Quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên trường cao đẳng sư phạm theo yêu cầu đổi mới giáo dục đại học việt nam - Pdf 13

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
ĐẶNG LỘC THỌ
QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM TRUNG ƯƠNG
THEO YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
ĐẶNG LỘC THỌ
QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM TRUNG ƯƠNG
THEO YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ NGÀNH: 62.14.01.14
LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TSKH. Nguyễn Kế Hào
TS. Nguyễn Vũ Bích Hiền
HÀ NỘI - 2014
3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu là của riêng tôi. Các
số liệu khảo sát và thực nghiệm là kết quả nghiên cứu trung thực,
chưa công bố ở các tài liệu khác. Nếu có gì sai, tác giả xin hoàn toàn
chịu trách nhiệm!

TNKQ: Trắc nghiệm khách quan
5
6
DANH MỤC CÁC BẢNG
6
7
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
1. Giáo dục đại học (GDĐH) Việt Nam có vai trò quan trọng trong đào tạo
nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu công cuộc CNH – HĐH đất nước
trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Vai trò này của GDĐH chỉ có thể được khẳng định
bởi việc đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo của các cơ sở GDĐH. Vì lẽ đó, bài
toán về chất lượng GDĐH đã và đang là một thách thức đối với QL phát triển
GDĐH ở nước ta hiện nay, nhất là khi Việt Nam đang thực hiện đổi mới căn bản,
toàn diện nền GD Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân
chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó đổi mới cơ chế QLGD, phát triển đội ngũ GV
và cán bộ QLGD là khâu then chốt [22].
Nhận định về chất lượng GD, trong đó có chất lượng của GDĐH, Chiến lược
phát triển GD giai đoạn 2011 – 2020 đã chỉ rõ: “Chất lượng GD còn thấp so với yêu
cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới và so với trình độ của các nước có nền
GD tiên tiến trong khu vực, trên thế giới. Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát
triển số lượng với yêu cầu nâng cao chất lượng; năng lực nghề nghiệp của SV, SV
tốt nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu công việc, có biểu hiện lệch lạc về hành vi,
lối sống trong một bộ phận học sinh, SV” [15].
Có một tổ hợp các nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, trong đó có những
nguyên nhân về phương diện QLGD cả ở tầm vĩ mô và vi mô. Ở tầm vĩ mô, Chiến
lược phát triển GD 2011 – 2020 đã chỉ rõ: “Tư duy về GD chậm đổi mới. Một số vấn
đề lý luận mới về phát triển GD trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa và hội nhập quốc tế chưa được nghiên cứu đầy đủ. Chưa nhận thức đúng
vai trò quyết định của đội ngũ nhà giáo và sự cần thiết phải tập trung đổi mới QL nhà

QL hiện đại trong lĩnh vực QLGD, nhất là đào tạo ĐH. Đào tạo dựa vào chuẩn đòi
hỏi phải thiết lập được chuẩn đào tạo. Chuẩn đào tạo là chuẩn bao quát có chức
năng QL cả 3 khâu của quá trình đào tạo, tức là bao gồm chuẩn đầu vào, chuẩn
nguồn lực tác động và được sử dụng trong quá trình đào tạo và chuẩn đầu ra. Tuy
nhiên trình tự phát triển chuẩn phải ngược lại, theo logic sau: chuẩn đầu ra, chuẩn
nguồn lực đào tạo, chuẩn đầu vào. Cả 3 chuẩn kết hợp với nhau và nhập làm một thì
được gọi là chuẩn đào tạo, là một công cụ để QL quá trình đào tạo. Như vậy, để QL
chất lượng đào tạo ĐH, cần thiết phải thiết lập được chuẩn đào tạo, trong đó thiết
lập chuẩn đầu ra có ý nghĩa rất quan trọng. Trong chuẩn đầu ra, kết quả học tập của
8
9
người học lại là một trong những thành tố cấu trúc trung tâm. Đây là lý do khiến
cho vấn đề ĐGKQHT của người học được sự quan tâm đặc biệt trong những nghiên
cứu lý luận và thực tiễn tổ chức đào tạo ở các cơ sở GDĐH.
Trong lý luận dạy học ĐH, ĐGKQHT của SV được xem xét đồng thời ở hai
phương diện, vừa là một phương pháp dạy học vừa là một khâu của quá trình dạy
học. Cho dù ở phương diện nào thì ĐGKQHT cũng vừa thể hiện rõ chức năng QL
của nó. Ở bình diện phương pháp dạy học, ĐGKQHT là phương pháp thực hiện
nhiệm vụ QL dạy học của GV; ở bình diện quá trình, ĐGKQHT thực hiện chức
năng QL với tư cách là một khâu cuối cùng của quá trình dạy học.
ĐGKQHT là một khâu có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình đào tạo
nói chung và trong việc đảm bảo nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập nói riêng,
nâng cao chất lượng hoạt động ĐGKQHT là nâng cao chất lượng đào tạo. Thông
qua ĐGKQHT trong quá trình đào tạo, nhà QLGD biết được nhà trường đã làm tốt
điều nào, những điều nào cần thay đổi để có thể đào tạo tốt hơn góp phần đánh giá
kết quả hoạt động giảng dạy của GV, giúp SV biết được họ tiếp thu được cái gì, cái
gì chưa tiếp thu được, mức độ đã đạt được. Đây là lí do khiến các nhà lí luận và
thực tiễn trong lĩnh vực quản lí GDĐH đặc biệt quan tâm đến vấn đề QL hoạt động
ĐGKQHT của SV.
4. Thực tiễn QL đào tạo ở các cơ sở GDĐH, các trường sư phạm nói chung

theo yêu cầu đổi mới GDĐH Việt Nam.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5.1. Hệ thống hoá cơ sở lý luận về ĐGKQHT và QL hoạt động ĐGKQHT ở các trường ĐH, CĐ
trên cơ sở tìm hiểu kinh nghiệm QL hoạt động ĐGKQHTSV trong và ngoài nước.
5.2. Đánh giá thực trạng hoạt động ĐGKQHT và QL hoạt động ĐGKQHT ở các trường CĐSP
Trung ương theo yêu cầu đổi mới GDĐH Việt Nam.
5.3. Đề xuất một số giải pháp QL hoạt động ĐGKQHTvà đánh giá tính hiệu quả, tính khả thi của các giải
pháp QL hoạt động ĐGKQHT ở các trường CĐSP Trung ương theo yêu cầu đổi mới GDĐH Việt Nam.
6. GIỚI HẠN VỀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
6.1. Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu các giải pháp tương ứng với nội dung của QL
ĐGKQHT để vận dụng trong QL hoạt động ĐGKQHTSV ở các trường CĐSP.
6.2. Giới hạn về địa bàn khảo sát
Khảo sát ở 3 trường CĐSP: CĐSP Trung ương (ở Hà Nội), CĐSP Trung
ương Nha Trang, CĐSP Trung ương TP Hồ Chí Minh.
6.3. Giới hạn về đối tượng khảo sát
10
11
- Khảo sát thử để xây dựng và chuẩn hoá phiếu điều tra 33 CBQL trường,
khoa, phòng ở ba trường CĐSP Trung ương.
- Khảo sát thực trạng QL hoạt động ĐGKQHT 33 CBQL (trường, khoa,
phòng), 69 GV và 316 SV ở ba trường CĐSP Trung ương
- Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các giải pháp QL hoạt động
ĐGKQHT ở ba trường CĐSP Trung ương của 17 chuyên gia về QLGD, 33 CBQL
và 69 GV.
- Thử nghiệm tác động và thực nghiệm đối chứng một số giải pháp QL hoạt
động ĐGKQHT tại trường CĐSP Trung ương.
7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá các nguồn tài liệu có liên quan về GDĐT

8. NHỮNG LUẬN ĐIỂM BẢO VỆ
- Luận điểm 1: QL hoạt động ĐGKQHT là yêu cầu tất yếu và cấp bách trong giai đoạn hiện nay
nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của các trường CĐSP.
- Luận điểm 2: QL hoạt động ĐGKQHT ở các trường CĐSP tuy đã có nhiều chuyển biến
tích cực trong quá trình triển khai đồng bộ các tác động nhằm đảm bảo tính pháp chế của các qui
định về ĐGKQHT của SV, phù hợp với thực tiễn đào tạo nhưng vẫn còn nhiều bất cập.
- Luận điểm 3: Nếu áp dụng đồng bộ các giải pháp QL hoạt động ĐGKQHT của SV
do luận án đề xuất sẽ góp phần giảm thiểu các hạn chế hiện nay, nâng cao độ tin cậy và
giá trị của hoạt động ĐGKQHT ở các trường CĐSP, đáp ứng được yêu cầu đổi mới
GDĐH.
9. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
9.1. Về lí luận
- Lý giải, làm rõ một số khái niệm, một số nội dung và thuật ngữ về QL hoạt
động ĐGKQHT của SV các trường CĐSP
- Hệ thống hoá, lý giải có tính định hướng lý luận về quan điểm, nội dung,
phương pháp và qui trình hoạt động ĐGKQHT của SV và QL hoạt động ĐGKQHT
của SV theo chức năng.
9.2. Về thực tiễn
- Phát hiện những hạn chế, bất cập trong công tác QL hoạt động ĐGKQHT
của SV ở các trường CĐSP Trung ương về quan điểm, nội dung, phương pháp đánh giá
và quản lí đánh giá, chỉ ra những yêu cầu đổi mới và các yếu tố ảnh hưởng đến QL hoạt
động ĐGKQHT của SV.
12
13
- Đề xuất một số giải pháp có tính khả thi và có hiệu lực QL hoạt động
ĐGKQHT của SV ở các trường CĐSP Trung ương để góp phần nâng cao chất
lượng đào tạo đáp ứng yêu cầu đổi mới GDĐH.
10. CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần mở đầu, luận án gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về QL hoạt động ĐGKQHT của SV.

Stiggins (và các đồng nghiệp) đã nghiên cứu về đánh giá trên lớp học với các
phương pháp, kỹ thuật cụ thể và đã cho xuất bản 3 cuốn sách nghiên cứu về lĩnh
vực này là: "Student- Centered Classrom Assessment" (1994) [112], "Classrom
Assessment for Student Learning" (2004) [113] và cuốn "Student- Involved
Assessment for Learning" (2008) [114].
+Nghiên cứu mô hình ĐG, trong đó có ĐGKQHT trong phạm vi các trường
ĐH, CĐ như: mô hình của ĐH Oxford [106], mô hình CLEP của Mỹ [83, 85, 86].
+ Nghiên cứu xu hướng ĐGKQHT như cuốn tài liệu thể hiện xu hướng đánh
giá hiện đại đang thịnh hành của GS. TS Anthony J.Nitko, Đại học Arizôna (Mỹ)
mang tên "Educational Assessment of Students" (Đánh giá học sinh) đề cập đến rất
nhiều nội dung của ĐGKQHT, bao gồm: Phát triển các kế hoạch giảng dạy kết hợp
với đánh giá; các đánh giá về mục tiêu, hiệu quả; đánh giá học sinh…[77].
14
15
+ Nghiên cứu về vai trò, tác động của đánh giá trong GD và GD ĐH như các
nghiên cứu của Dun, K.E & Mulvenson, S.W (2009) “A Critical Review of Research
on Formative Assessment: The Limited Scientific Evidence of the Impact of
Forrmative Assessment in Education” [90]; Tarasa, M. (2009) “Summative
Assessment: The Missing Link for Forrmative Assessment” [120]; Fook, C. Y., Sidhu,
G. K. (2010) “Authentic Assessment and Pedagogical Strategies in Higher Education”
[95]
- Những nghiên cứu về QL hoạt động ĐGKQHT
Có nhiều tài liệu bàn về QL hoạt động ĐGGD như: cuốn Monitering
Educational Achivement của N.Postlethwaite (2004); cuốn Monitering Evaluation:
Some Tools, Methods and Approches do Worbank phát hành (2004); cuốn
Managing Evaluation in Educational của Kath Aspinwall, Tim Simkins, John F.
Wilkinson and M. John Mc Auley (1992); cuốn “Mười bước tiến tới hệ thống giám
sát và đánh giá dựa trên kết quả” của Jody Zall Kusek, Ray C.Rist (2005), Ngân
hàng Thế giới [38]… Các cuốn tài liệu này đã chỉ cho người đọc thấy các nghiệp vụ
QL cần thực hiện để QL hoạt động ĐGGD như thế nào cho hiệu quả.

một trường hay một chương trình đã được công nhận chất lượng; cho phép SV học
bán thời gian và có thể tạm thời nghỉ học trong một khoảng thời gian và sau đó
mang tín chỉ đã tích luỹ để xin học tiếp và lấy bằng tốt nghiệp. Kiểm định chất
lượng ở Mỹ nhằm những mục đích: Thể hiện chất lượng, khẳng định chất lượng của
các trường, tạo sự thuận lợi cho quá trình chuyển tiếp của SV từ trường này sang
trường khác, tạo sự tin tưởng cho nhà tuyển dụng. Vì vậy, tình trạng được kiểm định
công nhận là một tín hiệu cho công chúng về chất lượng của một trường hoặc một
chương trình ĐT (SV tốt nghiệp một trường hay một chương trình đã được công
nhận chất lượng thì đó là một lợi thế cho họ khi xin việc); là điều kiện để các trường
ĐH được cấp các nguồn tài trợ của Chính phủ liên bang dựa vào sự ĐG của các cơ
quan kiểm định. Trong 11 tiêu chuẩn đánh giá trường ĐH được cơ quan giáo dục Mỹ
chấp nhận thì thành quả học tập của SV được xem như là một chỉ số quyết định chất
lượng. [13, 66]
Để chứng nhận kiểm định chất lượng tại các trường ĐH Mỹ có thể tự kiểm
tra tại website của Ủy ban Kiểm định chất lượng GDĐH (CHEA) tại địa chỉ
Trang web của CHEA cung cấp thông tin về các trường ĐH
và các chương trình đào tạo được kiểm định chất lượng bởi các tổ chức kiểm định
16
17
của Hoa Kỳ. Có chứng nhận kiểm định chất lượng là tiêu chí bảo đảm các trường
ĐH đáp ứng yêu cầu tối thiểu về chất lượng giáo dục. Việc tiến hành kiểm định chất
lượng diễn ra định kỳ thường từ 3 đến 10 năm một lần. Có 3 tổ chức có thẩm quyền
kiểm định chất lượng cho các trường ĐH bao gồm: các tổ chức kiểm định vùng
chứng nhận chất lượng cho các cơ sở đào tạo cấp bằng và phi lợi nhuận; các tổ chức
nghề nghiệp tư nhân chứng nhận cho các cơ sở đào tạo nghề không cấp bằng và thu
lợi nhuận; cuối cùng là các tổ chức tín ngưỡng chứng nhận chất lượng cho những cơ
sở đào tạo cấp bằng mang tính tôn giáo và phi lợi nhuận. Hầu hết những tổ chức này
được công nhận bởi CHEA và Bộ Giáo dục Hoa Kỳ (USDE: www.ed.gov). Nhiều
tổ chức cũng chứng nhận chất lượng cho những trường ĐH và cơ sở đào tạo nằm
ngoài Hoa Kỳ. Ví dụ, IIE Việt Nam chỉ đại diện cho những trường được các tổ chức

quy định hợp lí về thủ tục khiếu nại kết quả đã được đánh giá.
- Sử dụng nhiều hình thức ĐGKQHT mềm dẻo, phù hợp với nội dung và
theo đúng mục tiêu, mục đích đặt ra; thường xuyên thẩm định độ tin cậy và tính giá
trị của các phương pháp ĐGKQHT, đồng thời thường xuyên phát triển và thử
nghiệm các phương pháp ĐGKQHT mới; các tiêu chí ĐGKQHT được phổ biến rõ
ràng cho SV trên nguyên tắc minh bạch, nhất quán.
QL hoạt động ĐGKQHT của trường ĐH Công nghệ Naynang (Singapor):
Mỗi môn học hoặc một số môn học cùng chuyên môn có một Hội đồng phụ
trách, GV chịu trách nhiệm tổ chức các hoạt động ĐGKQHT thường xuyên trong
quá trình dạy học, GV dạy lớp nào chấm bài lớp đó, sau đó nộp kết quả chấm cùng
bài KT cho nhà trường. Các thành viên của Hội đồng chấm lại toàn bộ các bài KT,
khi có sai sót Hội đồng đối thoại trực tiếp với GV chấm. Nếu GV chấp nhận kết quả
của Hội đồng tức là thừa nhận mình sai, sai sót của GV được ghi nhận để làm căn
cứ để đánh giá GV đó. Trường ĐH tổ chức ĐGKQHT kết thúc môn học.
Như vậy, QLhoạt động ĐGKQHT là một vấn đề đã được các nước có nền GDĐH
phát triển trên thế giới quan tâm nghiên cứu, những nghiên cứu này đã làm rõ những vấn
đề của QLhoạt động ĐGKQHT ở những nội dung sau: Thông qua QLhoạt
độngĐGKQHT để nhà QL (đứng đầu nhà trường đào tạo hoặc nhóm nhà QL phải chịu
trách nhiệm trước hội đồng nhà trường) biết được chất lượng đào tạo của nhà trường
thông qua kết quả học tập của SV được đào tạo có đáp ứng được với yêu cầu thực tiễn
của xã hội không; đồng thời, thông qua QL hoạt động ĐGKQHT để nắm bắt được chất
lượng giảng dạy của đội ngũ nhà giáo và thực trạng ĐGKQHT đã đảm bảo các tiêu chí
18
19
của hoạt động ĐGKQHT của SV chưa, như: tính công bằng, tính khách quan, độ tin cậy
và giá trị của những công cụ đánh giá. Hơn hết, thông qua QLhoạt độngĐGKQHT của
nhà QL sẽ cho biết chất lượng học tập của SV tại cơ sở đào tạo.
Những nghiên cứu này đã chỉ ra ý nghĩa, vai trò của QLhoạt động ĐGKQHT
của SV đối với sự phát triển của mỗi nhà trường gắn với nhu cầu xã hội và sự tiến
bộ trong học tập của cá nhân mỗi SV, cũng như trách nhiệm của người GV trong

’’Đo lường và đánh giá thành quả học tập”, đề cập đến các nội dung sau: Đánh giá
và đánh giá giáo dục; Các phương pháp trắc nghiệm; Chất lượng của các câu trắc
nghiệm và của đề thi trắc nghiệm; Đánh giá thành quả học tập ở trường đại học;
Việc áp dụng khoa học đo lường trong giáo dục trên thế giới và ở Việt Nam [25].
Cuốn Đánh giá và đo lường trong khoa học xã hội do tác giả Nguyễn Công
Khanh viết (năm 2004) trình bày phương pháp luận, quy trình, các nguyên tắc và
thiết kế công cụ đo lường; các phương pháp phân tích item, chọn mẫu, đánh giá độ
tin cậy, độ hiệu lực; thiết kế công cụ đo cũng như các bước cơ bản thực hành các kĩ
năng thu thập, xử lí, thích nghi hóa dữ liệu đó; phần phụ lục còn đưa ra các mô hình
xử lí số liệu và bảng hỏi để cho người đọc tham khảo [39].
Năm 2005, Trung tâm Đảm bảo Chất lượng và Nghiên cứu Phát triển Giáo
dục, Đại học Quốc Gia Hà Nội đã xuất bản hai cuốn:“Giáo dục đại học, chất lượng
và đánh giá” (sách gồm có 3 phần: Phần 1: Đánh giá hoạt động giảng dạy và nghiên
cứu khoa học của GV; Phần 2: Đánh giá hoạt động học tập và nghiên cứu khoa học
của SV và học viên cao học; Phần 3: Đánh giá chương trình đào tạo và chương trình
giảng dạy) [73] và cuốn “Giáo dục Đại học - Một số thành tố của chất lượng” (với 6
phần được sắp xếp theo tiến trình của quá trình đào tạo một cách logic, trong đó:
Phần 4 viết về vấn đề “Sinh viên đánh giá - thử nghiệm công cụ và mô hình” do tác
giả Nguyễn Phương Nga viết; Phần 6 đề cập đến KQHTSV do tác giả Mai Quỳnh
Lan và Nguyễn Quý Thanh viết [26]).
- Những nghiên cứu về QL hoạt động ĐGKQHT của SV
Hiện nay có một số ít các công trình như: “Xây dựng và quản lí qui trình KTĐG
thành tích học tập của SV hệ chính qui, phù hợp với phương thức đào tạo theo tín
chỉ” của tác giả Mai Danh Huấn (2007) [34];“Các biện pháp QL hoạt động kiểm tra
20
21
tại trường Đại học dân lập Văn Lang” của Võ Văn Tuấn (2008) [75]; “Biện pháp QL
công tác ĐGKQHT của HV trong đào tạo trực tuyến ở các trường ĐH, CĐ của Ngô
Quang Sơn (2009) [61]; ”Cải tiến công tác KTĐG – Một biện pháp quan trọng góp
phần nâng cao chất lượng đào tạo đại học” của Nguyễn Thị Thu Hằng [30]; “Nghiên

sự học là hoạt động chiếm lĩnh hay lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo có chủ ý, có
mục tiêu để thỏa mãn nhu cầu nhất định. Trong quá trình học, cá nhân tự làm thay đổi
chính mình (phát triển nhận thức, phẩm chất ). Nếu hoạt động học được thực hiện
bằng phương pháp nhà trường, có nội dung, chương trình, có sách giáo khoa hay tài
liệu học tập, được những người có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ dẫn dắt, được kiểm
tra, đánh giá gọi là học tập.
Trong luận án này, tác giả sử dụng quan niệm: học tập là quá trình tiếp thu
kiến thức và rèn luyện kĩ năng dưới sự hướng dẫn và dạy bảo của nhà giáo; học tập
luôn gắn liền với hoạt động giảng dạy của thầy.
1.2.1.2. Đánh giá
Đánh giá (Evaluation) là vấn đề được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu và
đưa ra nhiều định nghĩa, quan niệm khác nhau.
Ralf Tyler, nhà giáo dục và tâm lí học nổi tiếng của Mĩ, được coi là một trong
những người đầu tiên đưa ra khái niệm ĐGGD (dẫn theo [95]), ông sử dụng thuật ngữ
ĐG để biểu thị quy trình ĐG sự tiến bộ của người học theo các mục tiêu đạt được.
Theo Woodhouse: Đánh giá (evaluation) là sự lượng giá (assessment) mà
kết quả là điểm, có thể cho bằng số (phần trăm hoặc một thang điểm ngắn hơn từ 1
đến 4), bằng chữ (từ A đến F) hay là sự miêu tả (Xuất sắc, giỏi, khá, đạt, không
đạt). Điểm cũng có thể là “qua” (Pass) hay “trượt” (Fail). Câu hỏi đánh giá “Kết
quả của bạn như thế nào ?” (Dẫn theo [76]).
Theo tác giả Trần Bá Hoành: ĐG là quá trình hình thành những nhận định,
phán đoán về kết quả công việc, dựa vào sự phân tích các thông tin thu được, đối
chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp
để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc [33].
Tác giả Lưu Xuân Mới quan niệm: “ĐG trong giáo dục là một quá trình hoạt
động được tiến hành có hệ thống nhằm xác định mức độ đạt được của đối tượng giáo
dục so với mục tiêu đã định. Nó bao gồm sự mô tả định tính và định lượng kết quả đạt
được thông qua những nhận xét, so sánh với những mục tiêu” [48].
22
23

23
24
thiết lập một quá trình đo kết quả học tập của SV về các mặt kiến thức đạt được. Nó có
một số mục đích. ĐG cung cấp phương pháp, phương tiện để xếp hạng SV. ĐG giúp
đưa ra quyết định về việc SV đã sẵn sàng học tiếp hay không, họ có xứng đáng nhận
học bổng hay phần thưởng không, hoặc chứng minh năng lực hành nghề của người
học. ĐGKQHT còn cung cấp cho SV sự phản hồi về việc học của họ và giúp họ nâng
cao thành tích của mình. Nó cũng giúp đánh giá hữu hiệu việc dạy của GV. (Dẫn theo
[109]). Theo Walvoord và Anderson: ĐGKQHT là hệ thống tổng hợp, phân tích
thông tin để hoàn thiện việc học tập của SV (Dẫn theo [76]); theo Vlasceanuet al:
ĐGKQHTSV là một hoạt động tổng hợp, phân tích và sử dụng những bằng chứng
về số lượng và chất lượng của kết quả dạy và học, để kiểm tra sự phù hợp của
chúng với mục tiêu, mục đích đề ra và cung cấp những phản hồi nhằm khuyến
khích sự tiến bộ (Dẫn theo [68]).
ĐGKQHT trong nghiên cứu này bao gồm: những kết quả học tập hàng ngày,
kết quả phản ánh trong các kỳ KT định kì và KT tổng kết các mặt kiến thức, kỹ
năng, kỹ xảo từng môn.
Trong khuôn khổ của luận án, tác giả thống nhất sử dụng quan niệm theo
Từ điển GDH và coi đây như là một trong những khái niệm công cụ của đề tài:
ĐGKQHT là xác định mức độ nắm được kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của người
học so với yêu cầu của chương trình đề ra. Yêu cầu ĐG là chú trọng xem xét mức
độ nắm được, thông hiểu và bền vững của kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo so với chuẩn
của chương trình. Kết quả của việc ĐG được thể hiện chủ yếu bằng điểm số theo
thang điểm quy định (có thể theo thang 10 điểm hay thang chữ, thang 4 điểm theo tín
chỉ), ngoài ra có thể được thể hiện bằng lời nhận xét của GV. Việc ĐGKQHT có tác
dụng quy định đối với quá trình dạy học vì nó khẳng định và công nhận những thành
quả đã đạt được và định hướng mục tiêu cần phấn đấu trong tương lai.
Như vậy, ĐGKQHT của SV là một quá trình được tiến hành có hệ thống
nhằm xác định mức độ đạt được của người học về mục tiêu đào tạo, tạo điều kiện
thúc đẩy quá trình học tập; quá trình này diễn ra có lúc song hành, có lúc đan xen và

định hướng trong hoạt động học tập và tự ĐG.
- Xác định đối tượng ĐG: Là những hoạt động học tập của SV trong quá trình
đào tạo. Do đó, cần phải tìm hiểu đặc điểm của SV xem mức độ học tập của SV: ưu
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status