩ năng, kĩ
xảo; 4/Hoạt động học tập không chỉ hướng vào việc tiếp thu những tri thức, kĩ
năng, kĩ xảo mới (cái) mà còn tiếp thu cả những tri thức của chính bản thân hoạt
động (cách).
1.2.2.2 Hoạt động học tập của sinh viên sư phạm
* Hoạt động học tập của sinh viên. Hoạt động học tập của sinh viên có
những đặc điểm nổi bật sau:
- Hoạt động mang tính chất nghề nghiệp
- Hoạt động mang tính chất nghiên cứu
- Hoạt động học tập của sinh viên là hoạt động lao động trí óc căng thẳng
- Tính độc lập trí tuệ cao trong học tập
- Tính thực tiễn
Tóm lại, hoạt động học tập của sinh viên thực sự là một loại lao động trí
biệt là sự phát triển năng lực trí tụê.
Ở lứa tuổi sinh viên tự ý thức phát triển rất cao, sinh viên đã tự đánh giá,
thể hiện thái độ đối với bản thân, biểu hiện các phẩm chất và năng lực trong hoạt
động, giao tiếp và tự giáo dục
9
Tuổi SV là thời gian thuận lợi nhất của sự phát triển nhân cách, đây là lứa
tuổi mà các chức năng tâm lý, đặc biệt là sự phát triển các năng lực trí tuệ của
con người diễn ra có hiệu quả nhất.
* Một số đặc điểm của sinh viên năm thứ nhất
Sinh viên năm thứ nhất có độ tuổi khoảng từ 17 đến 20 tuổi với sức sống
mãnh liệt của tuổi trẻ và ước mơ hoài bão tràn đầy. Nhân cách của họ đã và đang
phát triển mạnh, họ đã có ý thức về những hành vi của mình .
SV năm thứ nhất chưa có được phẩm chất nghề nghiệp chuyên biệt thuộc
một nghành nhất định. Vào trường ĐH, CĐ họ đã có một số phẩm chất tương đối
ổn định, phản ánh lối sống , phong tục tập quán của địa phương và tầng lớp gia
đình mình trong xã hội.
1.2.3 Những khó khăn tâm lí trong hoạt động học tập của SV nói
chung và SV dân tộc thiểu số nói riêng.
* Khó khăn tâm lí trong hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất: Sinh
viên năm thứ nhất thường gặp những khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập
sau:
- Hiểu biết chưa nhiều về nghề sư phạm
- chưa thực sự làm quen với môi trường sinh viên
- Chưa có sự giao lưu hoà đồng với bạn bè
- Cảm thấy khoảng cách quá lớn trong quan hệ giữa giáo viên CĐSP và sinh
viên
- Chưa thích ứng với kiểu sinh hoạt, học tập của sinh viên
- cảm thấy có khoảng cách với những bạn là sinh viên dân tộc kinh
- Chưa thích ứng với phương pháp giảng dạy của giáo viên ở trường CĐSP
- Quan hệ bạn bè, yêu đương làm ảnh hưởng đến thời gian học tập
chúng tôi chỉ điều tra một số lớp ở cả ba khoa với số lượng sinh viên được hỏi là
200 sinh viên. Trong quá trình xử lý phiếu điều tra, chúng tôi đã loại bỏ 09 phiếu
không cung cấp đủ thông tin được hỏi hoặc làm qua loa, đối phó đưa lại những
thông số không khách quan. do vậy khách thể điều tra chỉ còn lại là 193 SV. Các
thông số tổng quát nhất, cần thiết cho đề tài được trình bày ở bảng 2.1
Bảng 2.1: Mẫu khách thể nghiên cứu
Giới tính(%) Thành phần dân tộc (%)
nam nữ Thái mường H.mông dao
Tự nhiên
(73)
50 50 71,3 15,7 8 5
Xã hội
(25)
16 84 72,6 12,4 9,5 5,5
Tiểu học-
mầm non
(95)
10,5 89,5 74,5 14,5 6,5 4,5
tổng số
(193)
25,5 74,5 72,8 14,2 8 5
2.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
Xây dựng được quy trình nghiên cứu lôgíc, hợp lí, đồng thời lựa chọn và
phối hợp các phương pháp tâm lý khác nhau để tiếp cận, tìm hiểu khai thác các
khó khăn trong học tập của sinh viên dân tộc thiểu số một cách phù hợp và hiệu
quả nhất.
2.3 NỘI DUNG VÀ TIẾN TRÌNH NGHIÊN CỨU.
Căn cứ vào cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu cũng như mục
đích, giới hạn của đề tài, đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề sau:
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận có liên quan đến vấn đề khó khăn
Sau khi xử lý sơ bộ các kết quả thu thập được từ việc điều tra chính thức
chúng tôi tiến hành chọn lựa, tìm hiểu nghiên cứu về các trường hợp điển hình.
2.4.3 Giai đoạn xử lý số liệu và hoàn thiện luận văn
Thời gian thực hiện: từ tháng 5/2007 đến 7/2007
Giai đoạn gồm các công việc như: xử lý các số liệu thu được, viết nháp,
đánh máy, in ấn, chỉnh sửa luận văn, viết bản tóm tắt, làm Powerpoint…
2.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
2.5.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
2.5.2 Phương pháp trò chuyện phỏng vấn sâu
Chúng tôi sử dụng phương pháp này với với các giảng viên đang trực tiếp giảng
dạy ở các lớp điều tra hoặc làm công tác chủ nhiệm, người thân, bạn bè và đặc
biệt là với chính bản thân các SV dân tộc thiểu số.
* Mục đích
- Dùng phương pháp này để bổ trợ cho các phương pháp nghiên cứu khác
và kiểm tra độ tin cậy của kết quả nghiên cứu.
2.5.3 Phương pháp quan sát
2.5.4 Phương pháp điều tra viết
chúng tôi tiến hành xây dựng hai loại phiếu hỏi: Phiếu dánh cho sinh viên dân
tộc thiểu số năm thứ nhất và phiếu dành cho giáo viên
2.5.5 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
2.5.6 Phương pháp nghiên cứu điển hình
2.5.7 Phương pháp thống kê toán học
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thực trạng khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của SV DTTS
năm thứ nhất trường CĐSP Sơn La.
3.1.1. Đánh giá của sinh viên về khó khăn tâm lý trong học tập của họ
14
Để tìm hiểu thực trạng những khó khăn tâm lý trong học tập của SV DTTS
năm thứ nhất trường CĐSP Sơn La. Chúng tôi xây dựng câu hỏi 1 trong phiếu
SV DTTS thường xuyên gặp phải khó khăn là cao hơn khoa tự nhiên, Nữ SV
DTTS thường xuyên gặp khó khăn tâm lý trong học tập hơn nam SV (72,9% so
với 55,1%). Điều này cho thấy khi vào trường CĐSP các em nữ SV DTTS năm
thứ nhất do đặc điểm giới tính: e ngại, rụt rè không tích cực, chủ động tìm kiếm
những cách thức để giải quyết những khó khăn mà mình thường gặp phải; các
em hay e ngại trong việc tiếp xúc với thầy, cô.
Tỉnh Sơn La là một tỉnh miền núi kinh tế còn rất nhiều khó khăn, để tìm
hiểu ảnh hưởng của nó như thế nào đến kết quả học tập của sinh viên chúng tôi
đã đưa ra câu hỏi: “điều kiện kinh tế gia đình bạn ảnh hưởng đến việc học tập
như thế nào?” Không tốt; bình thường; tốt
Kết quả cho thấy có tới 107/193 em trả lời là không tốt đây là một tỉ lệ khá
cao
Để tìm hiểu việc học tập bằng tiếng Kinh có ảnh hưởng đối với các em
như thế nào, chúng tôi đã đưa ra câu hỏi: “
Giao tiếp, học tập bằng tiếng Kinh ảnh hưởng đến việc tiếp thu kiến thức của bạn
như thế nào? Không tốt; bình thường; tốt"
Kết quả cho thấy tần số xuất hiện phương án trả lời "không tốt" là khá cao,
trung bình ở cả ba khoa là 52,2%, điều đó cho thấy việc học tập bằng tiếng kinh
quả là không mấy thuận lợi đối với các em. Nguyên nhân là do các em sinh ra và
lớn lên trong gia đình mà cả bố và mẹ hầu hết đều giao tiếp bằng tiếng dân tộc.
3.1.2 khó khăn tâm lý trong học tập của SV DTTS năm thứ nhất.
Chúng tôi đã đưa ra bảng hỏi 9 (phụ lục 3) với 3 mức trả lời cho những khó
khăn để sinh viên lựa chọn. Các mức độ khó khăn chúng tôi cho điểm như sau:
Thường xuyên: 3 điểm
Đôi khi: 2 điểm
Không bao giờ: 1 điểm
16
Chúng tôi đã đưa ra 10 khó khăn cơ bản mà sinh viên hay gặp phải kết quả thể
hiện như sau: Sinh viên ở cả ba khoa hay gặp khó khăn nhiều nhất đó là “Chưa
thích ứng với phương pháp giảng dạy của giáo viên ở trường CĐSP”. Có
xung khắc với các bạn mà các em phải tự mình giải quyết và chuyện này rất
phức tạp đối với các em nữ.
17
Khó khăn : “Hiểu biết chưa nhiều về nghề sư phạm” ở khó khăn này thì có
sự khác nhau rõ rệt về thứ bậc: ở khoa tự nhiên thì khó khăn này xếp thứ 4 trong
mười khó khăn kể trên, với
X
= 2,49; khoa xã hội xếp thứ sáu với
X
= 2,28;
tiếp theo là khoa tiểu học - mầm non thứ bậc xếp thứ 7 với
X
= 2,43. Sở dĩ có sự
chênh lệch trên là do ở khoa tự nhiên tỉ lệ nam là khá cao (50%), hầu hết các bạn
nam đều không có hứng thú thực sự với nghề sư phạm, vậy nên khi vào học
trường CĐSP các em thường không có hứng thú thực sự, các em ít có sự đầu tư
thực sự vào học tập như các bạn nữ. vậy nên cũng với khó khăn này ở khoa tự
nhiên thì xếp thứ tư trong các khó khăn nhưng khoa tiểu học - mầm non thì khó
khăn này chỉ xếp thứ 7, còn khoa xã hội xếp thứ 6.
Các khó khăn còn lại nhìn chung các em cũng đều gặp phải nhưng mức độ
cũng không ảnh hưởng nhiều lắm
Xét theo giới tính
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy giới tính có ảnh hưởng nhất
định đến mức độ khó khăn tâm lý trong học tập của SV DTTS năm thứ nhất Để
xem xét sự ảnh hưởng về giới tính như thế nào, chúng tôi tiến hành tách số liệu
đã điều tra được theo giới tính.
Các loại khó khăn cơ bản kể trên, các em nam và nữ sinh viên DTTS năm
thứ nhất gặp phải có sự khác nhau về mức độ đối với từng loại khó khăn, nhưng
nhìn chung các em nữ sinh viên gặp phải khó khăn nhiều hơn các em nam. Qua
tìm hiểu thực tế và số liệu điều tra thu được thì hầu hết các em nam đều tự tin,
Qua quá trình điều tra, quan sát, chúng tôi nhận thấy có hai nhóm nguyên
nhân chính gây ra khó khăn tâm lý trong học tập của SV DTTS năm thứ nhất
trường CĐSP Sơn La đó là nhóm nguyên nhân nguyên chủ quan và nguyên nhân
khách quan. Chúng tôi đã xây dựng hai nhóm câu hỏi (khách quan và chủ quan )
mỗi nhóm gồm 7 câu hỏi.
3.2.1 Nguyên nhân khách quan: Nguyên nhân khách quan có ảnh hưởng
lớn nhất đối với các khó khăn tâm lý trong học tập của SV DTTS là nguyên
19
nhân: “Do chưa thích ứng được với phương pháp giảng dạy của giáo viên” là có
ảnh hưởng lớn nhất đến các khó khăn tâm lý trong học tập của SV DTTS”
Nguyên nhân khách quan có ảnh hưởng thứ hai là nguyên nhân: “do
những biến động lớn về môi trường sống và học tập”. Từ môi trường miền núi
với điều kiện kinh tế, xã hội, văn hoá còn hạn chế
Xếp thứ ba trong các nguyên nhân khách quan là khó khăn “Do chịu ảnh
hưởng nặng nề của cách học ở phổ thông”. Nguyên nhân này có ảnh hưởng khá
lớn tới việc hình thành phương pháp học tập mới của sinh viên dân tộc thiểu số
năm thứ nhất. Trước khi vào học ở trường Cao đẳng, các em đã học tập ở các
trường phổ thông khác nhau, ở mỗi địa bàn khác nhau đó đã để lại một dấu ấn rõ
rệt ở các em.
3.2.2 Nguyên nhân chủ quan:
Chúng tôi cũng tiến hành điều tra với câu hỏi: “Bạn hãy sắp xếp những
nguyên nhân chủ quan sau ( đánh số thứ tự từ 1 → n theo thứ tự tăng dần từ mức
độ ít quan trọng đến mức độ quan trọng nhất) ảnh hưởng đến hoạt động học tập
của của bạn?”
Kết quả cho thấy: Nguyên nhân chủ quan có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất gây
ra các khó khăn trong học tập của sinh viên dân tộc thiểu số năm thứ nhất là “Do
bản thân chưa tích cực, chủ động”. Tính ỳ, sự thụ động, lười học là căn bệnh khá
phổ biến của sinh viên nói chung và càng đối với sinh viên dân tộc thiểu số năm
thứ nhất thì nó càng lớn hơn.
Nguyên nhân chủ quan xếp thứ 2 là: “Do chưa có phương pháp học tập
cư trú tại xã Chiềng Nơi Huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La.
S là sinh viên dân tộc H'Mông. Đây là thành phần dân tộc chiếm tỉ lệ đứng
thứ hai của tỉnh Sơn La và cũng là dân tộc chiếm tỉ lệ rất cao ở các tỉnh miền núi
phía Bắc.
21
Trong quá trình tiếp xúc với S, chúng tôi thấy ở T toát lên sự sự hiền lành,
chất phác, trung thực, thẳng thắn. Đây cũng bản tính đặc thù của người dân tộc
H' Mông, song ở em vẫn có sự mặc cảm và chưa thực sự tự tin. Hết học kỳ I, Kết
quả học tập trung bình chung của em thi lần I là: 4,08, lần II tính cả điểm thi lại
là 4,75 xếp loại yếu em phải thi lại tới 4 môn.
Qua trao đổi với chúng tôi S cho biết, em gặp rất nhiều khó khăn tâm lý
trong học tập, nhưng khác với T, S là sinh viên nam và đã học ở ngoài thị trấn và
thị xã hết cấp II và cấp III nên em cũng có sự mạnh bạo trong cách ứng xử giao
tiếp và có nhiều mối quan hệ khác. Khi chúng tôi tìm hiểu về những sở thích,
hứng thú của S, những người bạn thân của em cho biết trong lớp em là một sinh
viên khá hoạt bát và năng nổ, em biết đánh đàn, thổi kèn môi và thích ca hát, các
hoạt động trong lớp như văn nghệ, thể thao em đều tham gia đầy đủ, một điểm
nữa trong sở thích của em cũng giống như bao các bạn sinh viên dân tộc khác đó
là em rất thích tụ tập bạn bè uống rượu và uống rất nhiều, nhưng uống rượu xong
các em cũng không quậy phá hay gây gổ với những người khác. Các bạn trong
lớp kể lại, có khi lên lớp sáng hôm sau mà S vẫn còn có mùi rượu, điều này cũng
là một nguyên nhân không nhỏ gây ra tình trạng học tập không tốt của S.
3.3.3 Một số biện pháp nhằm khắc phục KKTL trong học tập cho sinh
viên dân tộc thiểu số năm thứ nhất trường CĐSP Sơn La
- Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ
động, tự giác của người học và cũng cần hướng dẫn cụ thể phương pháp học tập,
lĩnh hội tri thức cho sinh viên.
- Nhà trường, khoa cần trang bị thêm các phương tiện học tập đặc biệt là
sách giáo khoa và các tài liệu tham khảo cho sinh viên
- Sinh viên và đặc biệt là đối với các em dân tộc thiểu số cần khắc phục
23
những sinh viên dân tộc thiểu số đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thiệt
thòi.
2. Đối với nhà trường, khoa:Tổ chức cho sinh viên hiểu biết về nhà
trường, nghề nghiệp để từ đó hình thành động cơ học tập, lý tưởng nghề nghiệp,
thế giới quan đúng đắn cho sinh viên.
Tìm hiểu kĩ về các đặc điểm tâm sinh lý của sinh viên năm thứ nhất, trên
cơ sở đó xây dựng kế hoạch, sắp xếp lịch học, lịch thi sao cho phù hợp.
Tổ chức các buổi ngoại khoá thảo luận trao đổi về các phương pháp học
tập để các em có điều kiện học hỏi trao đổi tìm hướng khắc phục những khó
khăn.
Tổ chức các hình thức sinh hoạt văn nghệ có các tiết mục của người dân
tộc để các em sinh viên dân tộc có cơ hội để khẳng định mình, loại bỏ tính tự ti,
không bạo dạn của các em
3. Về phía giảng viên: Cần tìm hiểu kĩ hơn về các đặc điểm tâm sinh lý
của các em sinh viên dân tộc thiểu số từ đó đưa ra những cách thức tác động phù
hợp với các em trên lớp cũng như trong việc quản lý các em đối với giáo viên
chủ nhiệm.
Hướng dẫn các em sinh viên DTTS các phương pháp học cần cụ thể hơn
nữa, kích thích tính tích cực tự giác trong bản thân mỗi em.
Trong khi áp dụng các phương pháp dạy học tích cực cần phải chú tới đặc
điểm đối tượng là các em sinh viên DTTS
24