1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NÔI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
PHẠM THỊ HẠNH
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ
KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. NGUYỄN HỮU CHÂU
̣
N VÊ
̀
ĐA
́
NH GIA
́
VA
̀
QUA
̉
N LY
́
HOẠT
ĐỘNG ĐA
́
NH GIA
́
KÊ
́
T QUA
̉
HO
̣
C TÂ
̣
P CU
̉
A SINH VIÊN
34
1.4.2. Quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên Hệ Vừa làm
vừa học
36
Tiểu kết chương 1
38
Chƣơng 2: THƢ
̣
C TRA
̣
NG HOẠT ĐỘNG ĐA
́
NH GIA
́
VA
̀
QUA
̉
N LY
́
HOẠT ĐỘNG ĐA
́
NH GIA
́
KẾT QUẢ HO
̣
C TÂ
̣
P CU
2.1.1. Khái quát về trường Đại học Kiến trúc Hà Nôi
39
2.1.2. Mục tiêu đào tạo của trường Đại học Kiến trúc Hà Nội
40 vi
2.1.3. Loại hình và quy mô đào tạo của Nhà trường
42
2.1.4. Tổ chức bộ máy quản lý của trường Đại học Kiến trúc Hà Nội
46
2.1.5. Đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên và nhân viên
48
2.1.6. Cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ đào tạo
52
2.2. Thực trạng về hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên hệ Vừa
làm vừa học tại Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội
53
2.2.1. Nhận thức của giáo viên, cán bộ quản lý và sinh viên về vai trò của
kiểm tra đánh giá kết quả học tập
55
2.2.2. Phương pháp kiểm tra, đánh giá chưa phù hợp
56
2.2.3. Kiểm tra đánh giá chưa kích thích động lực học tập cho sinh viên
58
2.2.4. Chưa xây dựng được ngân hàng đề thi và sử dụng có hiệu quả
60
2.3. Thực trạng Quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên
72
Chƣơng 3: CC BIỆN PHP QUẢN L HOẠT ĐỘNG ĐNH GI
KÊ
́
T QUA
̉
HO
̣
C TÂ
̣
P CU
̉
A SINH VIÊN HỆ VƢ
̀
A LA
̀
M VƢ
̀
A HO
̣
C
TẠI TRƢNG ĐẠI HC KIẾN TRC H NỘI 73
3.1. Các nguyên tắc xây dựng giải pháp:
73
3.1.1. Đảm bảo tính khoa học
73
3.1.2. Đảm bảo tính thực tiễn
1. Kết luận
103
2. Khuyến nghị
104
TI LIỆU THAM KHẢO
105
PHỤ LỤC
107
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1
Quy mô đào tạo đại học hệ chính quy (tính đến năm 2011)
43
Bảng 2.2
Quy mô đào tạo đại học hệ vừa làm vừa học (tính đến tháng
5/2012)
44
Bảng 2.3
Số học viên cao học của Trường từ năm 2006 đến 2011
45
học tâp
71
Bảng 3.1
Kế hoạch kiểm tra đánh giá
77
Bảng 3.2
Hình thức kiểm tra đánh giá các môn học trong chương trình
79
Bảng 3.3
Hình thức kiểm tra đánh giá môn Ngoại ngữ
79
Bảng 3.4
Mẫu dàn bài các bài kiểm tra
81
Bảng 3.5
Mẫu thống kê kết quả thi đối với bài tự luận
83
Bảng 3.6
Mẫu thống kê đối với bài thi trắc nghiệm
83
Bảng 3.7
Kết quả khảo sát sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp
99
Hình 2.4
Kết quả bài kiểm tra, bài thi luôn tạo động lực cho sinh viên
trong học tập
59
Hình 2.5
Quy trình kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên hệ
vừa làm vừa học
62
Hình 3.1
Kết quả khảo sát sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp
100
47
Sơ đồ 3.1
Các biện pháp quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập
của sinh viên hệ Vừa làm vừa học tại Trường Đại học Kiến
trúc Hà Nội. 75
Sơ đồ 3.2
Mục tiêu môn học
78
thành lập trên toàn quốc, phần nào đã đáp ứng được nhu cầu của người học, giảm 2
tải bớt cho các trường công lập nhưng cũng đặt ra sự cạnh tranh, thách thức cho các
trường về cách thức quản lý cũng như chất lượng giảng dạy phải không ngừng được
nâng cao. Từ những lý do trên đang đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với người làm công
tác quản lý giáo dục phải tổng kết, đúc rút kinh nghiệm, tìm ra các biện pháp đồng
bộ, mang tính khả thi.
Để nâng cao chất lượng đào tạo ở trường đại học Kiến trúc Hà Nội, cùng với
việc đổi mới, hoàn thiện chương trình nội dung đào tạo, đổi mới phương pháp đào
tạo thì khâu đánh giá kết quả học tập của sinh viên là một khâu rất quan trọng trong
công tác đào tạo ở bậc đại học. Đánh giá không chỉ nhằm đánh giá năng lực, trình
độ nhận thức của sinh viên mà còn tạo ra động lực thúc đẩy cả quá trình dạy và học.
Thông qua công tác đánh giá, sinh viên sẽ tự điều chỉnh phương pháp học của mình
còn giáo viên dựa vào kết quả đánh giá, phân loại được sinh viên và điều chỉnh
phương pháp giảng dạy cho các khóa học sau. Tuy nhiên hiện nay ở hầu hết các cơ
sở giáo dục, việc đánh giá vẫn chưa được nghiên cứu một cách đúng mức, giáo viên
phần nhiều chưa nhận thức được hết tầm quan trọng từ kết quả kiểm tra đánh giá
của sinh viên, do đó chưa đánh giá hết năng lực của người học. Trải qua mấy chục
năm, quan niệm, hiểu biết, cách đánh giá của cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên ít
thay đổi, chủ yếu là làm theo kinh nghiệm và thói quen. Cách đánh giá còn phiến
diện, đơn điệu, đôi khi còn chủ quan thiếu chính xác, chưa đánh giá hết được mục
tiêu đề ra, còn mang tính nể nang và cho điểm theo cảm tính. Vì vậy khâu đánh giá
chất lượng đào tạo vẫn chưa phản ánh thực chất và còn nhiều vấn đề bất cập. Đặc
biệt là với sinh viên hệ Vừa làm vừa học. Do đặc thù học viên tham gia học hệ đào
tạo này chủ yếu là những cán bộ đang công tác tại các cơ quan Nhà nước hoặc trong
các doanh nghiệp, họ chưa được đào tạo một cách hoàn chỉnh theo yêu cầu của công
việc đang đảm nhận, mà trong thực tiễn còn rất nhiều trường hợp cán bộ đương
chức chưa được đào tạo cơ bản, hay đã được đào tạo nhưng ở trình độ còn thấp,
làm vừa học tại Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội.
5. Giả thuyết khoa học
Nếu quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên hệ vừa làm
vừa học của Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội tập trung vào một số biện pháp được
đề xuất trong luận văn thì có thể nâng cao hiệu quả đánh giá trong quá trình dạy
học, làm nâng cao chất lượng đào tạo ở Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội.
4
6. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về không gian: Luận văn chỉ nghiên cứu hoạt động quản lý đánh giá
kết quả học tập của sinh viên hệ Vừa làm vừa học tại địa điểm Trường Đại học Kiến
trúc Hà Nội.
Phạm vi thời gian: Khảo sát và sử dụng số liệu trong vòng 4 năm (từ năm
2008 đến năm 2011).
Phạm vi nội dung nghiên cứu: Biện pháp quản lý hoạt động đánh giá kết quả
học tập của sinh viên hệ Vừa làm vừa học tại Trường đại học Kiến trúc Hà Nội.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: gồm các phương pháp phân tích, tổng hợp và xử
lý số liệu. Kế thừa các nghiên cứu đã có.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Phát phiếu điều tra: Tiến hành nghiên cứu với số lượng khoảng 200 phiếu điều tra
dành cho các đối tượng là cán bộ quản lý, cán bộ giáo viên đang trực tiếp đứng lớp,
sinh viên đang theo học hệ Vừa làm vừa học tại Trường từ khoá học 2008 đến 2011.
+ Phỏng vấn: Dự kiến phỏng vấn đối với một số đối tượng là cán bộ quản lý,
chuyên viên phòng đào tạo, khảo thí và kiểm định chất lượng, thư ký khoa Tại chức
và một số cán bộ giảng dạy.
- Phương pháp thống kê: Xử lý các số liệu thu được từ khảo sát thực tế.
- Viết báo cáo tổng kết đánh giá, so sánh và đề xuất
̉
N LY
́
HOẠT ĐỘNG
ĐA
́
NH GIA
́
KÊ
́
T QUA
̉
HO
̣
C TÂ
̣
P CU
̉
A SINH VIÊN
1.1. Lịch sử nghiên cứu
1.1.1. Trên thế giới
Một trong những người đầu tiên đưa ra khái niệm đánh giá giáo dục là Ralph
Tyler, ông sử dụng thuật ngữ đánh giá để biểu thị quy trình đánh giá sự tiến bộ của
người học theo các mục tiêu đạt được. Ông thầy rằng quy trình này rất quan trọng
trong việc cung cấp thông tin để đạt được các mục tiêu và độ chính xác, hiệu quả
trong quá trình học tập. Tyler đưa ra sơ đồ thể hiện 3 yếu tố chính trong quá trình
giáo dục là: mục tiêu, kinh nghiệm học tập và đánh giá người học. Đó là: Các mục tiêu
là xem xét khả năng đạt được của người học về mục tiêu chương trình. Ông đã cho
ra đời sơ đồ hợp lý của mình, đây là một bước nhảy có ảnh hưởng cho các thuyết
sau này.
Thời kỳ những năm 60 đánh giá giáo dục đã có sự phát triển rộng. Nhiều mô
hình đánh giá được đưa ra. Năm 1966, mô hình CIPP của L.D. Stufflebean được
hình thành dựa trên sự kết hợp của đánh giá bối cảnh (Context), đánh giá đầu vào
(Input), đánh giá quá trình (Process), đánh giá kết quả (Product). Năm 1967, M.
Scriven đã đưa ra mô hình đánh giá không theo mục tiêu (Goal Free). Tiếp theo là
sự ra đời của mô hình đáp ứng câu hỏi (Responsive) do R.E. Stake khởi xướng…
Đến những năm 70 và 80 của thế kỷ trước, kiểm tra đánh giá đã có các tiêu
chí, công cụ, chương trình đánh giá có sự hỗ trợ của kỹ thuật. Kiểm tra đánh giá
được coi chính là sự học tập và được xác định bởi 8 khả năng, đó là khả năng thu
thập thông tin, phân tích, giải quyết vấn đề, nhận biết về giá trị, tác động đến xã hội,
đáp ứng môi trường toàn cầu, làm việc hiệu quả và trách nhiệm công dân, đáp ứng
về phương tiện thẩm mỹ. Merchers và Lehnmann (1975) cho rằng kiểm tra đánh giá
là giải thích và miêu tả thành tích học tập của sinh viên.
Năm 1971, B.S.Bloom cùng George F.Madaus và J.Thomas Hastings cho ra
đời cuốn sách “Evaluation to improve Learning” (Đánh giá để thúc đầy học tập). 7
Cuốn sách này dành cho giáo viên, viết về kỹ thuật đánh giá kết quả học tập của học
sinh. Nếu được áp dụng đúng cách, việc đánh giá học sinh sẽ giúp giáo viên hỗ trợ
học sinh cải thiện khả năng học tập. Cuốn sách thông qua việc liên kết các kỹ thuật
đánh giá tốt nhất, nhằm hỗ trợ các giáo viên sử dụng đánh giá như một công cụ để
cải tiến cả quy trình dạy và học.
Từ năm 1985 đến nay kiểm tra đánh giá được coi là chương trình rèn luyện
kỹ năng hoạt động. Tại một số trường đại học của Mỹ đã nghiên cứu và đưa ra 8 kỹ
năng tư duy sáng tạo và giải quyết vấn đề. Đó là kỹ năng viết, kỹ năng nói và giao
tiếp, kỹ năng phân tích số lượng, kỹ năng sử dụng máy tính, kỹ năng sử dụng thư
1.1.2. Tại Việt Nam
Giai đoạn trước năm 2007: Bộ Giáo dục & Đào tạo đã có những quy định về
đánh giá kết quả học học tập, nhưng trong những quy định này vẫn còn thiếu tính hệ
thống. Do vậy, việc kiểm tra- đánh giá ở các Trường đại học vẫn còn thiếu khoa học
và tồn tại nhiều bất cập. Hoạt động đánh giá tại các trường chủ yếu xuất phát từ
kinh nghiệm và truyền thống kiểm tra đánh giá trước đó. Việc ra đề thi cũng từ
những giáo viên trực tiếp giảng dạy. Các giảng viên vẫn chưa được đào tạo về
phương pháp và kỹ thuật đánh giá cho nên vẫn thực hiện theo kinh nghiệm. Kết quả
đánh giá vẫn chỉ dừng lại ở xếp loại sinh viên nên chưa phát huy hết giá trị.
Giai đoạn từ năm 2007 đến nay: Bộ Giáo dục & Đào tạo đã ban hành quy
chế 43/2007 về đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ. Quy
chế này có khác với quy chế 25, là kỳ thi phụ sẽ được tổ chức nếu có điều kiện, và
cách tính điểm đánh giá bộ phận và điểm học phần. Với quy định của quy chế này
thì kết quả học tập của mỗi học phần sẽ có ít nhất 2 thành phần: đó là điểm quá trình
và điểm thi kết thúc học phần. Quyết định số 36/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày
28/6/2007 của Bộ Trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo về việc ban hành Quy chế đào
tạo đại học và cao đẳng hình thức vừa làm vừa học thay thế Quyết định số
3676/GD-ĐT ngày 9/12/1994 của Bộ Trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo Ban hành quy
chế về thi, kiểm tra học phần, xét cấp chứng chỉ đại học đại cương, thi và công nhận
tốt nghiệp cho hệ đại học, cao đẳng tại chức ở các trường đại học, cao đẳng.
Trong thời gian qua, ở trong nước đã có nhiều công trình của một số tác giả
nghiên cứu về vấn đề đánh giá chất lượng giáo dục nói chung và đánh giá kết quả
học tập của học sinh nói riêng. Xuất hiện một số tài liệu dịch, một số bài báo đề cập
đến vấn đề đánh giá giáo dục, cụ thể: 9
- Tác giả Hoàng Đức Nhuận và Lê Đức Phúc, hai ông đã thực hiện công trình
nghiên cứu khoa học công nghệ cấp Nhà nước và cho xuất bản cuốn sách “Cơ sở lý
luận của việc đánh giá chất lượng học tập của học sinh phổ thông” (3/1995). Tài
phương pháp và vận dụng các mô hình đánh giá một cách hợp lý, khoa học. Để từ
đó lập được kế hoạch kiểm tra đánh giá cho cả môn học từ khi bắt đầu đến khi kết
thúc môn học.
Ngoài ra, một số công trình, đề tài nghiên cứu khoa học, bài báo, một số luận
án nghiên cứu sinh có đề cập đến vấn đề đánh giá chất lượng giáo dục, đánh giá kết
quả học tập của sinh viên, học sinh như:
- Luận án của nghiên cứu sinh Lê Thị Mỹ Hà, Xây dựng quy trình đánh giá kết quả
học tập của học sinh trung học cơ sở. năm 2011.
- Cấn Thị Thanh Hương – Vương Thị Phương Thảo, Nghiên cứu đổi mới phương
thức tổ chức kiểm tra đánh giá kết quả học tập bậc đại học”, Đại học quốc gia
9/2008.
- Nguyễn Đức Vũ, Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm tra- đánh giá ở đại
học”, Huế. 2005.
- Ngô Thị Kim Dung, Đổi mới công tác Kiểm tra- đánh giá tại Trường đại học Kiến
trúc Hà Nội phù hợp với phương thức đào tạo theo tín chỉ, Đề tài nghiên cứu khoa
học cấp Trường 2010.v. .v.
Tuy nhiên, cho đến nay chúng tôi vẫn chưa thấy có tài liệu nào, đề tài nào
nghiên cứu đến vấn đề Biện pháp quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của
sinh viên hệ Vừa làm vừa học. Chính vì thế đề tài “Biện pháp quản lý hoạt động đánh
giá kết quả học tập của sinh viên hệ Vừa làm vừa học tại Trường đại học Kiến trúc
Hà Nội.” được tác giả lựa chọn và nghiên cứu với các số liệu được điều tra, thu thập để
làm luận văn cho khóa học, với mong muốn góp phần nhất định vào việc quản lý nhằm
nâng cao chất lượng đào tạo và quản lý đào tạo của Trường với yêu cầu phát triển của
xã hội và phù hợp với đối tượng học tập trong giai đoạn hiện nay.
1.2. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài nghiên cứu
1.2.1. Quản lý
1.2.1.1. Khái niệm
Khoa học quản lý xuất hiện cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Nó
là phạm trù tồn tại khách quan, được ra đời một cách tất yếu do nhu cầu của mọi
chế độ xã hội, mọi tổ chức, mọi Quốc gia và mọi thời đại.
3. Người quản lý phải hợp tác đầy đủ, toàn diện với người bị quản lý để đảm
bảo chắc chắn rằng họ làm theo phương pháp đúng đắn;
4. Có sự phân công trách nhiệm rõ ràng giữa người quản lý và người bị quản lý. 12
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì: “Hoạt động quản
lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến
khách thể quản lý (người bị quản lý)- trong một tổ chức- nhằm làm cho tổ chức vận
hành và đạt được mục đích của tổ chức”.
Còn theo H. Fayol (1841-1925) xuất phát từ nghiên cứu các loại hình hoạt
động quản lý và phân biệt thành 5 chức năng cơ bản: “ kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ
huy, phối hợp và kiểm tra” sau này kết hợp lại thành 4 chức năng cơ bản của quản
lý: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra. Theo nghiên cứu của mình ông đã đưa ra
14 nguyên tắc trong quản lý là: Phân công lao động, quyền hạn, kỷ luật, thống nhất
chỉ huy, thống nhất chỉ đạo, quyền lợi cá nhân phải phục tùng quyền lợi chung, tiền
lương xứng đáng, tập trung hoá, sợi dây quyền hạn, trật tự, bình đẳng, ổn định đội
ngũ, sáng kiến và tinh thần đồng đội…
Qua một số các khái niệm trên ta thấy quản lý có những đặc trưng cơ bản sau:
Quản lý bao giờ cũng được cấu thành bởi hai thành tố đó là chủ thể và khách
thể quản lý. Chủ thể và khách thể quản lý có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau,
chủ thể làm nảy sinh các tác động quản lý, còn khách thể làm nảy sinh các giá trị
vật chất và tinh thần, có giá trị sử dụng trực tiếp đáp ứng nhu cầu của con người,
thoả mãn mục đích của chủ thể quản lý. Dưới các cách tiếp cận khác nhau thì thuật
ngữ quản lý được hiểu theo các khía cạnh đó. Mặc dù vậy hiểu theo một cách khái
quát thì quản lý là hoạt động có mục đích của con người.
Tóm lại:“Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ
chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một
cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất”.
1.2.1.2. Chức năng của Quản lý
Sơ đồ 1.2. Mối quan hệ giữa các chức năng của quản lý
Kế hoạch hoá
Kiểm tra
Tổ chức
Chỉ đạo - Lãnh đạo 14
1.2.2. Biện pháp quản lý
Theo đại từ Tiếng Việt (1999) do tác giả Nguyễn Như Ý chủ biên thì biện
pháp là: “ Cách làm, cách tiến hành, giải quyết một vấn đề cụ thể”.
Biện pháp quản lý là tổ hợp nhiều cách thức tác động của chủ thể quản lý lên
đối tượng quản lý nhằm tác động đến đối tượng quản lý để giải quyết những vấn đề
trong công tác quản lý, làm cho hệ quản lý vận hành đạt mục tiêu mà chủ thể quản
lý đã đề ra và phù hợp với quy luật khách quan, nâng cao khả năng hoàn thành có
kết qủa các mục tiêu đặt ra. Biện pháp quản lý đòi hỏi sự tác động tương hỗ, biện
chứng giữa chủ thể và khách thể quản lý.
Có 4 loại biện pháp quản lý cơ bản là: Biện pháp hành chính tổ chức, biện
pháp tâm lý- giáo dục, biện pháp thuyết phục và biện pháp kinh tế.
Biện pháp hành chính tổ chức: là các tác động trực tiếp của chủ thể quản lý
phù hợp hay không và có đạt được mục tiêu hay không, hai là việc giảng dạy có
thành công hay không, người học có tiến bộ hay không.
Theo tác giả Nguyễn Đức Chính thì thuật ngữ đánh giá được định nghĩa:
“Đánh giá là quá trình thu thập và xử lý thông tin một cách có hệ thống nhằm xác
định mục tiêu đã và đang đạt được ở mức độ nào”.
Hoặc “ Đánh giá là quá trình thu thập thông tin và dữ liệu một cách hệ thống
về năng lực và phẩm chất của người học và sử dụng các thông tin đó đưa ra quyết
định về người học dạy học trong tương lai”.
Theo tác giả Trần Bá Hoành “ Đánh giá là quá trình hình thành những nhận
định, phán đoán về kết quả của công việc dựa vào việc phân tích những thông tin
thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra nhằm đề xuất những
quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và
hiệu quả công việc”.
Trong giáo dục thì: “ Đánh giá là quá trình thu thập thông tin và dữ liệu một
cách có hệ thống nhằm mục đích giúp người học hoạch định chính sách lựa chọn
một phương pháp khả thi để tiến hành công việc giáo dục của mình”.
Kiểm tra đánh giá kết quả học tập là sự so sánh, đối chiếu kiến thức, kỹ năng,
thái độ thực tế đạt được ở người học với các kết qủa mong đợi đã xác định trong
mục tiêu dạy học để tìm hiểu và chuẩn đoán trước và trong quá trình dạy -học hoặc
sau một quá trình học tập (đánh giá kết thúc). 16
Đánh giá giáo dục vừa là một lĩnh vực nghiên cứu khoa học quản lý giáo
dục, vừa là một công cụ hữu hiệu của quản lý giáo dục nhằm phán đoán giá trị của
sự nghiệp giáo dục để điều chỉnh, kiểm nghiệm trình độ phát triển của sự nghiệp
giáo dục và cải tiến để giáo dục ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của cộng đồng
xã hội.
Như vậy, đánh giá trong giáo dục là sự xem xét, so sánh độ tương thích giữa
những thông tin thu thập được về quá trình giáo dục với chuẩn mực, tiêu chuẩn
mục tiêu phát triển hoạt động dạy và học, đồng thời phải đảm bảo lợi ích cho người
được đánh giá phát triển. Vì vậy, hoạt động đánh giá cần tuân theo những chuẩn
mực nhất định, và phải được ghi rõ trong văn bản quy định hoạt động kiểm tra đánh
giá. Phải được công khai đối với người được đánh giá.Việc kiểm tra, đánh giá phải
được xác định rõ về mặt nội dung cũng như cách thức, thời điểm thực hiện, có như
thế mới tránh được sự tùy tiện, ngẫu hứng trong quá trình đánh giá, kết quả mới
đảm bảo tính công bằng. Hoạt động kiểm tra đánh giá phải trả lời được nhưng câu
hỏi sau:
1. Mục tiêu của kiểm tra đánh giá?
2. Nội dung kiểm tra đánh giá?
3. Tiêu chuẩn, tiêu chí kiểm tra đánh giá?
4. Kiểm tra đánh giá bằng phương pháp nào, phương tiện nào?
5. Ai kiểm tra đánh giá?
6. Thời điểm kiểm tra đánh giá?
7. Địa điểm kiểm tra đánh giá?
8. Quyền lợi và trách nhiệm của người được kiểm tra đánh giá?
9. Tính pháp lý của việc kiểm tra đánh giá?
* Tính khách quan: Trong quá trình kiểm tra đánh giá thì tính khách quan
là nguyên tắc đầu tiên và tiên quyết, bởi vì phải đảm bảo được tính khách quan thì
kết quả của đánh giá mới có độ tin cậy cao. Việc kiểm tra đánh giá khách quan có
tác dụng kích thích động cơ và tính tích cực học tập của người học. Ngược lại, nếu
kết quả đánh giá thiếu khách quan sẽ nảy sinh các tác động xấu đến tâm lý của
người học. Tính khách quan của hoạt động kiểm tra đánh giá phụ thuộc vào phẩm
chất, năng lực nghiệp vụ của người đánh giá, phụ thuộc vào tính quy chuẩn của việc
đánh giá, vào quan điểm, phương pháp và phương tiện đánh giá. 18
Việc vi phạm tính khách quan trong hoạt động kiểm tra đánh giá do nhiều
nguyên nhân chủ quan và khách quan, trong đó lý do chủ quan cần được hạn chế