ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM TRỊNH VĂN HẢI
CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
PHÒNG CHỐNG MA TÚY TRONG TẬP THỂ SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT NAM ĐỊNH TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60 14 05
Người hướng dẫn khoa học: NGƯT.TS. Nguyễn Gia Quý
- Thư viện khoa Sư phạm, Đại học Quốc gia Hà Nội
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 2
4. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU 2
5. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 3
6. GIỚI HẠN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
7. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
8. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN 4
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÁC HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG MA
TUÝ TRONG TẬP THỂ SINH VIÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM KỸ THUẬT NAM
ĐỊNH 5
1.1. VÀI NÉT TỔNG QUAN VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU 5
1.2. MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ MA TUÝ - CÁC TỆ NẠN XÃ HỘI VÀ
GIÁO DỤC PHÒNG, CHỐNG MA TUÝ - CÁC TỆ NẠN XÃ HỘI
CHO SINH VIÊN CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC - CAO ĐẲNG. 9
1.2.1 KHÁI NIỆM MA TUÝ 9
1.2.2. TÁC HẠI CỦA MA TUÝ VÀ CÁCH PHÒNG, CHỐNG 14
1.2.3. ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ, SINH LÝ CỦA LỨA TUỔI SINH VIÊN
VÀ CÁC PHƢƠNG PHÁP LỰA CHỌN CÁC CÁCH PHÒNG CHỐNG
MA TUÝ PHÙ HỢP VỚI SINH VIÊN. 19
1.3. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ 23
1.3.1. KHÁI NIỆM QUẢN LÝ. 23
1.3.2. NHỮNG CHỨC NĂNG CƠ BẢN CỦA QUẢN LÝ. 25
2.4. THỰC TRẠNG CHẤT LƢỢNG GIÁO DỤC PHÒNG CHỐNG
MA TUÝ TRONG TẬP THỂ SINH VIÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ
PHẠM KỸ THUẬT NAM ĐỊNH VÀ THỐNG KÊ THỰC TRẠNG
SINH VIÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM KỸ THUẬT NAM
ĐỊNH NGHIỆN MA TUÝ TRONG THỜI GIAN QUA. PHÂN TÍCH,
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NÀY. 49
2.5. THỰC TRẠNG VIỆC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÒNG
CHỐNG MA TUÝ TRONG TẬP THỂ SINH VIÊN TRƢỜNG ĐẠI
HỌC SƢ PHẠM KỸ THUẬT NAM ĐỊNH 59
2.5.1. PHÒNG CÔNG TÁC HS-SV VỚI CÔNG TÁC QUẢN LÝ
HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG MA TUÝ - CÁC TỆ NẠN XÃ HỘI
TRONG TẬP THỂ SINH VIÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM KỸ
THUẬT NAM ĐỊNH 59 2.5.2. VIỆC XÂY DỰNG KẾ HOẠCH PHÒNG CHỐNG MA TUÝ
CÁC TỆ NẠN XÃ HỘI CHO TẬP THỂ SINH VIÊN TRƢỜNG ĐẠI
HỌC SƢ PHẠM KỸ THUẬT NAM ĐỊNH 62
2.5.3. TỔ CHỨC TRIỂN KHAI, THỰC HIỆN KẾ HOẠCH 64
2.5.4. KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ 65
2.6. NHỮNG NGUYÊN NHÂN CỦA TỆ NẠN MA TÚY TRONG
TRƢỜNG HỌC NÓI CHUNG VÀ TRONG TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ
PHẠM KỸ THUẬT NAM ĐỊNH NÓI RIÊNG. 66
2.7. NHỮNG NGUYÊN NHÂN VỀ SỰ YẾU KÉM TRONG QUẢN LÝ
HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG MA TUÝ CỦA TRƢỜNG ĐẠI HỌC
SƢ PHẠM KỸ THUẬT NAM ĐỊNH 69
CHƢƠNG 3. CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG MA TUÝ TRONG
TẬP THỂ SINH VIÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM KỸ THUẬT NAM ĐỊNH 72
3.1. BIỆN PHÁP THỨ NHẤT: NÂNG CAO NHẬN THỨC, Ý THỨC
TRÁCH NHIỆM CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, GIẢNG VIÊN, CÔNG
2.4. ĐỐI VỚI TRUNG ƢƠNG ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ
CHÍ MINH VÀ TRUNG ƢƠNG HỘI SINH VIÊN VIỆT NAM. 90
2.5. ĐỐI VỚI TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM KỸ THUẬT NAM
ĐỊNH 90
2.6. ĐỐI VỚI GIA ĐÌNH SINH VIÊN 91
2.7. ĐỐI VỚI XÃ HỘI 91
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC 94 CÁC TỪ VIẾT TẮT
TT
Từ viết tắt
Nghĩa của từ viết tắt
1
HS-SV
Học sinh - Sinh viên
2
HIV
Human Immunodeficieney Virus
3
AIDS
Aquired Immunodeficieney Synarome
4
GS-TS
Giáo sƣ - Tiến sỹ
5
GD-ĐT
Giáo dục - Đào tạo
một trong những yếu tố quyết định sự thành bại của cách mạng”.
Song song với những ƣu điểm nêu trên, một bộ phận thanh thiếu niên,
sinh viên vẫn chƣa theo kịp sự tiến bộ chung nhƣ: Chƣa xác định đƣợc vị trí,
trách nhiệm, vai trò của bản thân trƣớc gia đình và xã hội, không chịu vận
động, ỷ lại, lƣời học sa vào các tệ nạn xã hội nhƣ cờ bạc, rƣợu chè, nghiện
hút, tiêm chích ma túy … làm ảnh hƣởng đến tƣơng lai bản thân, đến nhà
trƣờng, gia đình, cộng đồng và xã hội. Nghị quyết TW 2 - Khóa VIII (trang
36) đã khẳng định “Một bộ phận sinh viên có biểu hiện suy thoái về đạo đức,
mờ nhạt lý tƣởng theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp
vì tƣơng lai của bản thân và của đất nƣớc”
Trƣờng Đại học Sƣ phạm Kỹ thuật Nam Định có nhiệm vụ đào tạo giáo
viên dạy nghề cho các trƣờng và trung tâm dạy nghề và giáo viên dạy kỹ thuật
cho các trƣờng phổ thông.
Hiện nay, trƣờng có 6000 sinh viên. Trƣờng quy tụ những sinh viên ở
các độ tuổi khác nhau, ở các địa phƣơng khác nhau trong cả nƣớc đặc biệt là
các tỉnh miền núi phía Bắc nhƣ: Lạng Sơn, Lào Cai, Yên Bái, Điện Biên là
những tỉnh có điểm nóng về tệ nạn ma túy.
Trong những năm qua, song song với công tác đào tạo, công tác quản lý,
giáo dục HS-SV đã đạt đƣợc những kết quả ban đầu. Song trong thực tế hiện
nay thì tình hình xã hội vẫn còn nhiều phức tạp, tiềm ẩn nhiều biến động, các
tệ nạn xã hội nhƣ: Cờ bạc, lô đề, nghiện hút, mại dâm, ma túy… có chiều
hƣớng gia tăng và diễn biến hết sức phức tạp. Tình hình đó đã ảnh hƣởng khá 2
rõ rệt vào nhà trƣờng và gây ra không ít những băn khoăn, trăn trở đối với
những ngƣời quản lý nhà trƣờng.
Là một cán bộ phụ trách về công tác quản lý - giáo dục HS-SV, qua
nhiều năm công tác bản thân cũng đã nhận thức sâu sắc đƣợc trách nhiệm là
phải quản lý, giáo dục HS-SV thật tốt, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các em
Nam Định ngoài ra cũng thu thập ý kiến của giáo viên, cán bộ lớp, cán bộ
Đoàn, cán bộ quản lý trƣờng, cán bộ quản lý các Phòng, Khoa ở Trƣờng Đại
học Sƣ phạm Kỹ thuật Nam Định.
- Đối tƣợng nghiên cứu
Các biện pháp quản lý hoạt động phòng chống ma túy trong tập thể sinh
viên Trƣờng Đại học Sƣ phạm Kỹ thuật Nam Định.
5. Giả thuyết nghiên cứu
Hiện nay công tác quản lý hoạt động phòng chống ma túy trong tập thể
sinh viên Trƣờng Đại học Sƣ phạm Kỹ thuật Nam Định đã đạt đƣợc những
kết quả ban đầu trên mọi mặt kể cả chiều rộng và chiều sâu. Song vẫn còn tồn
tại vẫn chƣa dứt điểm, làm ảnh hƣởng đến chất lƣợng giáo dục, đến tƣ tƣởng
của sinh viên và cán bộ giáo viên, chƣa đáp ứng đƣợc mục tiêu giáo dục của
nhà trƣờng. Nếu có những biện pháp quản lý phù hợp, sát thực mang tính khả
thi, thì công tác quản lý hoạt động phòng chống ma túy - các tệ nạn xã hội
trong tập thể sinh viên nhất định sẽ đạt đƣợc hiệu quả cao hơn.
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Do điều kiện nghiên cứu hạn hẹp, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu các
hoạt động phòng chống ma túy trong tập thể sinh viên Trƣờng Đại học Sƣ
phạm Kỹ thuật Nam Định và kiểm chứng ở mức độ nhận thức về tính khả thi
và hiệu quả của các biện pháp đã đƣa ra.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ của đề tài, tác giả sẽ sử dụng các nhóm
phƣơng pháp nghiên cứu sau:
* Nhóm phƣơng pháp nghiên cứu lý luận
Trong nhóm này sẽ sử dụng các phƣơng pháp: Thu thập, phân tích, tổng
hợp, khái quát, các văn kiện, các chỉ thị, các nghị quyết, các thông tƣ, quyết
định, các công văn, thông báo, các công trình khoa học có liên quan đến công 4
5
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÁC HOẠT ĐỘNG PHÒNG
CHỐNG MA TUÝ TRONG TẬP THỂ SINH VIÊN TRƢỜNG
ĐẠI HỌC SƢ PHẠM KỸ THUẬT NAM ĐỊNH
1.1. VÀI NÉT TỔNG QUAN VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
Trong nhiều thập kỷ qua, tình hình sản xuất, vận chuyển, buôn bán và sử
dụng các chất ma tuý đã và đang diễn ra rất phức tạp. Ma tuý hiện nay đƣợc
coi là vấn đề mang tính toàn cầu. Cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm về
ma tuý cũng nhƣ vấn đề lạm dụng ma tuý đã trở thành vấn đề bức xúc của
mỗi quốc gia, mỗi khu vực trên toàn thế giới. Các quốc gia, các tổ chức quốc
tế liên quan không ngừng tăng cƣờng và hợp tác trong công tác đấu tranh,
phòng chống tội phạm và tệ nạn ma tuý với mục tiêu ngăn chặn và dần dần
đẩy lùi dẫn tới triệt tiêu tệ nạn ma tuý khỏi đời sống xã hội.
Ma tuý gây tác hại nghiêm trọng cho xã hội, vì vậy cũng nhƣ các nƣớc
trên thế giới, nhà nƣớc Việt Nam từ chế độ phong kiến đến chế độ xã hội chủ
nghĩa hiện nay đều không ngừng xây dựng, bổ sung, sửa đổi luật hình sự làm
công cụ sắc bén để đấu trang chống tội phạm ma tuý. Tuy nhiên mỗi giai đoạn
lịch sử, mỗi nhà nƣớc khác nhau thì các chính sách hình sự về tội phạm ma
tuý cũng khác nhau.
Với Việt Nam, căn cứ vào đặc điểm các giai đoạn lịch sử của đất nƣớc
và thái độ của Nhà nƣớc đối với các tội phạm về ma tuý, có thể chia quá trình
hình thành và phát triển của pháp luật hình sự về ma tuý thành năm giai đoạn
sau:
* Giai đoạn I: Sự du nhập các loại cây có chất ma tuý vào Việt Nam và sự
hình thành pháp luật quy định tội phạm về ma tuý của Nhà nƣớc phong kiến
Việt Nam qua các triều đại.
7
đƣợc coi là chính sách nhất quán của Đảng thể hiện qua chỉ thị số 06/CT ngày
30 tháng 11 năm 1996 của Bộ Chính trị “Về tăng cƣờng lãnh đạo, chỉ đạo
công tác phòng, chống và kiểm soát ma tuý”, các chƣơng trình hành động
phòng, chống ma tuý giai đoạn 1998-2000 và chƣơng trình hành động phòng,
chống ma tuý giai đoạn 2001-2005, giai đoạn 2006-2010 và năm 2006 Quốc
hội và Nhà nƣớc đã ban hành Luật phòng chống ma tuý.
Phòng, chống ma tuý nói chung và phòng, chống ma tuý trong học sinh-
sinh viên nói riêng là vấn đề đã đƣợc các nhà khoa học trên thế giới quan tâm
nghiên cứu. Liên hợp quốc, Interpol, các tổ chức quốc tế đã tổ chức nhiều hội
nghị quốc tế và xuất bản nhiều ấn phẩm về vấn đề phòng, chống ma tuý.
Ở nƣớc ta trong những năm qua, các cơ quan nhà nƣớc, các nhà nghiên
cứu của Bộ Công an, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động - Thƣơng binh và
Xã hội, Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia đã nghiên cứu về
ma tuý dƣới nhiều góc độ khác nhau. Trong số này phải kể đến các công trình
nhƣ: Đề tài KX.04.14 của Tổng cục Cảnh sát - Bộ Công an nghiên cứu về
thực trạng, nguyên nhân và giải pháp phòng, chống tội phạm và các tệ nạn xã
hội, “phòng, chống ma tuý trong nhà trƣờng” năm 1997 của Vũ Ngọc Bừng.
Đề tài “Tội phạm về ma tuý - đặc điểm hình sự, dấu hiệu pháp lý, các
biện pháp phát hiện và điều tra” năm 1998 của Nguyễn Phong Hoà .v.v. Một
số công trình nghiên cứu khoa học, luận án cử nhân, thạc sỹ luật học và phó
tiến sỹ, tiến sỹ luật học đã đƣợc nghiên cứu về tội phạm ma tuý, phòng, chống
ma tuý trong phạm vi cả nƣớc hoặc các tỉnh, thành phố trong đó có luận văn
thạc sỹ luật học của Nguyễn Thị Oanh, cán bộ Học viện Cảnh sát nhân dân
Bộ Công an với đề tài “Phòng ngừa tệ nạn sử dụng ma tuý trong học sinh,
sinh viên của lực lƣợng cảnh sát nhân dân Công an Thành phố Hà Nội, thực trạng
và một số giải pháp hoàn thiện”.
Cùng với các đề tài đi sâu nghiên cứu về thực trạng nguyên nhân và giải
TRƢỜNG ĐẠI HỌC - CAO ĐẲNG.
1.2.1 Khái niệm ma tuý
1.2.1.1. Ma tuý là gì?
Trong vài năm gần đây danh từ “ma tuý” đã đƣợc ngƣời ta nhắc đến
nhiều trên các phƣơng tiện thông tin đại chúng. Nhƣng “ma tuý” là gì thì có
nhiều cách hiểu khác nhau. Trƣớc đây, ngƣời ta thƣờng dùng từ “thuốc phiện”
bởi vì khi đó chỉ có thuốc phiện là một chất gây nghiện. Nhƣng ngày nay
những chất gây nghiện ngày càng xuất hiện nhiều, đa dạng, muôn hình, muôn
vẻ, nên ma tuý đƣợc dùng để chỉ các chất gây nghiện nói chung.
Ngày nay, một số ngƣời xem ma tuý là chất độc dƣợc, khi xâm nhập vào
cơ thể sẽ gây ra một số phản ứng làm thay đổi một số chức năng trao đổi chất,
gây những tổn thất lên hệ thống thần kinh, tạo ra trong tâm lý con ngƣời một
thói quen, những khát khao đam mê khó có thể bỏ đƣợc hoặc gây nên những
trạng thái tâm lý không bình thƣờng, làm mất đi một số chức năng cơ bản vốn
có của cơ thể, tạo thành những ảo giác, cảm giác mới lạ hoặc làm giảm cơn
đau. Do đó, hiểu một cách đơn giản nhất thì ma tuý là một số chất tự nhiên
hoặc tổng hợp, khi đƣa vào cơ thể con ngƣời dƣới bất cứ hình thức nào sẽ gây
ức chế hoặc kích thích mạnh hệ thần kinh, làm giảm đau hoặc có thể gây ảo
giác.
Nhƣ vậy, nếu dùng đúng một số chất tự nhiên hoặc một số chất tổng hợp
vào mục đích chữa bệnh, đúng liều lƣợng, đúng lúc theo hƣớng dẫn của thầy
thuốc thì nó có tác dụng tốt. Ví dụ nhƣ Moocphin, dolargan có tác dụng
làm giảm đau. Nhƣng nếu tự ý sử dụng chúng không có sự chỉ dẫn của thầy
thuốc mà chỉ với mục đích giải trí, với liều lƣợng và thời gian bừa bãi, sẽ gây
ra sự thay đổi về chức năng sinh lý và tâm lý trong cơ thể ngƣời, dùng nhiều
lần sẽ quen trở thành nghiện rất có hại cho sức khoẻ. 10
* Đặc điểm của ma tuý
đƣợc trang bị khá tốt chiếm giữ các vùng hiểm trở gây rất nhiều khó khăn cho
quân đội các nƣớc sở tại.
Công việc sản xuất và buôn bán ma tuý mang lại một thu nhập rất cao.
Ví dụ: ở Bôlivia trong những năm 1990-1991 thu mỗi năm từ 400-700 triệu
USD, ở Pêru là 600-700 triệu USD, còn ở Côlombia thì con số lên đến hàng
tỷ USD. Tại khu vực Tam Giác vàng thuộc khu vực Đông Nam Á, chỉ tính từ
năm 1985 đến năm 1989 số lợi nhuận do buôn bán ma tuý mang lại ƣớc tính
lên tới 350 triệu USD.
1.2.1.3. Phân loại ma tuý và cách nhận biết người nghiện ma tuý
Theo quy định của công ƣớc Quốc tế về kiểm soát ma tuý, danh mục các
chất ma tuý, tiền chất cần kiểm soát gồm 247 chất ma tuý và 22 chất có thể
sản xuất ra ma tuý, 22 chất này chƣa phải là ma tuý nhƣng phải áp dụng chế
độ kiểm soát nhƣ các chất ma tuý. Nhƣ vậy, ma tuý có mấy trăm loại khác
nhau. Thƣờng ngƣời ta phân loại theo nguồn gốc, tác dụng hoặc đặc tính của
chúng - Theo nguồn gốc.
* Ma tuý có nguồn gốc tự nhiên
Đó là các cây:
- Cây thuốc phiện (hay còn gọi là cây anh túc) dùng để chiết suất ra
Moocphin làm giảm đau khi bị chấn thƣơng hoặc khi phẫu thuật.
Thuốc phiện có 3 dạng:
Thuốc phiện sống: Là nhựa thuốc phiện mới thu hoạch từ quả và lá
thuốc phiện, phơi khô và đóng gói, đặc dẻo có màu nâu đen xẫm, có mùi
thơm quyến rũ, ít tan trong nƣớc.
Thuốc phiện chín: Đƣợc bào chế từ thuốc phiện sống bằng cách dùng
nƣớc nóng hoà tan nhiều lần thuốc phiện sống, lọc qua vải nhiều lần và sấy
khô lọc rồi đóng thành bánh. Nó có mùi thơm hơn thuốc phiện sống và cũng
có màu nâu đen xẫm. 12
13
- Qua hô hấp nhƣ: Hút (thuốc phiện, cần sa), ngửi, hít (heroin, cocain).
- Qua hệ tiêu hoá nhƣ: Nhai, nuốt, uống
- Qua hệ tuần hoàn nhƣ: Tiêm, chích dƣới da, tĩnh mạch hay bắp thịt.
* Biểu hiện của ngƣời nghiện ma tuý
- Ở thể nhẹ: Ngáp vặt, chảy nƣớc mắt, nƣớc mũi, nƣớc bọt, toát mồ hôi,
ớn lạnh nổi da gà.
- Ở thể nặng: Nôn mửa, đi ngoài, xuất huyết đƣờng tiêu hoá, đau xƣơng,
cơ, khớp, nhức đầu, co giật, hôn mê.
14
Các biểu hiện trên đƣợc đánh giá qua bảng sau đây:
TT
NHỮNG BIỂU
HIỆN
TỶ LỆ
(%)
TT
NHỮNG BIỂU
HIỆN
TỶ LỆ
(%)
1
Ngáp
100
8
Co cứng cơ bụng
75
7
Sút cân
83
14
Lo âu
25
1.2.2. Tác hại của ma tuý và cách phòng, chống
1.2.2.1. Tác hại của ma tuý đối với cơ thể người nghiện
Qua nhiều công trình nghiên cứu trong y học về tác hại và ảnh hƣởng
của ma tuý đối với sức khoẻ con ngƣời đã và đang chứng minh và khẳng định
rằng ma tuý là nguyên nhân phát sinh nhiều loại bệnh tật huỷ hoại sức khoẻ
con ngƣời.
Ma tuý sẽ làm cho những ngƣời nghiện có thể chất và tinh thần rất suy
giảm, dẫn đến tình trạng gầy còm, kém ăn, mất ngủ, rối loạn thần kinh, trí nhớ
kém, ngại vận động…
Đồng thời do tác động của chất ma tuý, ngƣời nghiện còn có cảm giác
giả tạo về sức khoẻ, không kiểm soát đƣợc hành vi của chính mình nhƣ thu
hẹp các phạm vi thích thú, trở nên thô lỗ sinh ra cau có, thích cô độc, hay u
sầu lãnh đạm với ngƣời thân, thờ ơ với công tác và những vui buồn trong
cuộc sống. Đây cũng là nguyên nhân làm cho họ dễ có hành vi trái với chuẩn
mực đạo đức. Đặc biệt đối với những ngƣời sử dụng thuốc phiện kết hợp với
các chất tân dƣợc gây nghiện nhƣ Dolagan, Dearepam… sẽ có tác dụng kích 15
thích thần kinh về tình dục làm cho bản thân họ dễ mất khả năng tự chủ dẫn
đến hành vi phạm tội nhƣ hiếp dâm, bạo dâm…
1.2.2.2. Tác hại đối với Kinh tế - Gia đình - Xã hội.
Theo khảo sát, những ngƣời nghiện ma tuý cho thấy độ nghiện ma tuý
lƣợng ngƣời nghiện nhiều nhƣ vậy đã và đang làm ảnh hƣởng rất lớn đối với
việc phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc, làm thâm hụt nguồn ngân sách của
quốc gia, tạo điều kiện cho các loại tệ nạn xã hội phát triển nhƣ mại dâm, cờ
bạc. Đây cũng là nguyên nhân lây lan đại dịch nhiễm vi rút HIV (Human
Immunodeficiency Virus) đây là loại vi rút làm suy giảm hệ miễn dịch ở
ngƣời và bệnh AIDS (Aquired Immunodeficiency Syndrome) chỉ hội chứng
suy giảm miễn dịch mắc phải.
Theo số liệu thống kê của Uỷ ban quốc gia phòng, chống AIDS và
phòng, chống tệ nạn ma tuý, mại dâm thì chỉ hơn 10 vạn ngƣời nghiện ma tuý
có hồ sơ kiểm soát, mỗi năm ngƣời nghiện ma tuý ở nƣớc ta tiêu phí 2000 tỷ
đồng để hút, hít, tiêm chích và uống ma tuý, đồng thời Chính phủ cũng đã
phải chi phí rất tốn kém cho công tác kiểm soát, phòng, chống ma tuý. Mặt
khác theo số liệu của Bộ Y tế cho biết hiện nay khoảng 70% số ngƣời bị
nhiễm HIV là qua con đƣờng tiêm chích ma tuý.
Ma tuý và tệ nạn nghiện hút ma tuý là nguyên nhân, điều kiện làm phát
sinh tội phạm, đe doạ sự bền vững của an ninh quốc gia và sự trƣờng tồn của
dân tộc. Đây thực sự là mối hiểm hoạ cho cộng đồng và xã hội, chỉ vì có tiền
để thỏa mãn cơn nghiện những ngƣời nghiện có thể bất chấp tất cả luân
thƣờng đạo lý, kể cả giết hại những ngƣời ruột thịt của mình để đạt đƣợc mục
đích.
Nhƣ vậy, tội phạm ma tuý và các tệ nạn xã hội khác luôn luôn là “Ngƣời
bạn đồng hành” có mối quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau và lệ
thuộc lẫn nhau.
1.2.2.3. Công tác đấu tranh phòng chống ma tuý hiện nay
* Trên thế giới: 17
Theo số liệu của Tổ chức Y tế thế giới (OMS) toàn thế giới có khoảng
50 triệu ngƣời nghiện ma tuý, hàng năm sử dụng khoảng 3.303 tấn thuốc
thuốc phiện.
Hiện nay, nạn buôn bán và tệ nghiện hút ma tuý đã lan rộng khắp cả
nƣớc từ thành thị tới nông thôn, đã len lỏi khắp các hang cùng ngõ hẻm, với
mức độ ngày càng gia tăng. Ma tuý không dừng lại ở số lƣợng nhất định
ngƣời cao tuổi, trình độ dân trí thấp mà còn lây lan vào học đƣờng (các
trƣờng phổ thông, cao đẳng, đại học) trên quy mô cả nƣớc với gần 20 triệu
học sinh, sinh viên, chiếm gần 1/4 dân số cả nƣớc.
Đứng trƣớc tình hình tệ nạn ma tuý ngày càng gia tăng phức tạp nhƣ vậy,
đặc biệt là những năm gần đây, Nhà nƣớc đã đặt vấn đề phải xây dựng
chƣơng trình Quốc gia phòng chống và kiểm soát ma tuý để chỉ đạo công tác
này.
Để phòng chống, khắc phục có hiệu qủa tệ nạn ma tuý, Đảng và Nhà
nƣớc ta đã ban hành nhiều văn bản để phối hợp giữa các ban ngành trong cả
nƣớc sớm ngăn chặn, đẩy lùi, tiến tới xoá bỏ tệ nạn ma tuý ở Việt Nam. Nội
dung một số văn bản nhƣ sau:
Ngày 30 tháng 11 năm 1996, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung Ƣơng
Đảng đã ban hành Chỉ thị 06/CT-TW về tăng cƣờng sự lãnh đạo, chỉ đạo công
tác phòng chống và kiểm soát ma tuý. Quyết định số 138/1998/QĐ-TTg của
Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt chƣơng trình hành động phòng chống ma tuý
giai đoạn 2001-2005; Tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khoá X đã thông qua luật
phòng chống ma tuý. Chỉ thị số 37/2004/CT/TTg, ngày 08 tháng 11 năm 2004
về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết 09/1998/NQ-CP về chƣơng trình quốc
gia phòng chống tội phạm ma tuý của Chính phủ đến năm 2010. Đây là những
cơ sở pháp lý quan trọng nhằm huy động sức mạnh tổng hợp của các ngành,
các cấp và các tổ chức xã hội, các tầng lớp nhân dân tham gia phòng, chống
ma tuý.
* Đối với các nhà trƣờng cần phải: