Nghiên cứu ý chí trong hoạt động học tập của sinh viên khoa tâm lý học đại học khoa học xã hội và nhân văn - Pdf 24

- 1 -

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
=================

NGUYỄN VĂN LƯỢT

NGHIÊN CỨU Ý CHÍ
TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
CỦA SINH VIÊN KHOA TÂM LÝ HỌC
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SỸ TÂM LÝ HỌC
Mã số: 60.31.80
Thời gian qua, chất lượng đào tạo sinh viên ở Trường Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn nói chung, Khoa Tâm lý học nói riêng đã có những
tiến bộ đáng kể. Tuy nhiên, so với yêu cầu, đòi hỏi của thị trường lao động
thì sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành Tâm lý học còn thiếu nhiều kỹ năng
nghề nghiệp cần thiết, chưa đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của xã hội. Sự bất
cập đó do nhiều nguyên nhân, trong đó sinh viên còn thiếu ý chí khắc phục
những khó khăn khách quan, chủ quan vươn lên chiếm lĩnh những tri thức,
kỹ năng, kỹ xảo cần thiết đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của cuộc sống thực tiễn là
một trong những nguyên nhân quan trọng nhất.
Để sinh viên có thể đóng góp được nhiều nhất sức lực và trí tuệ vào
quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá của đất nước thì trước hết sinh viên
phải tự trang bị cho mình những tri thức, kỹ năng, thái độ phù hợp thông qua
hoạt động học tập. Tuy nhiên, hoạt động học tập ở bậc đại học là hoạt động
- 3 -

đòi hỏi sự tự chủ và nỗ lực ý chí rất lớn mà không phải sinh viên nào cũng
có được. Nhìn chung, ý chí trong hoạt động học tập của sinh viên Khoa Tâm
lý học hiên nay còn chưa cao.
Việc nghiên cứu chỉ ra thực trạng ý chí trong hoạt động học tập của
sinh viên Khoa Tâm lý học; các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát
triển ý chí của sinh viên; trên cơ sở đó đề xuất các kiến nghị nhằm phát triển
ý chí của sinh viên trong hoạt động học tập là việc làm có ý nghĩa thiết thực.
Về mặt lý luận, những nghiên cứu về ý chí đã được một số tác giả
nghiên cứu, tuy nhiên, những nghiên cứu về ý chí của sinh viên, đặc biệt là ý
chí của sinh viên trong hoạt động học tập còn chưa được quan tâm nghiên
cứu một cách có hệ thống.
Xuất phát từ những lý do trên đây, chúng tôi cho rằng việc thực hiện
đề tài: “Nghiên cứu ý chí trong hoạt động học tập của sinh viên Khoa Tâm
lý học, Trường ĐHKHXH&NV” là việc làm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
sâu sắc.

- 245 sinh viên hệ chính qui đang học tập tại Khoa Tâm lý học,
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn.
6.2. Phạm vi nghiên cứu
- Do thời gian và điều kiện có hạn nên chúng tôi chỉ tập trung nghiên
cứu ý chí trong hoạt động học tập của sinh viên Khoa Tâm lý học được biểu
hiện ở 05 hành động học tập cụ thể: hành động nghe giảng trên lớp; hành
động tham gia các buổi xêmina; hành động đọc tài liệu chuyên ngành; hành
động NCKH; hành động thực hành/thực tập thực tế của sinh viên.
- Chỉ nghiên cứu sinh viên hệ chính quy của Khoa Tâm lý học,
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.

- 5 -

7. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp phân tích tài liệu.
- Phương pháp phỏng vấn sâu.
- Phương pháp thảo luận nhóm.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.
- Phương pháp thống kê toán học.


- Ph.N.Gônôbôlin nghiên cứu về những phẩm chất tâm lý của người
giáo viên đã nêu lên các phẩm chất tâm lý phù hợp với công việc giảng dạy
và giáo dục học sinh của người giáo viên bao gồm: đạo đức, chí hướng,
hứng thú, năng lực, quá trình nhận thức, hoạt động trí tuệ, tình cảm và phẩm
chất ý chí [10].
- Trong hoạt động thiết kế kỹ thuật có một số tác giả của trường Đại
học tổng hợp Lêningrat (Liên Xô) đã đưa ra 109 yêu cầu về phẩm chất tâm
lý của người kỹ sư thiết kế. Tính độc lập của người kỹ sư trong hoạt động
- 7 -

thiết kế được qui về phẩm chất đặc trưng cho phong cách chung của hành vi
[dẫn theo 30; tr.14].
- Tác giả A.V.Đulôv trong tác phẩm “Tâm lý học tư pháp” trên cơ sở
phân tích những đặc điểm đặc trưng trong hoạt động điều tra của điều tra
viên đã nêu ra các tiêu chuẩn về phẩm chất tâm lý của điều tra viên, đó là: tư
tưởng vững vàng; đạo đức tốt; khả năng tư duy tốt; tính kiên định, tính
cương quyết; tình kiềm chế…Những phẩm chất như tính kiên định, tính
cương quyết, tính kiềm chế là những biểu hiện ý chí của điều tra viên [dẫn
theo 30; tr.15].
- A.G.Côvaliôv trong cuốn “những cơ sở tâm lý học của việc cải tạo
phạm nhân” đã nêu lên những đòi hỏi đối với cán bộ quản giáo. Bên cạnh
việc nhấn mạnh các phẩm chất chính trị tư tưởng, chủ nghĩa nhân văn đối
với con người, thái độ nhân văn đối với phạm nhân; sự tế nhị, khéo léo trong
đối xử; năng lực sư phạm thì một trong những phẩm chất quan trọng góp
phần vào thành công của người cán bộ quản giáo trong hoạt động quản lý cải
tạo phạm nhân là phải có ý chí cứng rắn [dẫn theo 30; tr.16].
Tóm lại, qua nghiên cứu của các nhà Tâm lý học Liên Xô (cũ) chúng
tôi nhận thấy, vấn đề ý chí đã được nghiên cứu với các mức độ sáng tỏ khác
nhau. Các nghiên cứu đều khẳng định, ý chí là một trong những phẩm chất
quan trọng góp phần vào sự thành công của chủ thể hoạt động trong từng

phụ thuộc vào tính chất và mức độ các khó khăn gặp phải trong hoạt động
thể thao. Tác giả khẳng định: “muốn giáo dục ý chí cho vận động viên, một
mặt trong quá trình huấn luyện phải tạo ra các tình huống khó khăn với yêu
cầu và mức độ khác nhau buộc họ phải vượt qua, mặt khác chỉ có tham gia
- 9 -

vào các hoạt động thực tiễn thi đấu thể thao thì ý chí của vận động viên mới
được tôi luyện và thử thách” [22; 37- 39].
Tác giả Nguyễn Mai Lan (2000) trong Luận án tiến sĩ Tâm lý học
mang tên: “Những phẩm chất tâm lý đặc trưng của mã dịch viên” đã nghiên
cứu chỉ ra 22 phẩm chất tâm lý đặc trưng ở người làm nghề mã dịch ở nước
ta. Trong số 22 phẩm chất tâm lý đó có những phẩm chất thể hiện ý chí của
con người như: tính độc lập trong công việc; khả năng kiềm chế không tiết
lộ bí mật thông tin nghề nghiệp…
Trong cuốn “Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm” (2001) các
tác giả đã nghiên cứu chỉ ra 5 phẩm chất của người thầy giáo bao gồm: thế
giới quan khoa học; lý tưởng đào tạo thế hệ trẻ; lòng yêu trẻ; lòng yêu nghề;
một số phẩm chất đạo đức - ý chí của người thầy giáo. Theo các tác giả đối
với người thầy giáo thì những phẩm chất đạo đức - ý chí không thể thiếu bao
gồm: tinh thần nghĩa vụ; thái độ công bằng, thái độ chính trực, tính tình ngay
thẳng, giản dị và khiêm tốn, tính mục đích, tính nguyên tắc, tính kiên nhẫn.
tính tự kiềm chế, biết tự chiến thắng với những thói hư tật xấu…Những
phẩm chất ý chí là sức mạnh để làm cho những phẩm chất và năng lực của
người thầy giáo được hiện thực hoá và tác động sâu sắc đến học sinh [16;
208- 209].
Tác giả Nguyễn Hồi Loan - Đặng Thanh Nga (2004) trong giáo trình
“Tâm lý học pháp lý” khi đề cập đến các phẩm chất của thẩm phán đã cho
rằng: “để người thẩm phán ra được những bản án đúng người, đúng tội,
đúng pháp luật thì ngoài những phẩm chất đạo đức, chuyên môn, người thẩm
phán phải có phẩm chất ý chí. Phẩm chất ý chí của người thẩm phán được

yếu tố đảm bảo sự thành công trong hoạt động nghề nghiệp cụ thể. Ý chí
được điểm đến với tư cách là một trong những phẩm chất tâm lý cần thiết
- 11 -

cho một hoạt động nghề nghiệp nào đó, chưa được coi là đối tượng nghiên
cứu chính. Trong công trình nghiên cứu của chúng tôi lấy ý chí trong hoạt
động học tập của sinh viên Khoa Tâm lý học, Trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn làm đối tượng nghiên cứu chính.
3. Tóm lại, trong những công trình nghiên cứu đã điểm qua chưa có
công trình nào nghiên cứu về ý chí trong hoạt động học tập của sinh viên.
1. 2. Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Khái niệm ý chí
Trước khi xem xét quan điểm của các nhà Tâm lý học về ý chí, chúng
ta cùng nhau tìm hiểu xem các nhà triết học quan niệm như thế nào về ý chí.
1.2.1.1. Khái niệm ý chí trong triết học
1.2.1.1.1. Quan niệm của trường phái ý chí luận trong Triết học (chủ
nghĩa duy tâm)
Ý chí luận phủ nhận quy luật khách quan và tính tất yếu trong tự nhiên
cũng như trong xã hội. Trường phái này cho rằng ý chí con người quyết định
tất cả. Khuynh hướng ý chí luận có từ thời trung cổ, các đại diện tiêu biểu
của trường phái này là Saint Augustin, Duns Scotus và Schopenhauer.
+ Saint Augustin (354- 430) khẳng định, thượng đế có sức mạnh vạn
năng, có quyền lực tuyệt đối. Vậy ý chí con người có tự do trước ý chí và
hành động của thượng đế không? Trên thực tế nếu con người có tự do ý chí
và hành động theo lý trí và tình cảm của mình thì có nghĩa là thượng đế
không thống trị được con người. Saint Augustin không chấp nhận quan điểm
đó, ông cho rằng “ý chí con người là tự do, nhưng chỉ trong giới hạn tiền
định của thượng đế” [37; 220]. Mỗi người đều có thể hành động tuỳ thuộc
vào mình, nhưng cái gì con người làm thì Chúa cũng làm.
+ Duns Scotus (1270- 1308) cho rằng: “ý chí mạnh hơn lý tính, con


Tóm lại, ý chí luận là quan điểm duy tâm trong Triết học về ý chí của
con người. Ý chí luận đã phủ nhận tính khách quan trong việc hình thành và
phát triển các đặc điểm tâm lý của con người nói chung, ý chí nói riêng. Đó
là thứ quan điểm triết học duy ý chí và vô lý trong cách nhìn nhận mối quan
hệ giữa con người với thế giới khách quan. Phủ nhận quy luật khách quan và
điều kiện thực tế trong việc hình thành ý chí của con người.
1.2.1.1.2. Quan niệm của các nhà triết học Macxít về ý chí
“Chủ nghĩa duy vật triết học Macxít phản đối ý chí luận. Cái quyết
định tiến trình của lịch sử không phải là “ý chí”, là một nhân vật kiệt xuất
mà là những quy luật xã hội khách quan. Chỉ có dựa vào sự hiểu biết những
quy luật phát triển khách quan và hành động không trái lại mà phù hợp với
những quy luật ấy thì ý chí con người mới có tự do chân chính, con người
mới có tự do hoạt động” [21; 360].
“Triết học Mác xít khẳng định rằng: cũng như các năng lực tinh thần
khác, con người ta sinh ra không phải đã có sẵn ý chí kiên cường hay bạc
nhược. Ý chí con người chịu sự qui định của những nguyên nhân được xác
định và ý chí được phát triển trong đời sống xã hội và trong hoạt động của cá
nhân” [27; 229].
Trong cuốn Lênin toàn tập, tập 18, khi bàn về tự do và tính tất yếu,
Lênin cho rằng: “tự do ý chí không phải là cái gì khác hơn là năng lực quyết
định trên cơ sở hiểu biết rõ sự việc” [21; 226].
“Ănghen chỉ nói đơn giản rằng tính tất yếu của giới tự nhiên là cái có
trước, còn ý chí và ý thức của con người là cái có sau” [21; 227].
“Khi chúng ta đã biết được quy luật đó, quy luật tác động không lệ
thuộc vào ý chí và ý thức của chúng ta, thì chúng ta trở thành người chủ của
giới tự nhiên” [21; 229].
- 14 -

Tóm lại, các nhà Triết học duy vật Macxít quan niệm rằng: ý chí thực

ở con người. Sở dĩ như vậy là vì ý chí kết hợp trong mình cả mặt năng động
của trí tuệ, lẫn mặt năng động của tình cảm đạo đức” [11; 237].
Trong cuốn “Tâm lý học” do nhóm tác giả Phạm Minh Hạc, Nguyễn
Kế Hào, Nguyễn Quang Uẩn (1991) biên soạn, khái niệm ý chí được định
nghĩa như sau: “ý chí là mặt năng động của ý thức, biểu hiện ở năng lực thực
hiện những hành động có mục đích, đòi hỏi phải có sự nỗ lực khắc phục khó
khăn bên ngoài và bên trong” [13; 121]. Các tác giả cho rằng ý chí là mặt
biểu hiện cụ thể của ý thức trong thực tiễn, cần phải phân biệt mặt nội dung
(hay cường độ) với mặt đạo đức của ý chí.
Tác giả Bùi Văn Huệ (1996) cho rằng: “ý chí là mặt điều chỉnh của ý
thức, là khả năng tâm lý cho phép con người vượt qua những khó khăn và
trở ngại để thực hiện được những hành động có mục đích” [17; 67].
Trong cuốn Tâm lý học đại cương của nhóm tác giả Nguyễn Quang
Uẩn, Trần Hữu Luyến, Trần Quốc Thành (2003) khi bàn đến khái niệm ý chí
cho rằng: “ý chí là một phẩm chất nhân cách, ý chí thể hiện năng lực thực
hiện những hành động có mục đích đòi hỏi phải có sự nỗ lực khắc phục khó
khăn” [12; 167].
Nhìn chung, định nghĩa của các tác giả về ý chí khá thống nhất. Các
tác giả đều cho rằng, ý chí là một phẩm chất nhân cách của con người, ý chí
là mặt năng động của ý thức; là mặt biểu hiện trong thực tiễn của ý thức; ý
chí không phải là cái tự nhiên mà có ở mỗi con người, phẩm chất này được
hình thành trong hoạt động thực tiễn của con người. Các tác giả đều thống
nhất cần phải phân biệt mặt nội dung và mặt đạo đức của ý chí.
Từ sự phân tích trên, chúng tôi cho rằng khái niệm ý chí có thể được
hiểu như sau: ý chí là một phẩm chất của nhân cách, mặt năng động của ý
- 16 -

thức, biểu hiện ở năng lực thực hiện những hành động có mục đích đòi
hỏi phải có sự nỗ lực khắc phục những khó khăn chủ quan và khách
quan.

- Tính tự chủ [11; 242- 246].
Theo các tác giả, “tính tự chủ là khả năng làm chủ được bản thân.
Trong khi duy trì được được sự kiểm soát đầy đủ đối với hành vi của mình,
người tự chủ thắng được những thúc đẩy không mong muốn, những tác động
có tính chất xung động, những xúc động ở trong mình” [11; 246].
Trong cuốn Tâm lý học đại cương, tập 2, do nhóm tác giả Phạm Tất
Dong, Nguyễn Hải Khoát, Nguyễn Quang Uẩn (1995) biên soạn cho rằng
các phẩm chất ý chí cơ bản bao gồm:
- Tính mục đích
- Tính kiên trì
- Tính quyết đoán
- Tính dũng cảm
- Tính độc lập
- Tính tự kiềm chế [07; 91- 99].
Tính tự kiềm chế mà các tác giả trên đề cập chính là tính tự chủ mà
nhóm tác giả Phạm Minh Hạc (sđd) quan niệm, còn tính dũng cảm được
hiểu như sau: “tính dũng cảm là một phẩm chất ý chí quan trọng đi đôi với
tính quyết đoán. Dũng cảm là sự liều lĩnh gan dạ sau khi đã tính đến các
nguy hiểm phải gánh chịu khi thực hiện một hành vi nào đó” [07; 94].
Chúng tôi cho rằng, dũng cảm có thể là sự “gan dạ” nhưng nếu coi dũng cảm
là sự “liều lĩnh” thì không hợp lý vì liều lĩnh là làm việc mà không tính toán
đến hậu quả cũng như không hình dung được các bước thực hiện, các công
cụ, phương tiện để thực hiện hành động.
- 18 -

Trong cuốn Tâm lý học đại cương, do nhóm tác giả Nguyễn Quang
Uẩn, Trần Hữu Luyến, Trần Quốc Thành (2003) biên soạn cho rằng các
phẩm chất ý chí cơ bản bao gồm:
- Tính mục đích
- Tính độc lập

làm chủ quá trình thực hiện mục tiêu mang lại hiệu quả cao nhất. Tính mục
đích mang tính đạo đức rõ nét. Do đó, khi xem xét ý chí của một cá nhân
cũng cần lưu ý xem xét cả mặt đạo đức của mục đích mà cá nhân theo đuổi.
Tính mục đích trong hoạt động học tập của sinh viên được biểu hiện ở việc
đề ra cho mình những mục tiêu phù hợp trong từng tiết học, từng môn học,
từng học kỳ và từng khâu, từng giai đoạn của quá trình học tập; biết tự vạch
ra kế hoạch, lựa chọn công cụ, phương tiện để thực hiện mục tiêu; biết tự
kiểm tra, đánh giá, nhận xét việc thực hiện mục tiêu của bản thân.
+ Tính độc lập: “là phẩm chất ý chí cho phép con người quyết định và
thực hiện hành động theo những quan điểm và niềm tin của mình” [35; 168].
Tuy nhiên, tính độc lập không loại trừ việc cá nhân từ bỏ ý kiến của mình
nghe và làm theo ý kiến của người khác khi ý kiến đó là đúng đắn, phù hợp
với điều kiện khách quan. Tính độc lập hoàn toàn khác với tính bảo thù, trì
trệ. Khăng khăng giữ ý kiến của mình khi biết ý kiến đó là không phù hợp
với việc tự giác từ bỏ ý kiến của mình khi biết ý kiến đó không phù hợp với
điều kiện khách quan là hai việc hoàn toàn khác nhau. Tính độc lập của ý chí
và tinh thần ham học hỏi, tham khảo ý kiến của người khác không hề mâu
thuẫn nhau. Tính độc lập của cá nhân thể hiện của một lối sống biết dựa vào
sức mạnh của mình là chính (biết đi bằng đôi chân của chính mình), không ỷ
lại, dựa dẫm vào người khác nhưng tích cực học tập người khác làm cho tính
độc lập của mình đạt hiệu quả cao hơn.
- 20 -

Tính độc lập trong hoạt động học tập của sinh viên được biểu hiện ở
việc tự chủ vạch ra những mục tiêu phù hợp trên cơ sở đánh giá năng lực
cũng như điều kiện của bản thân. Ở việc cá nhân có khả năng độc lập tiến
hành hoạt động học tập, độc lập đánh giá một cách khách quan kết quả của
hoạt động học tập so với mục tiêu đặt ra lúc đầu. Thể hiện ở chỗ: nếu kết quả
đạt được không phù hợp với mục tiêu ban đầu thì chủ thể của hoạt động học
tập có khả năng xác định lại mục tiêu học tập hoặc xác định lại công cụ/

lao động, học tập, vui chơi…Đối lập với tính dũng cảm là sự bạc nhược và
nhút nhát. Tính dũng cảm là điều kiện để vươn tới mục đích đòi hỏi phải
vượt qua những khó khăn lớn lao, thâm chí nguy hiểm. Dũng cảm trên cơ sở
hiểu biết sâu sắc cách thức tiến hành công việc đang làm, khác hẳn với sự
liều lĩnh một cách ngu xuẩn. Trong hoạt động học tập của sinh viên tính
dũng cảm được thể hiện ở việc dám đấu tranh với các hiện tượng tiêu cực
trong học đường và thi cử: vi phạm nội quy học tập; quay cóp; chạy điểm
v…v…
+ Tính bền bì (hay kiên trì): “phẩm chất này của ý chí được biểu hiện
ở kỹ năng đạt được mục đích đề ra dù con đường đạt tới chúng có lâu dài và
gian khổ đến đâu” [11; 245]. Tính bền bỉ (kiên trì) là khả năng duy trì một
sự nỗ lực đòi hỏi phải huy động sức mạnh cơ bắp và tinh thần trong một thời
gian dài, là cường độ của ý chí được huy động một cách thường xuyên để
đạt được mục đích đề ra. Biểu hiện của tính kiên trì là tinh thần “thắng
không kiêu, bại không nản”. Người có tính kiên trì không bao giờ ngủ quên
trên chiến thắng, không bao giờ hài lòng với những thành công hiện tại, luôn
luôn huy động sức lực và trí tuệ của mình vươn tới mục đích cuối cùng.
Người có tính bền bỉ, kiên trì đứng trước những thất bại tạm thời không hề
nao núng, vẫn tích cực tìm tòi phân tích nguyên nhân thất bại để trên cơ sở
- 22 -

đó tìm biện pháp khắc phục với mục đích cuối cùng là đạt mục đích đã đặt ra
ban đầu. Tính bền bỉ, kiên trì trong hoạt động học tập của sinh viên được
biểu hiện ở sự duy trì một cường độ chú ý cao; một sự khắc phục khó khăn
lâu dài trên con đường đạt tới mục tiêu trong hoạt động học tập- nghiên cứu
của sinh viên: kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng nghiên cứu, những tri thức nói
chung về thế giới tự nhiên, xã hội và con người.
1.2.1.2.3. Chức năng của ý chí
Từ điển Tâm lý học, tác giả Vũ Dũng chủ biên cho rằng: “Ý chí gắn
liền với hành động và thực hiện hai chức năng có liên quan đến nhau: 1.chức

Có thể nhận thấy, chức năng kích thích của ý chí được biểu hiện rõ
hơn ở mỗi chủ thể, dễ quan sát và nghiên cứu hơn. Còn chức năng ức chế là
những ức chế về mặt thần kinh, cảm xúc, kìm hãm hành động, do đó khó
quan sát và trải nghiệm. Nhưng cũng hết sức sai lầm khi cho rằng ở cùng
một chủ thể thì chức năng kích thích đòi hỏi sự nỗ lực ý chí của cá nhân lớn
hơn chức năng ức chế. Tất nhiên, sự phân chia 2 chức năng trên của ý chí là
hết sức tương đối. Trên thực tế 2 chức năng trên của ý chí có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau. Cả hai chức năng này đều cần thiết và quan trọng trong
quá trình cá nhân làm chủ hoạt động của mình.
1.2.1.2.4. Cấu trúc của ý chí
Định nghĩa về ý chí ở phần trên đã chỉ rõ: ý chí là một phẩm chất của
nhân cách, mặt năng động của ý thức, biểu hiện ở năng lực thực hiện những
hành động có mục đích đòi hỏi phải có sự nỗ lực khắc phục những khó khăn
chủ quan và khách quan. Ý chí là sự thể hiện của ý thức trong thực tiễn. Ý
chí mang cấu trúc của ý thức nhưng ý chí không phải là cái đồng nhất với ý
thức.
- 24 -

Các nhà Tâm lý học đều coi ý chí có sức mạnh điều khiển, điều chỉnh
hành vi một cách có ý thức.
Theo chúng tôi, thuật ngữ “năng động” ở đây cần được hiểu như là sự
thể hiện, sự vận hành, sự tác động tích cực của chủ thể trong mối quan hệ
với thế giới xung quanh và với chính bản thân chủ thể. Thông qua ý chí,
hành động ý chí, trí tuệ (nhận thức) và tình cảm đạo đức (tình cảm) của mỗi
chủ thể được biểu hiện một cách rõ rệt. Đồng thời, trí tuệ và tình cảm đạo
đức góp phần hình thành và phát triển ý chí của mỗi cá nhân. Vậy là, ý chí
không phải là một cái gì cao siêu, xa vời, không phải là “ý muốn của thượng
đế” mà thực ra ý chí chính là sự “kết tinh” của trí tuệ (nhận thức) và tình
cảm đạo đức (tình cảm) của mỗi cá nhân, thể hiện ở mặt điều khiển/điều
chỉnh hành vi của nó.

đến việc lựa chọn công cụ, phương tiện; quyết định hành động; việc thực
hiện quyết định hành động và kiểm tra việc thực hiện quyết định… luôn diễn
ra quá trình đấu tranh động cơ, mục đích ở mỗi chủ thể. Việc lựa chọn động
cơ, phương tiện đó có mâu thuẫn với mục đích, lợi ích, có ảnh hưởng đến
quyền lợi của người khác hay không…? Nếu một cá nhân không có tình cảm
đạo đức mạnh mẽ thì khả năng lựa chọn động cơ, mục đích của bản thân
mình mâu thuẫn với lợi ích của người khác rất có thể xảy ra. Bởi vậy, ý chí
thể hiện rất rõ “tính năng động” của tình cảm đạo đức của mỗi cá nhân.
- Mặt điều khiển/điểu chỉnh hành vi: ý chí điều khiển, điều chỉnh
hành vi của con người. Giúp con người đạt được động cơ, mục đích mà họ
đặt ra trong các hoạt động của mình trong cuộc sống.
Ý chí điều khiển, điều chỉnh hành vi của con người, là động lực để
con người thực hiện thành công những hoạt động đòi hỏi phải có sự nỗ lực ý
chí khắc phục khó khăn, gian khổ.

Trích đoạn 33.5 129 52.7 34 13.9 2.24 6 Người khác thường quá đề Tôi tham gia xêmina để được bạn bè, th ầy/cô cho là chăm chí thể hiện trong hành động NCKH 31.9 75 54.3 19 13.8 2.1 84 7 Thời gian dành cho nghiên 31.3 71 53.0 21 15.7 2.1 65 3 Không có đủ những phương
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status