ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
NGUYỄN TUẤN ANH
HOÀN THIỆN CHẾ ĐỘ THANH QUYẾT TOÁN TÀICHÍNH
THEO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC THUỘC LĨNH VỰC
KHOA HỌC XÃ HỘI NHÂN VĂN
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI
VÀ NHÂN VĂN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Hà Nội, 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
NGUYỄN TUẤN ANH
HOÀN THIỆN CHẾ ĐỘ THANH QUYẾT TOÁN TÀICHÍNH
THEO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC THUỘC LĨNH VỰC
KHOA HỌC XÃ HỘI NHÂN VĂN
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI
VÀ NHÂN VĂN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI)
10. Cấu trúc của luận văn -------------------------------------------------------- 20
CHƯƠNG 1 --------------------------------------------------------------------------- 22
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN CHẾ ĐỘ THANH QUYẾT
TOÁN TÀI CHÍNH THEO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỐI VỚI HOẠT
ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC THUỘC ----------------------------------- 22
LĨNH VỰC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --------------------------- 22
1.1. Một số khái niệm cơ bản ---------------------------------------------------- 22
1.2. Những vấn đề đặt ra trên phương diện lý luận --------------------------- 28
1
Kết luận Chương 1 ---------------------------------------------------------------- 31
CHƯƠNG 2 --------------------------------------------------------------------------- 33
THỰC TRẠNG CHẾ ĐỘ THANH QUYẾT TOÁN TÀI CHÍNH TRONG
HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÓ
SỬ DỤNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, --------------- 33
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI) --------------------------------------------------- 33
2.1. Thực trạng chế độ thanh quyết toán tài chính trong hoạt động nghiên
cứu khoa học ở các trường đại học có sử dụng Ngân sách nhà nước------- 33
2.1.1. Thực trạng chế độ thanh quyết toán tài chính trong hoạt động
nghiên cứu khoa học có sử dụng Ngân sách nhà nướctừ các văn bản --- 33
2.1.2. Thực trạng chế độ thanh quyết toán tài chính trong hoạt động
nghiên cứu khoa học ở các trường đại học có sử dụng Ngân sách nhà
nước------------------------------------------------------------------------------- 42
2.2. Quá trình xây dựng và thực hiện chế độ tự chủ thanh quyết toán tài
chính trong hoạt động nghiên cứu khoa học của Trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội (2002 -2014)--------------- 49
2.2.1. Hoạt động nghiên cứu khoa học trong những năm qua của Trường
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội ------ 49
bày tỏ sự trân trọng và lòng biết ơn sâu sắc của mình đến tất cả mọi người –
những cá nhân và tổ chức đã trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần giúp cho bản
luận văn này được hoàn thành.
Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Tuấn Anh
4
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT
CP
Chính phủ
HN
Hà Nội
KH&CN
Khoa học và Công nghệ
KHXH
Khoa học Xã hội
NĐ
từ khoa học tự nhiên, công nghệ… đến khoa học xã hội và nhân văn đang dần
tự khẳng định vị trí của mình trong nền kinh tế tri thức ngày một phát triển để
phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa, từng bước hòa nhập với
trình độ khoa học kỹ thuật chung của khu vực và thế giới. Sự đóng góp to lớn
đó đã được Đảng, Nhà nước ghi nhận: “Khoa học xã hội và nhân văn đã cung
cấp luận cứ cho việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng và chính
sách, pháp luật của Nhà nước; góp phần xây dựng hệ thống quan điểm phát
triển đất nước; khẳng định lịch sử hình thành và phát triển dân tộc, chủ
quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, bảo tồn các giá trị và bản sắc văn hóa
Việt Nam”.[9; 74-75]. Hoạt động khoa học và công nghệ trong hệ thống các
trường đại học, nhất là nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế của các đại
học trọng điểm/đầu ngành đã đóng góp một phần quan trọng vào thành tích
chung đó.
Nghiên cứu khoa học là một trong hai chức năng cơ bản của các trường
đại học Việt Nam nói chung. Đặc biệt, đối với các trường đại học trọng
điểm/tốp đầu/đầu ngành thì hoạt động khoa học và công nghệ có vị trí quan
trọng, mang tính chiến lược và tạo ra những yếu tố cho sự phát triển bền vững
trong đào tạo và nghiên cứu. Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập, hoạt động
khoa học và công nghệ của các trường đại học đã không ngừng được mở rộng
về phạm vi, hình thức hoạt động, nâng cao về chất lượng và hiệu quả khoa
học, đóng góp một phần rất quan trọng vào sự nghiệp đào tạo và phục vụ yêu
cầu phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa…của xã hội.
Đối với các trường đại học, hoạt động khoa học và công nghệ là một
7
trong những nhiệm vụ quan trọng. Nhưng, với các trường đại học trọng điểm,
đầu ngành thì hoạt động này không những quan trọng mà còn có quan hệ trực
tiếp đến sự phát triển và thương hiệu của nhà trường.
Hoạt động khoa học và công nghệ trong trường đại học vừa có những
nhập của đất nước. Nhưng, khi vận dụng các văn bản đó vào công tác quản lý
chung, nhất là việc thanh quyết toán tài chính trong hoạt động nghiên cứu
khoa học, đặc biệt là đối với nghiên cứu khoa học thuộc lĩnh vực khoa học xã
hội và nhân văn giai đoạn hiện nay cho thấy vẫn còn nhiều vấn đề cần đặt ra,
cụ thể như sau: Một số định mức trong văn bản của Nhà nước qui định còn
thấp so với giá cả thực tế, ví dụ định mức dịch tài liệu, định mức đi khảo sát
nghiên cứu ở nước ngoài, định mức xây dựng các chuyên đề mức 1 và mức
2… Mặc dù theo văn bản của Nhà nước đã cho chủ trì đề tài tự chủ các mức
chi, nhưng cơ quan cấp trên lại khống chế tổng kinh phí cho một đề tài, nên
chủ trì đề tài không thể nâng mức chi lên được.
Các văn bản qui định đối với hoạt động khoa học và công nghệ do Nhà
nước đã ban hành là cơ sở pháp lý, là khung tài chính áp dụng cho hoạt động
nghiên cứu khoa học của mọi lĩnh vực khoa học nói chung, nên không chứa
đựng được hết các nội dung chi và mức chi đối với tất cả các đề tài ở mọi lĩnh
vực nên trong quá trình xây dựng dự toán kinh phí và cơ quan cấp trên thẩm
định kinh phí của đề tài cũng gặp nhiều khó khăn.
Năm 2012, năm đánh dấu bước chuyển biến mới về khoa học và công
nghệ bằng sự ra đời của một nghị quyết chuyên đề về phát triển khoa học và
công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá trong điều kiện
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế (Nghị
quyết số 20-NQ/TW, ngày 01-11-2012 - Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản
Việt Nam lần thứ 6, khóa XI). Nghị quyết này đã chỉ ra một số hạn chế của cơ
chế quản lý hoạt động khoa học và công nghệ những năm qua, trong đó một
điểm đáng chú ý là: “Cơ chế quản lý hoạt động khoa học và công nghệ chậm
được đổi mới”[9; 76]. Và, một vấn đề cấp bách và cũng là nhiệm vụ căn bản
được đặt ra là:“Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ về tổ chức, cơ chế quản
lý, cơ chế hoạt động, công tác xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển khoa
9
Cộng hoà Liên bang Đức, Anh Quốc, Italia, Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore, Đài
Loan, Thái Lan,..về đầu tư tài chính cho hoạt động KH&CN, những nhận thức và
quan niệm về vai trò của nghiên cứu khoa học và công nghệ, tầm quan trọng của
nguồn lực tài chính, cơ cấu nguồn đầu tư tài chính và trình bày các biện pháp thực
hiện đầu tư tài chính cho khoa học và công nghệ trong các trường đại học. Và,
chính những thông tin, kết quả được công bố từ các nguồn tài liệu trên đã được tác
giả luận văn kế thừa và vận dụng trong quá trình thực hiện chủ đề trên.
Ở Việt Nam, những năm gần đây có một số công trình nghiên cứu được
công bố dưới dạng sách xuất bản đề cập đến những vấn đề chung về lý luận
và phương pháp luận khoa học, về khoa học chính sách và luật khoa học và
công nghệ, về cơ chế quản lý hoạt động khoa học, trong đó có vần đề quản lý
tài chính cho các lĩnh vực khoa học và công nghệ nói chung. Cụ thể là: Luật
Khoa học và Công nghệ(2003, NXB CTQG HN); Lý luận và phương pháp
luận khoa học (Vũ Cao Đàm, 2009, NXB ĐHQG HN); Giáo trình Khoa học
chính sách (Vũ Cao Đàm, 2010, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội)...
Về các đề tài nghiên cứu, có thể nêu một số công trình thuộc đề tài
nghiên cứu cấp Bộ, như: Hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính đối với hoạt
động KH&CN trong các Trường Đại học Việt Nam (đề tài cấp Bộ, mã
số:B2003.38.76TĐ, Mai Ngọc Cường làm chủ nhiệm); Hoàn thiện cơ chế
quản lý tài chính đối với các Trường Đại học công lập ở Việt Nam (đề tài cấp
Bộ, mã số: B2005.38.125, Phạm Hồng Chương, 2005); Đổi mới tổ chức và
quản lý hoạt động Nghiên cứu Khoa học kinh tế phục vụ đào tạo và thực tiễn
(Đề tài cấp Bộ B2003.38.70,Vũ Duy Hào làm chủ nhiệm).Gần đây nhất, năm
2011, đề tài trọng điểm cấp Đại học Quốc gia Hà Nội đã được thực hiện với
chủ đề: “Nghiên cứu, tổng kết, đánh giá đào tạo và hoạt động khoa học khoa
học xã hội & nhân văn ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay (Qua nghiên cứu và
khảo sát trường hợp Đại học Văn khoa, Đại học Tổng hợp Hà Nội và Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội), mã số: QGTĐ.12 –
17, doPGS.TS Phạm Xuân Hằng làm Chủ nhiệm đề tài.
"đong đếm" (Minh Nguyệt, Tạp chí Hoạt động khoa học, 9/2006); Đổi mới
chính sách tài chính đối với KH&CN (Nguyễn Thị Anh Thư, Tạp chí Hoạt
12
động khoa học, 3/2006); Quản lý, cấp phát, thanh toán kinh phí sự nghiệp
khoa học giai đoạn 2001-2005, những bất cập và kiến nghị (Trần Xuân Trí,
Tạp chí Kiểm toán, 9/2006);... Tạp chí Hoạt động Khoa học, số tháng 10.2012
(641): Những vấn đề mới trong xây dựng đề tài, dự án khoa học &công nghệ
cấp Nhà nước và đổi mới cơ chế tài chính trong nghiên cứu, triển khai của
Trần Ngoc Hiên; Mô hình đại học nghiên cứu ở Việt Nam (Nguyễn Thị Lê
Hương, Đào Hiền Chi, Tạp chí Hoạt động Khoa học, số tháng 10.2012 (641).
Gần đây nhất, trong Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, số 14-2013
của Bộ Khoa học và Công nghệ đã cập nhật một số nội dung về Luật Khoa
học và Công nghệ năm 2013 qua cuộc trao đổi và phỏng vấn Thứ trưởng Bộ
Khoa học và Công nghệ Nghiêm Vũ Khải, trong đó có đề cập đến cơ chế tài
chính cho Khoa học và Công nghệ; Bài Tăng cường năng lực Nghiên cứu
Khoa học của đại học (GS.TSKH.NGND Nguyễn Thiện Phúc, Tạp chí Khoa
học và Công nghệ Việt Nam, số 2+3 - 2013), Đổi mới cơ chế tài chính cho
hoạt động Khoa học và Công nghệ(Liêu Thị Ngọc Sương, Tạp chí Khoa học
và Công nghệ Việt Nam, số 2+3 - 2013); Đổi mới cơ chế quản lý chi tiêu
ngân sách Nhà nước cho Khoa học và Công nghệ(Đinh Thị Nga, Tạp chí
Khoa học và Công nghệ Việt Nam, số 14-2013).Các công trình trên đã nêu
những nội dung cơ bản sau: Khẳng định vai trò, tầm quan trọng và sự đóng
góp của các trường đại học vào sự nghiệp phát triển khoa học và công nghệ
nước nhà, nhất là từ sau đổi mới đến nay; nêu ra những vấn đề xung quanh
việc đổi mới nhận thức mối quan hệ giữa “đội quân thứ nhất” - lực lượng
khoa học ở các trường đại học với việc thực hiện phát triển khoa học và công
nghệ hiện nay; Về cơ chế tài chính trong hoạt động khoa học và công nghệ
nói chung, chế tài quản lý tài chính theo chế độ ngân sách nhà nước cho lĩnh
các thông tư liên bộ: Thông tư liên tịch số 93/2006/TTLT-BTC-BKHCN ngày
04-10-2006 về việc “Hướng dẫn chế độ khoán kinh phí của đề tài, dự án Khoa
học và Công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước”, “Thông tư liên tịch số
44/2007/TTLT-BTC-BKHCN ngày 07-5-2007 về việc “Hướng dẫn định mức
xây dựng và phân bổ dự toán kinh phí đối với các đề tài, dự án Khoa học và
Công nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước” và Thông tư số 97/2010/TT-BTC,
14
ngày 06-7-2010 của Bộ Tài chính Quy định chế độ công tác phí, chế độ chi tổ
chức các cuộc hội nghị đối với các cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp
công lập.
Ngày 18-6-2013, Quốc hội đã thông qua Luật Khoa học và Công nghệ
(Luật số 29/2013/QH13). Bộ luật này được đánh giá là lời giải cho bài toán
quản lý hoạt động và phát triển khoa học và công nghệ của đất nước.Bộ Luật
đã đề cập đến những vấn đề như: Những đề tài, chương trình khoa học và
công nghệ phải có sản phẩm khoa học cuối cùng được sử dụng/xã hội hóa, có
địa chỉ ứng dụng rõ ràng. Nghĩa là trước khi phê duyệt, trong thuyết minh đề
tài phải nêu ra nghiên cứu này được ứng dụng vào lĩnh vực gì, đơn vị nào ứng
dụng, để ứng dụng thì cần bố trí nguồn lực và kinh phí bao nhiêu.
Những nội dung cơ bản của các tài liệu trên là cơ sở lý luận và pháp lý
của nhà nước về hoạt động khoa học và công nghệ đối với chúng tôi trong quá
trình thực hiện luận văn.
Những vấn đề được quan tâm là: Về quản lý tài chính trong hoạt động
khoa học và công nghệ nói chung, trong đó có những định hướng, cơ chế,
khung pháp lý trong quản lý liên quan trực tiếp đến chế độ thanh quyết toán
tài chính trong nghiên cứu khoa học được sử dụng ngân sách nhà nước.
Gần đây nhất, Nghị quyết 6 (khóa XI) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng
đã chỉ ra những bất cập trong quản lý hoạt động khoa học và công nghệ, cụ
thể là: Cơ chế quản lý hoạt động khoa học và công nghệ chậm được đổi mới,
giảm nhẹ các thủ tục thuần túy hành chính trong chế độ thanh quyết toán; và
đảm bảo quản lý và sử dụng các nguồn tài chính một cách hiệu quả, phục vụ
tốt cho sự nghiệp giáo dục và nghiên cứu khoa học hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khảo sát và phân tích các văn bản pháp quy của Nhà nước về quản lý
khoa học và công nghệ, trong đó chú trọng đến mảng văn bản quy định về chế
độ tài chính, quản lý ngân sách, xây dựng dự toán và chế độ thanh quyết toán
tài chính đối với các nhiệm vụ hoạt động khoa họccông nghệ trong những
năm qua (từ 2002 đến nay). Trên cơ sở đó, làm rõ thêm những bất cập trong
16
cơ chế quản lý tài chính hiện nay đối với nghiên cứu khoa học của các ngành
khoa học có tính đặc thù ( như lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn).
- Khảo sát và đánh giá thực trạng công tác quản lý tài chính đối với
hoạt động khoa học, đặc biệt là chế độ thanh quyết toán tài chính trong nghiên
cứu khoa học của một trường đại học chuyên ngành về lĩnh vực khoa học xã
hội và nhân văn hiện nay (trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại
học Quốc gia Hà Nội). Trên cơ sở đó để có thêm cơ sở thực tiễn xác định sự
phù hợp, hay không phù hợp và những vấn đề cần bổ sung, chỉnh sửa trong
các văn bản quản lý tài chính cho hoạt động khoa học công nghệ hiện nay,
nhất là đối với các ngành khoa học có tính đặc thù trong trường đại học.
- Từ kết quả nghiên cứu của hai nhiệm vụ trên, Luận văn đưa ra những
giải pháp chủ yếu nhằm góp phần hoàn thiện chếđộ thanh quyết toán tài chính
đối với hoạt động khoa học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn nói
chung và hoạt động khoa học đó trong các trường đại học nhằm không ngừng
nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệtrong lĩnh vực khoa học
xã hội và nhân văn có sử dụng Ngân sách nhà nước ở các trường đại học.
4. Phạm vi nghiên cứu
4.1. Phạm vi nội dung nghiên cứu
Đối với các đơn vị thực hiện: Thực hiện tốt các qui định của nhà nước,
nhưng trong quá trình triển khai thực hiện phải chủ động đề xuất với các cơ
quan có thẩm quyền về các văn bản qui định nội dung chi, mức chi và phương
thức thanh toán không còn phù hợp, không đảm bảo phục vụ tốt cho hoạt
động nghiên cứu khoa học.
Để thực hiện các nội dung của giả thuyết nghiên cứu, chúng tôi xây
dựng bộ câu hỏi gồm các câu hỏi, nội dung có liên quan đến chế độ thanh
quyết toán tài chính đối với các hoạt động nghiên cứu khoa học thuộc lĩnh
vực khoa học xã hội và nhân văn hiện nay; về sản phẩm khoa học cuối cùng
của nhiệm vụ khoa học (đề tài, dự án, chương trình...); về sự gắn kết giữa 3
yếu tố trong quản lý hoạt động khoa học công nghệ: Kinh phí khoán - sản
18
phẩm cuối cùng - hiệu quả ứng dụng; về quyền hạn và trách nhiệm của tập thể,
cá nhân đối với chất lượng của sản phẩm khoa học cuối cùng trước khi thanh
quyết toán tài chính...để điều tra, thu thập ý kiến, quan điểm của các nhà quản
lý, giảng viên, nhà khoa học hiện đang làm việc tại Trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.
7. Phương pháp chứng minh giả thuyết
Để chứng minh và làm rõ các giả thuyết trên, tác giả của luận văn sử
dụng 3 phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
- Phương pháp tiếp cận và phân tích tài liệu: Là phương pháp chủ yếu
được sử dụng trong quá trình khảo sát các văn bản về quản lý tài chính hoạt
động khoa học cộng nghệ của Nhà nước từ năm 2002 đến nay; phân tích các
tài liệu có đề cập đến việc thực hiện công tác quản lý tài chính trong hoạt
động khoa học từ năm 2002 đến nay của Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội...
- Phương pháp tiếp cận, khảo sát trường hợp nghiên cứu đại diện, điển
hình trong môi trường đại học thuộc lĩnh vực nghiên cứu khoa học xã hội và
- Về mặt thực tiễn: Luận văn đề xuất giải pháp hoàn thiện chế độ thanh
quyết toán tài chính theo kết quả nghiên cứu cuối cùng đối với hoạt động
nghiên cứu khoa học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn; hạn chế
những bất cập để giảm nhẹ các thủ tục thuần túy hành chính trong chế độ
thanh quyết toán; và đảm bảo quản lý và sử dụng các nguồn tài chính một
cách hiệu quả, phục vụ tốt cho sự nghiệp giáo dục và nghiên cứu khoa học
hiện nay trong trường đại học, nhất là các đại học đầu ngành, nghiên cứu khoa
học cơ bảnthuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. Đồng thời, có thể ứng
dụng các giải pháp trên để góp phần hoàn thiện cơ chế thanh quyết toán tài
chính trên các văn bản pháp quy nhà nước đối với hoạt động khoa học và
công nghệ có sử dụng Ngân sách nhà nước trong tình hình hiện nay.
10. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục
20
nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận của việc hoàn thiện chế độ thanh quyết toán tài chính
theo kết quả nghiên cứu đối với hoạt động nghiên cứu khoa học thuộc lĩnh
vực khoa học xã hội và nhân văn
Chương 2. Thực trạng chế độ thanh quyết toán tài chính trong hoạt
động nghiên cứu khoa học của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,
Đại học Quốc gia Hà Nội
Chương 3. Những giải pháp chủ yếu nhằm góp phần hoàn thiện chế độ
thanh quyết toán tài chính theo kết quả nghiên cứu đối với hoạt động khoa
học và công nghệ thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn.
21
những vấn đề cơ bản của Tài chínhlà: Các quan hệ tài chính, tổng hợp các
mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính
thông qua việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền;Phân phối là một trong
những chức năng cơ bản vàlà tổng thể các hoạt động thu chi bằng tiền do nhà
nước tiến hành. Cho nên,khi xây dựng cơ chế quản lý tài chính cho bất kỳ
một hoạt động nào trong xã hội, nhất là hoạt động đó được thụ hưởng ngân
sách công thì phải coi đó là nền tảng lý luận, là những nội dung và nguyên tắc
cơ bản nhất trong quá trình thực hiện.
Thứ hai, về Ngân sách nhà nước(NSNN).
Luật Ngân sách nhà nước của Việt Nam đã được Quốc hội nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 16-12-2002 định nghĩa: Ngân
sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã
được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong
một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước.
Thứ ba, vềQuyết toán Ngân sách nhà nước.
Quyết toán Ngân sách nhà nước là phản ánh, đánh giá và kiểm tra lại
quá trình lập và chấp hành NSNN. Quyết toán NSNN được thực hiện tốt có ý
nghĩa quan trọng trong việc nhìn nhận lại quá trình chấp hành ngân sách qua
một năm, rút ra những bài học kinh nghiệm thiết thực bổ sung cho công tác
lập ngân sách cũng như chấp hành ngân sách ở những chu trình tiếp theo.
Quyết toán NSNN là khâu cuối cùng trong một chu trình ngân sách
nhằm tổng kết, đánh giá việc chấp hành NSNN cũng như các chính sách tài
chính ngân sách của một hoạt động.... Với hàm nghĩa đó, quyết toán NSNN
trở thành một khâu quan trọng, là nhiệm vụ của nhiều cơ quan, đơn vị từ đơn
vị sử dụng ngân sách, cơ quan quản lý ngân sách, cơ quan kiểm tra, kiểm soát
ngân sách cho đến cơ quan quyền lực tối cao của mỗi quốc gia.
Thứ tư, về Cơ chế tài chính.
Cơ chế tài chính là tổng thể các biện pháp, hình thức tổ chức quản lý
23