1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
THÂN THỊ HOA
NHỮNG KHÓ KHĂN TÂM LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG
GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG SƢ PHẠM CỦA SINH VIÊN
TRƢỜNG CAO ĐẲNG SƢ PHẠM HÀ TÂY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số: 60 31 80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS Phạm Thị Thu Hoa Hà Nội – 2014 3 LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu là kết quả quá trình làm việc của tôi
dưới sự hướng dẫn của TS. Phạm Thị Thu Hoa. Những nội dung tham khảo
được trích dẫn từ tài liệu có nguồn gốc rõ ràng. Kết quả nghiên cứu thực tiễn
Thân Thị Hoa
5
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 9
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 13
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 13
1.1.1. Những nghiên cứu về khó khăn tâm lý 13
1.1.2. Những nghiên cứu về khó khăn tâm lý của sinh viên khi giải quyết
tình huống sư phạm. 16
1.2. Một số vấn đề lí luận về khó khăn tâm lý của sinh viên khi giải quyết
tình huống sư phạm. 19
1.2.1. Tình huống sư phạm 21
1.2.2 Khó khăn tâm lý Error! Bookmark not defined.
1.2.3 Khó khăn tâm lý trong khi giải quyết tình huống sư phạm của sinh
viên. 32
1.3 Biểu hiện của khó khăn tâm lý khi giải quyết tình huống sư phạm. 37
1.4. Nguyên nhân gây ra khó khăn tâm lý khi giải quyết tình huống sư
phạm của sinh viên 40
1.5. Ảnh hưởng của khó khăn tâm lý tới hoạt động giải quyết tình huống sư
phạm của sinh viên. 41
1.6. Một số đặc điểm của sinh viên sư phạm 43
Chƣơng 2: TỔ CHỨC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 47
2.1. Nội dung và tiến trình nghiên cứu 47
2.1.1. Giai đoạn nghiên cứu lí luận 48
sư phạm của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây. 77
3.4.1. Mức độ ảnh hưởng của khó khăn tâm lý đến việc giải quyết tình
huống sư phạm của sinh viên. 78 7
3.4.2. Cách khắc phục khó khăn tâm lý khi giải quyết tình huống sư phạm
của sinh viên trường CĐSP Hà Tây. 81
3.5. Nguyên nhân của những khó khăn tâm lý khi giải quyết tình huống sư
phạm của sinh viên trường CĐSP Hà Tây. 83
3.5.1. Nguyên nhân chủ quan 83
3.5.2. Nguyên nhân khách quan 88
TIỂU KẾT CHƢƠNG 3 90
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 91
1. Kết luận 91
2. Kiến nghị 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
PHỤ LỤC 98 8
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CĐSP: Cao đẳng sư phạm
ĐTB: Điểm trung bình
GV: Giảng viên
GQ: Giải quyết
ảnh hưởng không tốt đến quá trình dạy học và giáo dục học sinh. Khi xảy ra
tình huống sư phạm, người giáo viên thường chưa chuẩn bị sẵn sàng về mặt
tâm lý. Hơn thế, mỗi tình huống sư phạm xảy ra lại có căn nguyên khác nhau,
đối tượng khác nhau với những đặc điểm tâm lý của đối tượng không bao giờ
giống nhau. Trong khi đó, để giải quyết tình huống sư phạm luôn phải đảm
bảo những nguyên tắc về tính mô phạm, tính giáo dục, tôn trọng nhân cách
người học sinh, đồng cảm với học sinh, và có niềm tin vào học sinh. Chính vì
vậy, việc phải đưa ra cách ứng xử ngay, nhưng vẫn phải tuân theo những
nguyên tắc mô phạm, nên đã gây ra khó khăn cho người giáo viên. Đặc biệt,
đối với mỗi SV, thời gian học tập và tích lũy kinh nghiệm sống còn chưa
nhiều. Hơn nữa, tính cách còn quen bộc trực, nghĩ gì nói đấy. Khi giải quyết
THSP còn chưa linh hoạt, mềm dẻo còn dập khuôn máy móc. Do vậy, sẽ càng
gặp nhiều khó khăn tâm lý khi giải quyết tình huống sư phạm. Những KKTL 10
trong việc giải quyết tình huống sư phạm mà SV thường gặp phải như: vốn
hiểu biết, kinh nghiệm về các vấn đề trong hoạt động dạy học và trong cuộc
sống còn ít; bản lĩnh nghề nghiệp chưa vững vàng, khả năng giải quyết vấn đề
trước đám đông còn non nớt vì vậy việc chỉ ra được những KKTL và tìm ra
cách khắc phục những KKTL mà SV gặp phải là một việc làm quan trọng và
cần thiết.
Qua thực tế công tác giáo dục cho thấy, nếu không được rèn luyện về
mặt kĩ năng, không được chuẩn bị chu đáo về mặt tâm lý thì không chỉ SV,
những giáo viên trẻ mà bất cứ giáo viên nào cũng có thể mắc phải những sai
lầm khi giải quyết THSP và có thể để lại những hậu quả nghiêm trọng. Ngược
lại, nếu SV được rèn luyện tốt các kỹ năng giải quyết tình huống sư phạm,
được trau dồi và hoàn thiện những phẩm chất nhân cách cần thiết thì sẽ tránh
được những KKTL nhất định.
Qua quan sát và phỏng vấn những SV đang học tập tại trường cho thấy,
6. Giả thuyết khoa học
Sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Hà Tây còn gặp nhiều khó khăn
tâm lí khi giải quyết tình huống sư phạm ở các mặt nhận thức, thái độ và hành
vi. Mỗi khó khăn tâm lý có mức độ ảnh hưởng khác nhau đến việc giải quyết
tình huống sư phạm của sinh viên. Có nhiều nguyên nhân gây ra KKTL ở SV
khi giải quyết các tình huống sư phạm. Các nguyên nhân này có ảnh hưởng ở
mức độ khác nhau đến việc giải quyết tình huống sư phạm của SV, trong đó
nguyên nhân chủ quan có ảnh hưởng nhiều hơn cả. Nếu có các biện pháp tích 12
cực, phù hợp tác động, hỗ trợ sẽ giúp cho SV Trường Cao đẳng sư phạm Hà
Tây giảm bớt những KKTL đó.
7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Đề tài tập trung nghiên cứu những KKTL của SV trong hoạt động
giải quyết THSP khi học tập tại trường và trong đợt đi kiến tập, thực tập
trên SV năm thứ 2 và SV năm thứ 3 của các khoa tự nhiên, khoa xã hội,
khoa ngoại ngữ.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
8.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
8.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
8.2.1. Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
8.2.2. Phương pháp quan sát, dự giờ
8.2.3. Phương pháp phỏng vấn sâu
8.2.4. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
8.2.5. Phương pháp thống kê toán học
bài tập có khó khăn đặc biệt… Số lượng các trường hợp giải được bài tập
bằng số ít hơn so với giải bài tập tình huống. Ở đây có liên quan đến các trở
ngại lớn của việc đưa chúng về dạng bài tập so với các bài tập tình huống. Bài
tập tình huống với trẻ em bằng cách này hay cách khác hình dung về các sự
vật cụ thể và điều đó làm cho các em dễ dàng hơn khi đưa nó về dạng bài
tập… [9, tr.167]
V.A.Cancalich trong nghiên cứu của mình đã đưa ra một số khó
khăn trong giao tiếp của SV sư phạm như: Không biết cách dàn xếp, tổ
chức một cuộc tiếp xúc, không hiểu đặc điểm của đối tượng giao tiếp, thụ
động trong giao tiếp, có tâm trạng lo lắng sợ hãi, lúng túng khi điều khiển
trạng thái tâm lý bản thân trong giao tiếp, mối quan hệ qua lại chưa được
xây dựng linh hoạt, bắt chước máy móc cách ứng xử của người giáo viên
khác. [7, tr.38]
* Ở trong nước:
Năm 1996, trong luận án “Nghiên cứu những trở ngại tâm lý trong giao
tiếp của SV với học sinh khi thực tập tốt nghiệp” tác giả Nguyễn Thị Thanh
Bình đã đưa ra khái niệm, chỉ ra bản chất, biểu hiện, nguyên nhân, phân loại
những trở ngaị tâm lý đến hiệu quả của quá trình giao tiếp, đồng thời bước
đầu thử nghiệm thành công biện pháp tác động nhằm khắc phục những trở ngại
tâm lý trong giao tiếp. Tác giả đã phát hiện được 8 trở ngại tâm lý: lúng túng khi
điều khiển giao tiếp của học sinh; sợ mắc sai lầm sư phạm; không trùng hợp tâm
thế giữa SV và học sinh; chưa làm chủ được trạng thái tâm lý của bản thân; thiếu
tiếp xúc với học sinh; hiểu biết chưa đầy đủ về học sinh… [4, tr.28]
Trong cuốn “Hoạt động sư phạm là quá trình sáng tạo” (1981) các tác
giả của Viện nghiên cứu Đại học và Trung học chuyên nghiệp đã khẳng định 15
khó khăn điển hình nhất của giáo viên trong giai đoạn công tác đầu tiên là
kém khả năng điều khiển những trạng thái tâm sinh lý của bản thân và thiếu
* Những nghiên cứu ở nước ngoài:
Ph.N.Gônôbôlin cho rằng người giáo viên cần phải có những phẩm
chất tâm lý nhất định, nếu thiếu các phẩm chất tâm lý này thì họ gặp
nhiều khó khăn về tâm lý trong công tác dạy học và giáo dục học sinh.
Tác giả còn khẳng định những phẩm chất có ý nghĩa lớn trong đời sống và
hoạt động của người giáo viên là sự suy nghĩ thận trọng, tính lạc quan sư
phạm và sự gần gũi chân thành đối với trẻ, thể hiện ở lòng thương yêu trẻ
và có khả năng hòa mình vào cuộc sống của các em, hiểu rõ tâm tư tình
cảm của các em, đồng thời cũng trẻ trung như các em một cách đúng lúc.
Nếu làm được như vậy, điều này sẽ được củng cố dần dần trong tính cách,
nó sẽ tạo khả năng cho người giáo viên dễ dàng nắm vững hoạt động sư
phạm của mình. Như vậy, nếu người giáo viên bị thiếu hụt về những
phẩm chất tâm lý cá nhân như trên sẽ tạo ra những KKTL trong hoạt động
sư phạm của mình. [10, tr.211]
X.I.Kixêgôv khi phân tích về hoạt động sư phạm có đối tượng là con
người đã khẳng định hoạt động này rất phức tạp, đòi hỏi sự sáng tạo, không
thể hành động theo một khuôn mẫu cứng nhắc, mà khi xử lý các tình huống
sư phạm đòi hỏi tính mềm dẻo ở mức độ cao. [16, tr.17]
N.I.Bônđarepxcaia khi nói đến vấn đề chuẩn bị cho SV làm công tác
giáo dục ở trường phổ thông bà đã nhấn mạnh đến vai trò của năng lực sư
phạm đối với người thầy giáo. Bà cho rằng ngoài những yêu cầu về kiến thức
chuyên môn phong phú, còn cần phải có năng lực giải quyết khéo léo, linh
hoạt các tình huống sư phạm. [6, tr.28] 17
Trong các nghiên cứu của các tác giả đều thống nhất: Tình huống sư
phạm là tình huống có vấn đề nảy sinh trong quá trình dạy học và giáo dục.
việc giải quyết tốt các tình huống sư phạm là thể hiện năng lực sư phạm của
người giáo viên. Khả năng giải quyết tình huống sư phạm của sinh viên còn
kết thúc [15].
Trong luận án tiến sĩ của Đoàn Thị Tỵ năm 2008 đã chỉ ra được 18
KKTL trong việc giải quyết THSP của SV Đại học Hải Phòng. Những KKTL
này được thể hiện ở ba mặt: Nhận thức, thái độ và hành vi. Cụ thể những
KKTL trong nhận thức của SV có: Vốn kinh nghiệm và vốn hiểu biết về hoạt
động sư phạm còn hạn chế; Hiểu biết tâm sinh lý học sinh còn ít; Tư duy và
óc tưởng tượng sư phạm hạn chế; Thiếu hiểu biết về quy trình giải quyết
THSP; Hiểu biết về các môn khoa học chuyên ngành chưa cao. Những KKTL
biểu hiện ở mặt thái độ, cảm xúc: Động cơ chọn nghề chưa đúng theo nguyện
vọng; Nhu cầu giải quyết THSP còn thấp; Chưa thực sự có hứng thú giải
quyết THSP; E ngại khi phải xuất hiện trước tập thể; Hồi hộp lo lắng trước sự
xuất hiện của THSP cần giải quyết nhanh; Mặc cảm khi đóng vai là người
giáo viên. Những KKTL biểu hiện ở hành vi, hành động: Hành vi ứng xử kém
linh hoạt; Hành vi lúng túng thiếu tự tin khi giải quyết THSP; Hành vi bột
phát ngẫu nhiên; Khả năng tự kiểm tra, tự điều chỉnh hành vi ứng xử yếu;
Chưa tích cực luyện tập giải quyết các THSP; Hoạt động ngôn ngữ nói của
SV còn hạn chế; Khó khăn trong việc huy động kiến thức và kinh nghiệm giải
quyết THSP. Những nguyên nhân dẫn đến KKTL bao gồm cả nguyên nhân
bên trong và nguyên nhân bên ngoài. Đề tài cũng đã tổ chức quá trình thực
nghiệm và đã thu được kết quả khả quan. [32] 19
Nhìn chung, những nghiên cứu trên đều xoay quanh vấn đề tình huống
sư phạm, những khó khăn tâm lý trong hoạt động giải quyết tình huống sư
phạm. Các công trình nghiên cứu trên đều cung cấp được những cơ sở lí luận
tương đối vững chắc về tình huống sư phạm, vấn đề giải quyết tình huống sư
phạm, chỉ ra được những biểu hiện của KKTL ở SV khi giải quyết THSP và
chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến KKTL. Bước đầu có tổ chức quá trình thực
nghiệm để nhằm khắc phục KKTL đó.
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Bình cho rằng: KKTL là những yếu tố tâm
lý cản trở hoạt động của con người, làm giảm hiệu quả hoạt động [4, tr.29].
Thông thường nói đến “KKTL” trong hoạt động và hành vi chính là
những thiếu hụt, vướng mắc, rào cản về mặt tâm lý, kìm hãm hoạt động đạt
kết quả. Nó như một “hàng rào tâm lý” ngăn cản hoạt động hoặc làm sai lệch
kết quả hoạt động.
Trong từ điển Tâm lý học, tác giả Vũ Dũng cho rằng: “hàng rào tâm lý
là trạng thái tâm lý thể hiện ở tính thụ động quá mức của chủ thể, gây cản trở
trong việc thực hiện hành động”. [8, tr.89]
Theo “Sổ tay tâm lí học” thì “hàng rào tâm lý” là trạng thái tâm lý thể
hiện ở tính thụ động quá mức của chủ thể, gây cản trở, vướng mắc trong việc
thực hiện hành động [34, tr.41]
Như vậy, “KKTL” cũng được hiểu như là những “hàng rào tâm lý” gây
cản trở, vướng mắc trong quá trình hành động.
Trong bất kỳ hoạt động nào, người thực hiện hoạt động đều có thể gặp
khó khăn, trong đó có cả khó khăn về mặt tâm lý. Những KKTL làm cho
người thực hiện hoạt động không tiếp tục thực hiện được hoạt động, hoặc
thực hiện hoạt động không có được kết quả như mong muốn. Nguyên nhân 21
của những KKTL có cả những nguyên nhân chủ quan và những nguyên nhân
khách quan. Đó là môi trường tiến hành hoạt động, phương tiện thực hiện,
điều kiện làm việc, hay do đặc điểm tâm sinh lý không phù hợp với hoạt động
đó, do thiếu kinh nghiệm, kĩ năng làm việc… để vượt qua được những khó
khăn khách quan và chủ quan đó đòi hỏi con người phải có sự nỗ lực, cố gắng
rất nhiều.
Từ những ý kiến của các tác giả về KKTL như trên, chúng tôi đồng ý
với ý kiến của tác giả Đoàn Thị Tỵ: Khó khăn tâm lý là những thiếu hụt,
những cản trở, những vướng mắc về mặt tâm lý của chủ thể cần vượt qua để
hiện tượng, sự kiện bất ngờ, những nghịch lý nảy sinh trong hoạt động sư
phạm, đòi hỏi tập thể hay cá nhân nhà sư phạm phải suy nghĩ, tìm kiếm, sử
dụng các phương tiện, phương pháp và cách thức mới để giải quyết chúng
một cách hợp lý, sáng tạo và có hiệu quả”. [5, tr.19]
Tác giả Đoàn Thị Tỵ cho rằng: “THSP là tình huống chứa đựng mâu
thuẫn cần giải quyết trong quá trình hoạt động sư phạm của người giáo viên.
Nhưng do những tri thức, kinh nghiệm, năng lực sư phạm vốn có của họ chưa
thể giải quyết được, họ phải tích cực xem xét, tìm tòi để có thể tìm ra phương
thức giải quyết mới hợp lý và có hiệu quả”. [32, tr.22]
Trong những ý kiến của các tác giả trên, mỗi tác giả có những cách lý
giải riêng về THSP, song đều có sự thống nhất đó là những tình huống có vấn
đề, nảy sinh trong môi trường sư phạm với một tính chất bất ngờ, đòi hỏi
người thầy, cô giáo phải ứng xử ngay lập tức nhưng cần thiết phải hợp lý và
có hiệu quả cao. 23
Như vậy, tình huống sư phạm nảy sinh trong hoạt động dạy học và giáo
dục là do có những khó khăn mới nảy sinh, đó là khó khăn về mặt trí tuệ, cảm
xúc mà người thầy giáo gặp phải khi đứng trước THSP. Như việc chưa thuần
thục về mặt kĩ năng, có thể sẽ dẫn đến khó khăn trong việc tìm tòi và lựa chọn
các tri thức, phương pháp giải quyết hiệu quả nhất cho tình huống gặp phải.
Hoặc là quá nóng giận, không kiềm chế được cảm xúc của bản thân. Tuy
nhiên, mỗi THSP nảy sinh có thể gây khó khăn cho người này, nhưng cũng có
thể không gây ra khó khăn đối với người khác. Mức độ khác nhau đó tuỳ
thuộc vào sự phức tạp khách quan của chính tình huống và sự phát triển nghề
nghiệp của những nhà sư phạm.
Từ những ý kiến của các tác giả trên, đề tài thống nhất với quan điểm
về THSP của tác giả Nguyễn Thị Thanh Bình: Tình huống sư phạm là toàn bộ
những sự việc, hiện tượng, sự kiện bất ngờ, những nghịch lý nảy sinh trong
phức tạp của THSP bởi việc giải quyết được tình huống sư phạm này không
hề đơn giản. Vấn đề quan trọng ở chỗ giáo viên nhận thức được đâu là mâu
thuẫn chủ yếu cũng như nguồn gốc của nó trong mỗi THSP cụ thể. Đây chính
là tiền đề về mặt nhận thức không thể thiếu để họ có được biện pháp đúng đắn
trong việc giải quyết THSP.
- Tính bất ngờ của tình huống sư phạm: THSP có thể xuất hiện bất cứ
lúc nào trong suốt tiến trình hoạt động sư phạm. Yếu tố khách quan tạo nên
tính bất ngờ của THSP đó chính là sự phát triển tâm lý của học sinh và sự
phức tạp của quá trình giáo dục. Tính bất ngờ của tình huống giáo dục thường
làm cho nhà giáo dục lúng túng, mất bình tĩnh gây khó khăn cho việc giải
quyết chúng. [19, tr.29]
Tóm lại, mỗi quan điểm về đặc điểm của THSP đều nói lên được
những yếu tố cơ bản của một THSP như yếu tố bất ngờ, tính phức tạp và tính 25
có vấn đề. Chúng tôi lựa chọn quan điểm của Lã Văn Mến là quan điểm để
xem xét về đặc điểm của THSP.
1.2.2.3. Cấu trúc tâm lý của tình huống sư phạm
Trong hoạt động dạy học của các thầy cô giáo bên cạnh công việc dạy
học tri thức, kĩ năng, kĩ xảo còn luôn kèm theo công tác giáo dục đối với học
sinh. Dạy học và giáo dục là hai hoạt động được diễn ra đồng thời và luôn
luôn đan xen vào nhau không có sự tách bạch rõ ràng. Chính vì vậy, THSP
cũng có cả tình huống liên quan đến hoạt động dạy học gọi là tình huống dạy
học. Và tình huống liên quan đến nội dung giáo dục đạo đức, kỹ năng sống,
ứng xử… cho học sinh gọi là tình huống giáo dục. THSP được tạo thành bởi
các yếu tố đó là: Cái chưa biết, cái đã biết và nhu cầu nhận thức kích thích
việc giải quyết các THSP nảy sinh.
Cái chưa biết là cái mà chủ thể phải nhận thức để giải quyết xong
THSP. Là những tri thức, phương pháp hành động trong việc giải quyết THSP