Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất khoa Giáo dục - Học viện Quản lý Giáo dục - Pdf 26

LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô Học viện Quản lý giáo dục và các
thầy cô khoa Giáo dục đã dìu dắt, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập tại trường.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Th.s. Đặng Thị Hoàng Liên giảng viên
khoa Giáo dục đã nhiệt tình dành thời gian quan tâm giúp đỡ tôi hoàn thành khóa
luận tốt nghiệp.
Đồng thời tôi cũng xin cảm ơn gia đình, bạn bè và các bạn sinh viên năm
thứ nhất– Khoa Giáo dục đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình làm khóa luận tốt
nghiệp này.
Mặc dù đã dành thời gian, tâm huyết nhưng trong khóa luận tốt nghiệp của
tôi vẫn còn nhiều hạn chế sai sót, kính mong quý thầy cô và các bạn góp ý để luận
văn của tôi có thể hoàn chỉnh hơn.

Sinh viên Đặng Văn Vân
MỤC LỤC
1
DANH MỤC ĐỒ THỊ 5
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 4
CHƯƠNG 2 26
TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 51
1. Kết luận 51
2. Kiến nghị 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
PHỤ LỤC 58


lý trong hoạt
động
học tập của sinh viên năm thứ nhất khoa Giáo dục
HVQLGD
6
Bảng 3.6: Thực trạng thời gian học tập của sinh viên năm thứ nhất khoa
Giáo dục- HVQLGD

DANH MỤC ĐỒ THỊ
STT BIỂU ĐỒ
1
Biểu đồ 3.1: Thực trạng hiệu quả hoạt động học tập do ảnh hưởng
của các khó khăn tâm lý ở sinh viên năm thứ nhất khoa Giáo dục
HVQLGD
2
Biểu đồ 3.2: Tổng quan thực trạng các biện pháp khắc phục khó khăn
tâm lý trong hoạt
động
học tập của sinh viên năm thứ nhất khoa Giáo
dục HVQLGD
3
Biểu đồ 3.3: Thực trạng thời gian học tập của sinh viên năm thứ nhất
khoa Giáo dục- HVQLGD

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong cuộc sống, con người muốn tồn tại và phát triển phải tham gia vào các
hoạt động, bằng hoạt động và thông qua hoạt động nhân cách con người được hình
thành và phát triển. Tùy vào mục đích, nhiệm vụ, vị trí và hoàn cảnh khác nhau mà
mỗi cá nhân, trong hoạt động của mình sẽ gặp phải những khó khăn nhất định đòi

sức cần thiết và cấp bách.
Trong thời gian qua, các nhà tâm lý học thường tập trung nhiều vào các
nghiên cứu về sự thích ứng với hoạt động học tập, những trở ngại tâm lý trong giao
tiếp của sinh viên. Vấn đề khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên
năm thứ nhất ít được quan tâm nghiên cứu.
Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã lựa chọn và nghiên cứu đề tài: “Khó
khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất khoa Giáo
dục - Học viện Quản lý Giáo dục”
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu một số khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên năm
thứ nhất khoa Giáo dục, Học viện Quản lý Giáo dục. Từ đó đề xuất một số biện
pháp nhằm giảm bớt những khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất khoa
Giáo dục - Học viện Quản lý Giáo dục
3.2 Khách thể nghiên cứu:
- 200 Sinh viên năm thứ nhất khoa Giáo dục - Học viện Quản lý Giáo dục
4. Giả thuyết nghiên cứu
Đa số sinh viên năm thứ nhất trường khoa Giáo dục Học viện Quản lý Giáo
dục gặp phải khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập. Nếu có các biện pháp tích
cực phù hợp tác động hỗ trợ sẽ giúp cho sinh viên năm thứ nhất khoa Giáo dục Học
viện quản lý Giáo dục giảm bớt những khó khăn tâm lý đó.

2
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận của đề tài như: khó khăn tâm lý, hoạt động học tập,
hoạt động học tập của sinh viên, khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh
viên năm thứ nhất.
- Khảo sát thực trạng khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên

về khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập
trong và ngoài
nước.
1.1.1. Ở nước
ngoài
Đối với con người, học tập là phương thức để tiếp thu tri thức, kỹ năng
nhằm
mục
đích nhận biết, tác động, cải tạo thế giới hiện thực, phũc vụ cho lợi
ích của con người.
Lịch
sử loài người đã chứng minh, chỉ thông qua con đường
học tập, thì những di sản văn hoá
vật
chất, tinh thần từ thế hệ trước mới được lưu
truyền cho thế hệ sau và cũng nhờ đó mà
những
giá trị này mới còn tồn tại. Tuy
nhiên, học tập không phải là một hoạt động đơn giản.
Trong
quá trình biến tri thức
của nhân loại thành vốn kinh nghiệm riêng của cá nhân con người
đã
gặp không
ít khó khăn, trong đó có nhưng khó khăn về mặt tâm
lý.
Khi bàn về khó khăn tâm lí trong học tập, tác giả A.V.Pêtrốpxki hướng đến
đối
tượng
là khó khăn tâm lý của trẻ em khi đi vào lớp một. Ông chia những khó

rằng, đứng trước ngưỡng cửa
lớp
một trẻ em gặp rất nhiều khó khăn tâm lý.
Chính những khó khăn này làm cản trơ tới
sự
thích ứng với hoạt động học tập
của trẻ, làm trẻ sợ học, không muốn đến trường và kết
quả
học tập không
cao.

Tóm lại, khó khăn tâm lý trong hoc tập là một hiện tượng tâm lý phức
tạp
nhưng
được ít các nhà tâm lý học nước ngoài quan tâm nghiên cứu. Mặc
dù trong công
trình
nghiên cứu của mình, các tác giả đã có những đóng góp
nhất định trong việc phát hiện
va
nêu ra một số khó khăn tâm lý, đồng thời chỉ ra
nguyên nhân của những khó khăn tâm lý
đó.
Tuy nhiên đối tượng mà các công
trình nghiên cứu này hướng tới chủ yếu là những
khó
khăn tâm lý của trẻ vào
lớp một, đồng thời họ cũng chưa nêu được định nghĩa cũng
như
vạch ra bản

một số khó khăn tâm lý cụ thể mà
trẻ lớp một phải vượt
qua:
- Trẻ phải rời bỏ cuộc sống thoải mái, đa dạng, vui nhộn, hoạt động tùy hứng

mẫu
giáo và khép mình vào kỷ luật nghiêm khắc của lớp học phổ
thông.

5
- Trẻ gặp khó khăn trong quan hệ với giáo
viên
- Trẻ bị “vỡ mộng” khi vào học lớp một vì sự hân hoan hồi hộp chờ đón
những
điều
hấp dẫn được thay bằng những điều khác xa với tưởng tượng của trẻ.
Tác giả Nguyễn Thanh Sơn, trong bài viết “Những khó khăn của học sinh
miền
núi
khi học tác phẩm văn học cổ điển Việt Nam” [26], đã phân tích những
khó khăn của của
học
sinh miền núi khi học tác phẩm văn học cổ điển Việt Nam
và chỉ ra những khó khăn mà
học
sinh gặp phải
là:
- Hoàn cảnh giao tiếp thông tin của học sinh miền núi bị hạn
chế.
- Vốn từ ngữ của học sinh miền núi còn thiếu và

- Khó khăn khi phải đến
trường.
Tác giả Nguyễn Xuân Thức, trong bài viết “Các nguyên nhân dẫn đến khó
khăn
tâm
lý của học sinh đi học lớp một” đã nêu ra các nguyên nhân cụ thể
sau:
- Các nguyên nhân chủ
quan:
+ Trẻ chưa hiểu rõ nội
quy.
+ Trẻ được chuẩn bị quá kĩ trước khi tới
trường.
+ Trẻ không được chuẩn bị tâm lý sẵn sàng đi
học.
+ Do tính cách của
trẻ.

6
+ Do trẻ chưa đủ tuổi đến
trường.
+ Do trẻ mắc một số bệnh bẩm
sinh.
- Các nguyên nhân khách
quan:
+ Nhóm nguyên nhân thuộc về gia
đình
+ Nhóm nguyên nhân thuộc về nhà
trường
+ Nhóm nguyên nhân thuộc về xã

nhưng vấn đề này vẫn còn ít được quan tâm nghiên cứu. Các công trình
nghiên cứu về
vấn
đề này như đã nêu trên ít nhiều đã xây dựng được cơ sở lý
luận và đưa ra những dữ
kiện
thực tiễn. Tuy nhiên, khách thể nghiên cứu trong
các công trình trên còn giới hạn, chủ
yếu
tập trung vào học sinh mà chưa chú ý
đến sinh viên, đặc biệt là sinh viên năm thứ
nhất,
những người vừa rời khỏi
ghế nhà trường phổ thông để bước vào một môi trường học
tập
mới. Ngoài ra,
khi nghiên cứu về vấn đề khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập, các
công
trình
trên chỉ tập trung nghiên cứu một cách chung chung, khái quát mà chưa đi sâu tìm
hiểu
khó khăn tam lý biểu hiện một cách cụ thể trong hoạt động học
tập.

7
1.2 Cơ sở lý luận
1.2.1. Hoạt động học tập của sinh viên
1.2.1.1 Hoạt động
Để có thể tồn tại và phát triển đến những thành tựu rực rỡ như ngày nay
con

khách
thể hoá chủ thể. Về bản chất, hoạt động của con
người khác hoàn toàn so với hoạt động
của
loài vật thể hiện ở bốn đặc điểm cơ
bản sau: tính đối tượng, tính chủ thể, tính gián tiếp

tính mục
đích.
1.2.1.2. Hoạt động học
tập
a. Khái niệm hoạt động học
tập
Đối với con người thì học tập là một trong những hình thức hoạt động
chính,
không
thể thiếu nhằm tiếp thu, lĩnh hội những thành tựu, tri thức, kinh
nghiệm xã hội – lịch sử
của
xã hội loai người đã được tích lũy qua nhiều thế
hệ. Trong thực tiễn, con người có
nhiều
cách học khác nhau để tiếp thu kinh
nghiệm xã hội, nhưng thông thường học tập
được
thường có hai dạng cơ bản:
học ngẫu nhiên và học có mục
đích.
- Học ngẫu nhiên: Đây là dạng học được thực hiện một cách không chủ định.
Kết

mục
đích
trực tiếp và từ nhiệm vụ giảng dạy được biểu hiện ở hình thức tâm lý bên
ngoài và bên
trong
của hoạt
động.
Do cách tiếp cận
khác
nhau nên hoạt động học tập cũng được các tác giả
nhấn mạnh ở những khía cạnh khác
nhau
nhưng họ vẫn gặp nhau ở một điểm
chung đó là xem hoat động học tập là hoạt động có
mục
đích tự giác, có ý thức về
động cơ và trong đó diễn ra quá trình nhận thức, đặc biệt là
quá
trình tư
duy.
Hoạt động học tập là hoạt động đặc
thù
của con người được điều khiển bởi
mục đích tự giác và lĩnh hội những tri thức, kỹ xảo
mới,
những phương thức hành
vi và nhưng dạng hoạt động nhất định
.
Tóm lại, hoạt động học tập có thể hiểu khái quát như sau: Hoạt động học
tập là

sẽ
đạt được kết quả khi cá nhân người học có ý thức tự
giác điều khiển, điều chỉnh được
hoạt
động của
mình.
- Quá trình thứ hai (quá trình ngoại tâm hoá) là quá trình cá nhân sử dụng
những
tri
thức tiếp thu được vận dụng vào hoạt động thực tiễn, làm biến đổi theo
hướng tích cực
các
sự vật hiện tượng phục vụ cho con
người.
Hai quá trình này có mối quan hệ qua lại gắn bó chặt chẽ với nhau trong
quá
trình
hoạt động học
tập.
b. Đặc điểm của hoạt động học
tập
Đối tượng của hoạt động học tập là hệ thống kiến thức khoa học, kỹ
năng, kỹ
xảo
mới tương ứng. Hoạt động học tập là loại học tập mà ở đó bằng sự
tự giác và có mục
đích
của mình, chủ thể biến những tri thức chung của nhân
loại thành cái của riêng mình.
Trong

Xuất phát từ mục tiêu giáo dục, đào tạo ở bậc Cao đẳng - Đại học là đào
tạo
nguồn
nhân lực có chuyên môn cao về nghề để đáp ứng yêu cầu xã hội. Do
đó việc học tập
của
sinh viên ngoài việc mang những đặc điểm của hoạt động
học tập nói chung còn có
những
đặc điểm riêng sau đây:
- Tính chuyên nghiệp: Ở đại học người sinh viên không chỉ chiếm lĩnh

10
những kiến thức tổng quát,
nền
tảng (một phần trong quá trình học) mà mục
tiêu chính là chiếm lĩnh hệ thống tri thức,
kỹ
năng và thái độ về nghề nghiệp,
hình thành những phẩm chất của người chuyên gia
trong
tương lai. Học tập của
sinh viên mang tính đặc trưng của hoạt động nghề
nghiệp
tương lai. Tóm lại,
trong quá trình học tập, sinh viên phải xây dựng cho mình một nhân
cách đáp
ứng
yêu cầu nghề nghiệp sau
này.

- Tính sáng tạo: Tính sáng tạo trong hoạt động học tập của sinh viên thể hiện

việc
tham gia nghiên cứu khoa học. Tính sáng tạo của sinh viên một mặt xuất
phát từ kết quả
của
sự phát triển của tuổi trưởng thành vừa là yêu cầu của bản
thân hoạt động học tập của
sinh
viên trong thời đại
mới.
Từ những đặc điểm riêng trên trong hoạt động học tập của sinh viên đã kéo
theo
một
sự thay đổi lớn về nội dung, phương pháp, điều kiện học tập cần có ở
bậc Đại học. Học
tập
của sinh viên diễn ra không chỉ trên lớp mà còn ở ngoài lớp;
không chỉ tiến hành dưới
sự
hướng dẫn của giảng viên mà còn được tiến hành một
cách độc lập, do bản thân mình tự
sắp
xếp, tổ chức thực hiện và kiểm tra đánh giá.
Nội dung học tập bao gồm việc tiếp nhận
kiến
thức, học kỹ năng, học các thái
độ…vv. Chính sự thay đổi về tính chất, mục tiêu của học
tập
ở đại học so với

thiện này cho phép sinh viên có thể chọn lựa và thực hiện
những gì có ảnh hưởng đến
sự
phát triển nhân cách của họ một cách độc lập
như chọn nghề sau khi kết thúc học tập

trường phổ thông, xác định lý
tưởng…vv., sinh viên có
khả
năng lập kế hoạch và thực hiện hoạt động một
cách độc lập, có sự biến đổi mạnh mẽ
về
động cơ, về thang giá trị xã hội có liên
quan đến nghề nghiệp, xác định con đường sống
tích
cực, nắm vững nghề nghiệp
tương lai, bắt đầu thể nghiệm mình trong mọi lĩnh vực của
cuộc
sống [27,
tr.61].
Đặc điểm tâm lý quan trọng nhất của lứa tuổi sinh viên là sự tự ý thức phát
triển
manh mẽ. Tự ý thức bao gồm: khả năng tự đánh giá, tự kiểm tra, tự nhận thức
về bản
thân.
Sinh viên có khả năng đánh giá, nhìn nhận một cách tương đối toàn diện
về bản thân từ
khả
năng nhận thức, xác định tư tưởng, tình cảm, động cơ, hành vi
cũng như vị trí của bản

tự
đánh gia đặc điểm trí tuệ ở mức thấp
sẽ gây ra những khó khăn trong quá trình học
tập,
ngược lại những đặc điểm trí
tuệ được đánh giá đúng mức cho đến cao là cơ sở tốt cho
hoạt
động học tập ở đại
học.
Điểm đặc biệt khác trong sự phát triển tâm lý của sinh viên chính là sự phát
triển
của
tình cảm nghĩa vụ, ý thức trách nhiệm, tính độc lập trong các hoạt động ở
mức độ cao.
Sinh
viên dần có lập trường của bản thân một cách vững vàng, có
cách giải quyết vấn đề
chính
xác, đúng đắn và tự chủ hơn. Sự trưởng thành về
mặt xã hội, tâm thế sẵn sang cho việc
lĩnh
hội kinh nghiệm xã hội và kiến thức
nghề nghiệp một cách độc lập được củng
cố.
Bước vào tuổi sinh viên, khi mà việc xác định nghề nghiệp đã rõ ràng,
người
thanh
niên – sinh viên bắt đầu với các hình thưc hoạt động mới. Trong
giai đoạn này, người
sinh


13
phải là một con
đường
bằng phẳng, hoàn toàn thuận lợi mà gặp phải nhiều khó
khăn vướng mắc, đòi hỏi sự nỗ
lực
khắc phục của chính bản thân người sinh viên.
Chính sự tích cực, tự giác của sinh viên sẽ

yếu tố vô cùng quan trọng trong việc
hình thành và phát triển các phẩm chất nhân cách
của
người chuyên gia trong
tương
lai.
Sinh viên khoa Giáo dục - Học Viện Quản lý Giáo dục là những sinh viên
đang theo học tại những trường cao đẳng và đại học. Họ tiến hành hoạt động học tập
và rèn luyện về chuyên môn nghiệp vụ nhằm mục đích trở thành những người có
kiến thức kỹ năng nghề nghiệp trong tương lai. Đặc biệt kiến thức về tâm lý giáo
dục.
Học viện Quản lý giáo dục là cơ sở giáo dục Đại học trực thuộc Bộ GD & ĐT,
được thành lập theo quyết định số 501/QĐ-TTg ngày 03 tháng 4 năm 2006 của Thủ
tướng Chính phủ trên cơ sở Trường Cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo.
Trong đó, với Khoa Giáo dục, năm học 2011 – 2012 cũng là năm thứ năm
thực hiện nhiệm vụ tuyển sinh, đào tạo Cử nhân Tâm lý - giáo dục học. Đến nay, số
lượng sinh viên trong khoa vào khoảng trên 800 sinh viên với chất lượng đầu vào
tương đối cao. Với nội dung chương trình tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ
bản của tâm lý và giáo dục nên không tránh khỏi mang nặng tính lý luận, lý thuyết,
hàn lâm. Do đó, càng đòi hỏi sinh viên trong khoa có thái độ tích cực, chăm chỉ,

học tập sẽ góp phần tăng cường sự tương tác, trao đổi giữa các sinh viên với nhau,
giúp các bạn sinh viên chiếm lĩnh được các tri thức khoa học, từ đó nâng cao chất
lượng và hiệu quả học tập.
1.2.2 Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên
1.2.2.1 Khó khăn tâm

Theo từ điển Tiếng Việt thì “khó khăn” có nghĩa là sự trở ngại làm mất
nhiều
công
sức hoặc thiếu thốn.
Như vậy, từ cách định nghĩa của các từ điển trên ta có thể thấy khi nói đến
khó
khăn
có nghĩa là nói đến những gì cản trở, trở ngại, đòi hỏi nhiều nỗ lực để
vượt
qua.
Trong thực tiễn, khi tiến hành bất cứ một hoạt động nào con người đều

15
gặp
phải
những khó khăn, làm cho hoạt động chệch hướng, làm giảm đi hiệu quả
mà con người
mong
muốn, thậm chí không đạt hiệu quả hoạt động.
Xuất phát từ quan điểm trên, khó khăn tâm lý trong đề tài này được hiểu
như
sau:
khó khăn tâm lý là những nét tâm lý cá nhân, nảy sinh trong quá
trình hoạt động

đến
quá trình và hiệu quả hoạt động học tập của chính người
sinh viên
đó.
Hoạt động học tập ở bậc Cao đẳng – Đại học so với bậc phổ
thông
được
xác định bởi sự khác biệt trong phương pháp học tập, cách thức tổ chức học
tập

trong đó vai trò của người sinh viên là tích cực chủ động dưới sự hướng
dẫn của giáo
viên.
Và như đã trình bày ở các phần trên, chúng ta thấy rằng tính
độc lập cao trong học tập

một trong những đặc điểm của hoạt động học tập của
sinh viên. Chính vì thế, khi gặp
những
khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập
của mình, hầu như người sinh viên cũng tự
mình
tìm cách khắc phục.
Đặc biệt đối với sinh viên năm thứ nhất,
phần
lớn mới kết thúc bậc phổ
thông. Họ bước vào Đại học với nhiều bỡ ngỡ, lạ lẫm. Họ
đồng
thời vừa làm
quen với cuộc sống mới, trường mới, bạn mới, những môn học mới, cách

ghi
chép cẩn thận, chăm chỉ tìm những tài liệu có liên
quan theo sự hướng dẫn của giáo
viên,
làm bài tập theo mẫu, hoc thuộc lòng để
thay thế cho việc học tập khoa học, có hệ thống

nắm bản chất vấn đề, một điều
mà theo người nghiên cứu là quan trọng chủ yếu của học
tập
ở đại
học.
1.2.2.3 Biểu hiện của khó khăn tâm lý trong hoat động học
tập
Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập được hiểu là những nét tâm lý

nhân
mang tính tiêu cực nảy sinh, tồn tại trong hoạt động học tập của chủ
thể học tập, làm
cho
quá trình học tập bị chệch hướng, bị cản trở, dẫn tới hiệu quả
học tập không cao. Những
khó
khăn tâm lý này có thể được biểu hiện ở những
dạng
sau:
a.

Nhận
thức

nhận
thức về động cơ học tập trong quá trình nhận thức về bản thân của sinh
viên trong hoạt
động
học
tập.
Động cơ trong tâm lý học, theo nghĩa chung nhất là cái thúc đẩy và quy định
chiều
hướng hoạt động nhằm đạt mục đích nào đó, là những gì thôi thúc họ.
Do đó, việc xác định cho được động cơ học tập cũng chính là xác định được
nhu
cầu
học tập của bản thân sinh viên. Nhu cầu học tập la thành tố quan trọng
của động cơ
hoạt
động, là nguồn gốc tính tích cực học tập, biểu hiện qua tính tự
giác, thái độ nghiêm túc,
luôn
vượt lên mọi khó khăn để giải quyết các nhiệm vụ
học tập, qua đó nâng cao hiệu quả
học
tập.
Trên cơ sở mối quan hệ giữa động cơ
học tập – nhu cầu học tập như phân tích
trên,
thì việc không xác định được động
cơ học tập, tức động cơ học tập không rõ ràng sẽ là
một
khó khăn tâm lý trong
hoạt động học tập của sinh

độ
Đây là thái độ, tình cảm của sinh viên đối với việc học tập. Có thể nói khó
khăn
tâm
lý biểu hiện ở dạng thái độ, tình cảm là việc xuất hiện những xúc cảm
âm tính đối với
hoạt
động học tập như coi thường việc học tập, chán ghét, thờ ơ,

18
lo lắng, sợ hãi, căng thẳng,
chán
nản khi gặp những vấn đề nảy sinh trong học
tập…vv. Khi có những thái độ, tình cảm
tiêu
cực đối với hoạt động học tập thì
việc học tập khó mà có hiệu quả cao được. Ngược lại
nếu
sinh viên nào có thái độ
tích cực đối với việc học, cần cù, chăm chỉ, biết tìm những
biện
pháp tạo ra
hứng thú trong học tập vv thì chắc chắn hiệu quả của hoạt động học tập sẽ
được
nâng
lên.
c.
Hành
vi
Hành vi là “bộ mặt” đời sống tâm lý của con người. Đây là dạng khó khăn tâm

và hành vi. Ba
mặt
này có mối quan hệ, tác động qua lại lẫn nhau, do đó, trong
quá trình học tập, muốn tháo
gỡ
khó khăn tâm lý cho sinh viên thì cần chú ý
quan tâm giải quyết cả ba dạng biểu hiện
khó
khăn tâm lý
trên.
1.2.2.4. Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên năm thứ
nhất khoa Giáo dục - Học viện Quản lý Giáo dục.
a. Khó khăn tâm lý biểu hiện ở mặt nhận
thức
Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất
biểu
hiện ở nhận thức cũng xuất phát từ hai hướng: nhận thức về bản thân và nhận thức
về
đối
tượng học
tập.

19
- Đối tượng học tập của sinh viên khoa giáo dục khá đa dạng, là một hệ
thống kiến
thức,
kỹ năng, kỹ xảo bao gồm các phần như: các môn khoa học
cơ bản, các môn khoa
học
chuyên ngành, các môn nghiệp vụ , các môn hỗ trợ

cũng
như thiếu sự hiểu biết về nhiệm vụ học tập và yêu cầu học tập của sinh viên sẽ

những khó khăn tâm lý biểu hiện ở mặt nhận thức của sinh viên trường. Thực
tế
cho thấy, khi chủ thể hiểu biết đầy đu, sâu sắc về đối tượng hoạt động của mình
sẽ giúp
họ
chuẩn bị tâm thế cũng như các điều kiện để thực hiện hoạt động đó.
Ngược lại, khi
thiếu
những hiểu biết cần thiết về đối tượng hoạt động thì chủ thể
sẽ tiến hành hoạt động một
cách
đối phó, thiếu sự tích cực và do đó khó đạt được
hiệu quả
cao.
Bên cạnh đó, sinh viên năm thứ nhất nói chung, sinh viên khoa giáo dục
chuyên ngành Tâm lý Giáo dục năm thứ nhất
nói
riêng, về mặt chủ quan, có thể
gặp một khó khăn tâm lý khác là nhận thức động cơ học
tập
chưa rõ
ràng.
Động cơ học tập của sinh viên khoa giáo dục bao gồm những động cơ có ý
nghĩa cá
nhân
và những động cơ mang ý nghĩa xã hội như: động cơ nhận thức
khoa học, động cơ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status