BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HCM Nguyễn Thị Thanh Nga
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
GIẢNG DẠY VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
CỦA GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ
PHẠM KỸ THUẬT TP. HCM
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 5.07.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. ĐOÀN VĂN ĐIỀU
Tp. Hồ Chí Minh, Năm 2007 LỜI CẢM TẠ
Tác giả trân trọng bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến:
- Ban giám hiệu, quý thầy cô, cán bộ viên chức trường Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí
Minh đã trực tiếp giảng dạy và tổ chức học tập cho lớp Cao học quản lý giáo dục khóa 15.
- Các thầy cô, đồng nghiệp, cán bộ quản lý và sinh viên trường Đại học Sư phạm Kỹ
nghiên cứu khoa học (NCKH), nhất là ở bậc Đại học (ĐH) [1, tr.5], cần xây dựng các
trường ĐH, Cao
Đẳng (CĐ) thành trung tâm vừa đào tạo (ĐT) vừa NCKH, ứng dụng và
chuyển giao công nghệ [40, tr.37]. Giải pháp trên hoà
n toàn phù hợp với qui định của Luật
Giáo dục năm 2005: Nhiệm vụ và quyền hạn của nhà trường là tổ chức giảng dạy và học
tập, NCKH, ứng dụng và phát triển công nghệ, tham gia giải quyết những vấn đề kinh tế -
xã hội của địa phương hoặc của đất nước [36, điều 58-59]
.
Thực hiện 2 nhiệm vụ chính trên trong các trường ĐH, các giảng viên (GV) - người
đóng vai trò quyết định - đã có nhiều cố gắng, nhưng chính ngành giáo dục (GD) cũng đã
nhận thấy: Công tác quản lý giáo dục (QLGD) còn hạn chế, nhiều GV, nhà trường chưa tích
cực đổi mới phương pháp dạy và học [6, tr.1]; [42]. Nghị quyết của Chí
nh phủ số
14/2005/NQ-CP ngày 02/11/2005 về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục Việt Nam giai
đoạn 2006-2020 cũng nhận định tương tự và đã chỉ ra một số yếu kém, bất cập về cơ chế
quản lý, qui trình ĐT, phương pháp dạy và học, chất lượng đội ngũ GV và cán bộ QLGD,
v.v...
Nghị quyết đề ra các nhiệm vụ và giải pháp đổi mới có liên quan đến công tác QLGD
là: "Đổi mới nội dung ĐT, gắn kết chặt chẽ với thực tiễn NC
KH, phát triển công nghệ và
nghề nghiệp trong xã hội,... đổi mới phương pháp ĐT,... xây dựng và thực hiện lộ trình
chuyển sang chế độ ĐT theo học chế tín chỉ" [041, tr.4].
The
o những định hướng đó, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.Hồ Chí Minh
(ĐH SPKT TP. HCM) - trường đứng đầu trong hệ thống các trường sư phạm kỹ thuật của cả
nước - những năm qua đã chú trọng đến việc quản lý hoạt động chuyên môn của GV, đặc
biệt là hoạt động giảng dạy và NCKH. Nhiều giải pháp lớn trong quản lý đã được áp dụng:
Xây dựng các qui trình quản lý theo tiêu chuẩn ISO; á
p dụng phương thức ĐT theo học chế
Trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh" để nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Khảo sát công tác quản lý của CBQL đối với hoạt động giảng dạy và NCKH của GV
trường ĐH
SPKT TP.Hồ Chí Minh và từ đó tìm giải pháp quản lý hoạt động chuyên môn
của GV, đáp ứng yêu cầu phát triển của Trường.
3. Giả thuyết nghiên cứu
Nếu đánh giá đúng thực trạng quản lý của CBQL đối với hoạt động giảng dạy và
NCKH của GV Trường ĐHSPKT TP. Hồ Chí Minh, thì sẽ tìm được các giải pháp quản lý
hoạt động chuyên môn phù hợp, đáp
ứng được yêu cầu mà thực tiễn nhà trường đặt ra.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý của CBQL đối với hoạt động giảng dạy và
NCKH của GV Trường ĐHSPKT TP. Hồ Chí Minh
- Khách thể nghiên cứu: Ý kiến của SV, GV và CBQL Trường ĐHSPKT TP. Hồ Chí
Minh về thực trạng công tác quản lý của CBQL đối với hoạt động giảng dạy và NCKH của
đội ngũ GV Nhà trường.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu tài liệu để hình thành cơ sở lý luận về vấn đề quản lý hoạt động giảng
dạy và NCKH của GV trong các trường ĐH.
- Khảo sát thực trạng công tác quản lý của CBQL đối vối hoạt động giảng dạy và
NCKH của GV Trường ĐHSPKT TP. Hồ Chí Minh hiện nay.
- Đề xuất một số giải pháp để đẩy mạnh công tác quản lý đối với hoạt động giảng
dạy và NCKH của GV Trường ĐHSPKT TP. Hồ C
hí Minh.
6. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài, trong quá trình nghiên cứu, các
- Khảo sát công tác quản lý của CBQL đối với hoạt động giảng dạy và NCKH,
ở giới
hạn hoạt động liên quan đến GV, và từ đó tìm các giải pháp đẩy mạnh công tác quản lý hoạt
động chuyên môn của GV Trường ĐHSPKT TP. Hồ Chí Minh.
CHƯƠNG 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cho đến nay, các đề tài NCKH nhằm đẩy mạnh công tác quản lý giảng dạy và
NCKH đã và đang được tiến hành nghiên cứu theo hai hướng:
Hướng 1: Nghiên cứu quá trình quản lý công tác giảng dạy và công tác nghiên cứu
khoa học của GV để tìm ra giải pháp cải tiến hoạt động quản lý đó.
Một số đề tài của hướng nghiên cứu này là:
- Năm 2002, luận văn thạc sỹ của tác giả Phạm T
hị Đoan Trang "Thực trạng quản lý
việc giảng dạy ở Trường Cao đẳng Sư phạm TP. HCM và một số biện pháp nâng cao hiệu
quả giảng dạy" thuộc chuyên ngành "Quản lý và tổ chức công tác văn hóa, GD".
- Năm 2002, luận văn thạc sỹ của tác giả Huỳnh Thị Kim Trang "Thực trạng về công
tác quản lý việc dạy và học ở trường tiểu học của một số phòng GD ĐT quận (huyện)
tại
TP.HCM" thuộc chuyên ngành "Quản lý và tổ chức công tác văn hóa, GD".
- Năm 2003, luận văn thạc sỹ của tác giả Đoàn Thị Bảy "Quản lý hoạt động dạy học
của Hiệu trưởng trường trung học phổ thông thành phố Cà Mau - Thực trạng và giải pháp"
thuộc chuyên ngành "Quản lý và tổ chức công tác văn hóa, GD".
- Năm 2003, luận văn thạc sỹ của tác g
iả Đoàn Thị Ngọc Mai "Thực trạng và giải
pháp tổ chức kiểm tra hoạt động dạy học trên lớp của Hiệu trưởng trường trung học cơ sở tại
thành phố Hồ Chí Minh" thuộc chuyên ngành "Quản lý và tổ chức công tác văn hóa GD".
- Năm 2004, luận văn thạc sỹ của tác giả Hoàng Lê Tuân "Nâng cao hiệu quả công
ga đã đề xuất tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả hoạt động của GV trong các
trường ĐH, CĐ Việt Nam.
- Tác giả Nguyễn Ngọc Hợi, Phạm Minh Hùng, Thái Văn Thành trong bài nghiên cứu
“Một số biện pháp quản lý hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của giáo viên” đã đề xuất giải
pháp đánh giá xếp loại chuyên môn của giảng viên dựa trên căn cứ đánh giá giảng viên tham
gia sinh hoạt chuyên m
ôn, NCKH, giảng dạy, bồi dưỡng và tự bồi dưỡng và đánh giá nội
dung chương trình, phương pháp giảng dạy trên lớp của giảng viên.
Các đề tài nghiên cứu khoa học theo hướng 2 chủ yếu đề cập đến nội dung đánh giá,
kinh nghiệm công tác đánh giá chất lượng GV của một số nước tiên tiến; và việc triển khai
hoạt động đánh giá chất lượng GV ĐH của các trường ĐH ở Việt Nam hiện nay.
Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu thực trạng quản lý của CBQL trong Trường
ĐH SPKT
TP.HCM đối với hai hoạt động giảng dạy và NCKH của GV và dùng các tiêu chí
đánh giá GV để kiểm nghiệm kết quả quản lý, từ đó tìm ra những giải pháp quản lý hoạt
động chuyên môn phù hợp với các nhiệm vụ và mục tiêu ĐT của trường. 1.2 Cơ sở thực tiễn (xem phần phụ lục 1)
1.3 Cơ sở lý luận của đề tài:
1.3.1 Khái niệm về quản lý
Quản lý là hoạt động mang tính xã hội, khoa học, nghệ thuật của chủ thể quản lý tác
động lên đối tượng quản lý, khách thể quản lý một cách hợp qui luật, qua các chức năng
quản lý (lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, kiểm tra) trong một hệ thống xác định, nhằm làm
cho hệ thống vận hà
nh đến mục tiêu đã định.
Có nhiều định nghĩa về quản lý. Theo từ điển tiếng Việt (nghĩa 2),"Quản lý là tổ chức
và điều khiển các hoạt động theo yêu cầu nhất định" [53, tr.789]. Các tác giả khác nhau [20,
tr.28]
; [33, tr.24]; [38, tr.15] diễn đạt khái niệm q
1.3.2 Quản lý hoạt động giảng dạy
Trong trường ĐH, quản lý GD là quản lý các hoạt động của GV trong thực hiện mục
tiêu GD của trường, bao gồm:
- Quản lý việc lập kế hoạch và phân công giảng dạy.
- Quản lý công tác bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyê
n môn của GV.
- Quản lý việc soạn bài và chuẩn bị giờ lên lớp của GV.
- Quản lý giờ lên lớp của GV.
- Quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá.
* Lập kế hoạch:
Lập kế hoạch là thiết kế các bước đi cho hoạt động tương lai để đạt được những mục
tiêu đã xác định thông qua việc sử dụng tối ưu những nguồn lực đã có và sẽ đư
ợc khai
thác... Việc lập kế hoạch trong một trường ĐH được tiến hành ở nhiều cấp [22, tr.113, 141].
CBQL cần tổ chức cho GV tham gia xây dựng 2 bản kế hoạch:
- Kế hoạch thực hiện mục tiêu chất lượng năm học, học kỳ.
- Kế hoạch giảng dạy.
Mỗi đầu học kỳ, GV tham gia đóng góp ý kiến xâ
y dựng kế hoạch thực hiện mục tiêu
chất lượng (kế hoạch của trường, khoa, bộ môn) và phối hợp với phòng ĐT, GV trực tiếp
tham
gia xây dựng kế hoạch của bộ môn, trong đó có kế hoạch giảng dạy của chính mình..
Để GV tham gia thực hiện tốt việc lập kế hoạch giảng dạy, CBQL phải:
- Một là, tạo điều kiện cho GV nắm rõ mục tiêu, kế hoạch, chương trình ĐT
- Hai là, quản lý tốt việc thực hiện chương trình ĐT. Theo điều 15 Điều lệ trường
ĐH, trường ĐH tổ chức xây dựng chương trình ĐT, kế hoạch
giảng dạy và học tập cho các
ngành của trường trên cơ sở chương trình khung của Bộ GD&ĐT [3, tr.3]. Tuy nhiệm vụ
của trường là phải thường xuyên phát triển chương trình ĐT the
o hướng đa dạng hóa, chuẩn
GV, vừa đảm bảo công việc làm cho họ và hoàn thành mục tiêu quản lý. Nếu khối lượng
phân công giảng dạy quá lớn, GV sẽ không có thời gian học tập nâng cao trình độ, chuẩn bị
bài giảng, cập nhật thpong tin và tham gia NCKH cùng các hoạt động xã hội khác của
trường. Nhưng nếu khối lượng giảng dạy quá ít, sẽ ảnh hưởng đến thu nhập của GV vì hiện
nay các trường ĐH trả lương theo định mức giờ giảng.
Kế hoạch giảng dạy của bộ m
ôn và của từng GV so với kế hoạch chung của toàn
trường là rất nhỏ, nhưng nó là những viên gạch tạo nên tòa nhà lớn - là kế hoạch chung của
trường, vì thế CBQL phải có nhiều biện pháp để tổ chức chỉ đạo việc thực hiện kế hoạch
của từng GV, kiểm tra thường xuyên và xử lý kịp thời. “Kế hoạch ĐT phải được ổn định, tiến độ ĐT phải thực hiện theo kế hoạch ĐT,
những hoạt động dạy và học phải được tiến hành nhịp nhàng theo đúng tiến độ để đảm bảo
hiệu quả cao” [23, tr.121].
Tóm
lại, việc lập kế hoạch phân công giảng dạy là việc làm thường xuyên của CBQL
và GV ở đầu mỗi học kỳ, mỗi năm học. Đối với GV, có 2 kế hoạch phải thực hiện: (1) - kế
hoạch thực hiện mục tiêu của trường được triển khai cụ thể trong kế hoạch của khoa và bộ
môn. (2) - kế hoạch giảng dạy. Thực chất kế hoạch giảng dạy là một phần của kế hoạch thực
hiện mục tiêu.
* Quản lý công tác bồi dưỡng
nâng cao trình độ chuyên môn của GV:
Do đòi hỏi của thực tế nghề nghiệp, để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của SV, người
GV luôn phải học tập nâng cao trình độ. Việc học tập nâng cao trình độ của GV được thực
hiện theo 2 hướng: Tự bồi dưỡng và tham gia các hoạt động ĐT lại, dự các lớp và khoá học
bồi dưỡng ở trong và ngoài trường.
Theo Điều lệ trường ĐH, ngoài nhiệm vụ lập kế hoạch bồi dưỡng phát triển đội ngũ
GV, trường ĐH còn có nhiệm vụ tổ chức ĐT lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ c
huyên môn,
- Xây dựng lịch trình, gi
áo án sau khi tìm hiểu kỹ đối tượng SV trong lớp được phân
công giảng dạy.
Việc tham gia viết giáo trình sẽ giúp GV đào sâu, làm phong phú thêm và cập nhật nội
dung giảng dạy [27, tr.43], nên CBQL cần khuyến khích những GV có chuyên môn giỏi
tham gia viết giáo trình. Khi soạn giáo trình, CB
QL cần hướng dẫn thảo luận để đảm bảo
nội dung giảng dạy phù hợp với đầu ra của trường, mang tính cơ bản, hiện đại, sát với thực
tế của đất nước.
CBQL cần thực hiện lần lượt các công việc cụ thể sau:
- Xây dựng qui định về yêu cầu soạn bài và phổ biến cho GV thực hiện.
- Thông báo kịp thời cho GV về gi
áo trình chính, mà nhà trường đã cung cấp cho SV.
- Khuyến khích GV sử dụng tài liệu bằng tiếng nước ngoài chuẩn bị bài giảng.
- Tổ chức cho bộ môn thảo luận thống nhất nội dung cơ bản của giáo án, những cách
giải bài toán khó, cách dạy bài khó...
- Cung cấp danh sách SV kèm thông tin về SV để GV soạn bài cho phù hợp.
Những việc trên rất quan trọng vì trong trường ĐH, SV là người trưởng thành, có
định hướng nghề nghiệp, có khả năng tự học, tiếp thu kiến thức có phê phán và có yêu cầu
cao đối với GV [12, tr.257]; hơn nữa, trong trường ĐH thường ĐT nhiều ngà
nh, bậc, hệ
khác nhau, nên nếu người quản lý giúp GV nắm được thông tin về SV, sẽ tạo điều kiện tốt cho GV xác định nội dung, mục tiêu, phương pháp dạy học phù hợp, đảm bảo tốt các
nguyên tắc dạy học.
- Yêu cầu GV lập lịch trình giảng dạy và ký duyệt. Lịch trình giảng dạy là bảng liệt
kê những bài dạy (lý thuyết, thực hành, bài kiểm tra) xếp theo thứ tự thời gian hợp lý và thời
lượng tương ứng đúng nguyên tắc sư phạm. Lịch trình giảng dạy giúp nhà quản lý kiểm tra
học. - Xây dựng thời khóa biểu khoa học và hợp lý để duy trì nề nếp dạy học, nhịp điệu
dạy học trong ngày và trong tuần. Sử dụng thời khóa biểu là biện pháp quản lý trực tiếp giờ
lên lớp của GV [23, tr.121].
- Theo dõi nhắc nhở khi GV bị nê
u tên trong các thông báo của các cấp lãnh đạo liên
quan đến báo nghỉ, báo dạy bù và trong các phản ánh của thanh tra ĐT, của SV.
- Xử lý kịp thời những trường hợp vi phạm qui chế.
Những vấn đề quan trọng nhất trong quản lý giờ lên lớp là:
- Theo dõi, kiểm tra việc đảm bảo chất lượng giảng dạy của GV trong việc thực hiện
từng bài giảng, môn học và cả chương trình,
cả khoá học. Đây là vấn đề quyết định sự sống
còn của nhà trường.
- Duy trì việc đổi mới phương pháp dạy học. Đây là vấn đề bức thiết để nâng cao chất
lượng giờ giảng, sử dụng các phương pháp sư phạm tích cực hướng vào việc đặt và giải
quyết vấn đề; áp dụng công nghệ dạy học [29, tr.29]; thực hiện dạy học lấy người học làm
trung tâm
để đảm bảo giữ đúng mục tiêu quan trọng nhất của giảng dạy ở trường ĐH là dạy
cách học cho SV, trang bị phương pháp, kỹ năng cơ bản để tăng cường khả năng tự học,
thói quen học suốt đời.
Để thúc đẩy GV nâng cao chất lượng giảng dạy và đổi mới phương pháp giảng dạy
trên, CBQ
L nên chú trọng hơn những việc sau:
- Tăng cường hoạt động dự giờ và sau khi dự giờ, ngoài đánh giá việc chuẩn bị bài
giảng, dạy đúng lịch trình giáo án, kỹ năng sử dụng phương tiện dạy học; CBQL cần chú
trọng tổ chức phân tích sư phạm theo hướng đổi mới phương pháp, ví dụ như dạy học đảm
bảo cho các nhóm SV có trình độ khác nhau đều hiểu bài, dạy cách học cho SV, v.v...
- Về cách thức tổ chức dự giờ, CBQL nên học tập ki
Kiểm tra là công cụ hay phương tiện đo lường trình độ kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của
SV. Đánh giá là một khái niệm nhằm xác định mức độ về trình độ của SV.
Mục đích kiểm tra đánh giá trong dạy học là xác định số lượng và chất lượng của GD
và học tập nhằm khuyến khích SV học tốt và thầy dạy tốt; Nâng cao tinh thần trách nhiệm
của SV với v
iệc học tập, giúp SV hệ thống hóa, khái quát hóa những kiến thức đã học, bổ
sung kịp thời những lỗ hổng trong tri thức, tăng cường trí nhớ, phát triển kỹ năng đọc tài liệu,
tổng hợp, phân tích, tổng kết, giải quyết vấn đề.
Nhờ đánh giá, GV hiểu được trình độ của SV, phân loại, giúp đỡ SV, biết được kết
quả công tác giảng dạy của chính m
ình để điều chỉnh phương pháp, hình thức tổ chức giảng
dạy đạt hiệu quả tốt hơn.
Như vậy, kiểm tra đánh giá kết quả học tập của SV là một phần không thể thiếu trong
quá trình giảng dạy. Đó là kết quả kiểm tra cả việc học tập của SV và việc dạy của người thầy.
Kiểm tra được coi là thực hiện nguyên tắc của mối liên hệ ngược, nhờ đó điều chỉnh quá trình
dạy học. Để đảm bảo quản lý tốt khâu cuối cùng của quá trình dạy học, chủ thể quản lý cần
thực hiện các công việc sau:
- Xây dựng qui trình thi, kiểm tra và hướng dẫn thực hiện theo đúng qui trình. Ban
hành qui chế thi kiểm tra, trong đó quy định rõ hình thức tổ chức (tập trung hoặc riêng lẻ),
cách chấm bài có rọc phách hoặc không, thời gian nộp điểm, v.v...
- Tổ chức để GV tham gia xây dựng và sử dụng bộ đề thi.
- Công bố nội dung, kế hoạch kiểm t
ra đầu năm học để SV có kế hoạch tự học.
- Yêu cầu GV áp dụng đa dạng các hình thức trong thi và kiểm tra.
- Kiểm tra để đảm bảo bài kiểm tra phải có giá trị đáng tin cậy và dễ sử dụng.
- Tổ chức tốt kỳ thi, kiểm tra đảm bảo kết quả kiểm tra học lực của SV phải phản ánh
nhằm tạo ra công nghệ mới, sản phẩm mới;
- Sản xuất thử nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả triển khai thực nghiệm để sản
xuất thử ở quy mô nhỏ nhằm hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới trước khi
đưa vào
sản xuất và đời sống;
- Dịch vụ KH&CN là các hoạt động phục vụ việc NCKH và phát triển công nghệ; các
hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ; các dịch vụ về thông tin, tư
vấn, ĐT, bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng tri thức KH&CN và kinh nghiệm thực tiễn.
Như vậy, nhiệm vụ của GV trong trường ĐH là tham gia các hoạt động
KH&CN,
nhưng theo thói quen vẫn dùng gọi là hoạt động NCKH và thực tế NCKH là phần cơ bản
trong các hoạt động KH&CN. Kết quả của hoạt động NCKH quyết định kết quả của hoạt
động KH&NC, vì thế, trong luận văn này, cụm từ "hoạt động NCKH" được dùng để chỉ
khái niệm "hoạt động KH&CN".
Theo chương IV của Quy định về hoạt động KH&CN trong các trường ĐH, CĐ
thuộc Bộ GD&ĐT ban hành kèm
quyết định số 19/2005/QĐ - Bộ GD&ĐT ngày 15/6/2005
của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT [4], việc quản lý hoạt động NCKH trong trường ĐH, CĐ bao
gồm những nhiệm vụ sau:
- Xây dựng các quy định và quy chế quản lý NCKH.
- Tổ chức xây dựng và thực hiện định hướng, kế hoạch NCKH; kiểm tra, đánh giá,
nghiệm thu và công nhận kết quả NCKH theo quy định hiện hành.
- Xây dựng đội ngũ CB KH&CN của trường.
- Tổ chức giới thiệu, ứng dụng, chuyển gia
o công nghệ, dịch vụ khoa học công nghệ
của trường theo quy định hiện hành. - Quản lý các hoạt động nghiên cứu của các tổ chức thuộc trường và phối hợp với các
phòng chức năng thẩm định về tổ chức, giải quyết những vấn đề về cán bộ…, thực hiện mọi
ĐH.[13, tr.194]. Kết quả nghiên cứu thường tạo ra những hiểu biết mới, hướng giải quyết vấn đề theo
lối mới và những kiến thức mới thu được từ trong quá trình nghiên cứu, xử lý thông tin
được GV đưa vào nội dung bài giảng, làm cho bài giảng sinh động, cập nhật và thực tiễn.
Tiếp cận được những phương pháp nghiên cứu mới, khoa học qua quá trình thực hiện
các khâu cơ bản của việc nghiên cứu sẽ phát triển năng lực và phẩm c
hất hoạt động trí tuệ của
GV.
Tư duy khoa học chỉ xuất hiện trước tình huống có vấn đề. Quen thuộc với các bước
trong NCKH, người GV sẽ dễ dàng kiến tạo ra những hệ thống các tình huống có vấn đề
trong nội dung giảng dạy, xây dựng các bài tập sáng tạo, cách giải bài toán theo lối mới, như
vậy, SV cũng dần có được tư duy khoa học. Sinh viên tham gia NCKH – là động lực chính
để biến quá trình đào
tạo thành quá trình tự đào tạo [32, tr.1].
Đối với SV, "Vai trò của thầy, cô coi như mẫu mực tro
ng cách suy nghĩ và phương
pháp nghiên cứu thông qua hoạt động học thuật", như vậy “GV ĐH là người gắn bó với
NCKH tức là biết nghiên cứu để có thể hướng dẫn SV tự nghiên cứu” [12, tr.226, 224].
Tóm
lại: Ý thức được vai trò của NCKH trong công tác giảng dạy, GV sẽ là người
truyền niềm say mê, tinh thần sáng tạo, cách NCKH, cách học theo phương pháp NCKH
cho SV, vì thế CBQL phải làm cho GV quán triệt được nhiệm vụ NCKH của mình.
* Xây dựng kế hoạch, nội dung chương trình NCKH:
Xây dựng kế hoạch NCKH: CBQL khi xây dựng kế hoạch NCKH của đơn vị phải
căn cứ kế hoạch phát triển của đơn vị; định hướng đề tài, nhiệm vụ NCKH của cấp trên,
định hướng KH&CN của nhà nước, bộ, ngành, tỉnh, thành phố; kết hợp hài hòa với sự tự
nguyện đăng ký tham gia NCKH của GV để có một bản kế hoạch khả thi. “Kế hoạch NCKH
Tham dự hoặc là người tổ chức hội thảo, hội nghị khoa học.
Nội dung NCKH trong nhà trường: Là một vấn đề thuộc về chế định được thể hiện
qua các văn bản, kế hoạch, thông báo, hàng năm của hiệu trưởng về công tác NCKH và
được các cấp quản lý trong trường triển khai xây dựng phù hợp với tình hình của khoa và bộ
môn.
Nội dung chương trình NCKH của trường phải đảm bảo thực hiện đư
ợc nội dung,
chương trình NCKH do Bộ GD&ĐT ban hành, trong đó lưu ý đến trọng tâm nghiên cứu của
trường trên cơ sở và cân đối giữa đề tài mang nội dung KHGD, khoa học nghiệp vụ, khoa
học cơ bản.
Nội dung chương trình NCKH của khoa và bộ môn phải đảm bảo tính phù hợp với mỗi
chuyên ngành ĐT, phù hợp với tình hình của đơn vị, năng lực nghiên cứu của GV và chú trọng
đến tính kế thừa và phát triển các ý tưởng của những đề tài đã nghiên cứu t
rước.
* Quản lý công tác bồi dưỡng nâng cao trình độ và kỹ năng NCKH:
Chất lượng hoạt động NCKH phụ thuộc nhiều vào kiến thức và kỹ năng thực hiện
các hoạt động nghiên cứu và thực hiện các đề tài. Kỹ năng NCKH là khả năng thực hiện thành công các công trình khoa học trên cơ sở
nắm vững các quan điểm, phương pháp luận, sử dụng thành thạo phương pháp và kỹ thuật
nghiên cứu [55, tr.59]. Kỹ năng thực h
iện đề tài thể hiện ở chỗ nắm bắt được phương pháp
NCKH, biết phát hiện vấn đề nghiên cứu, biết xây dựng đề cương nghiên cứu, biết sử dụng
tài liệu khoa học để nghiên cứu, biết viết phiếu điều tra phỏng vấn, thực hiện tốt các khảo
sát bằng phiếu hỏi, phỏng vấn trực tiếp; xử lý đúng số liệu điều tra; có nghĩa là biết tổ chức
các hình thức thực nghiệm
, thí nghiệm để thu thập số liệu.
Kỹ năng NCKH của GV còn thể hiện qua việc xây dựng tốt chương trình ngành học,
dự án; viết giáo trình, các bài báo, chuyên đề khoa học, đề cương nghiên cứu, luận văn khoa
Những thông tin này, CBQL có thể thu thập hoặc mua từ Trung tâm thông tin, và thông báo
trên trang web và bản tin khoa học của Trường.
CBQL cần thường xuyên tổ chức tìm hiểu nhu cầu xã hội (doa
nh nghiệp, nhà máy,
cơ sở sản xuất…) để chọn hướng và xây dựng đề tài NCKH cho GV. Khi đề tài nghiên cứu
tham gia giải quyết những vấn đề cấp bách của chính cơ sở thì kết quả nghiên cứu sẽ được
sử dụng ngay, còn nếu không, "Doanh nghiệp chỉ ứng dụng những kết quả NCKH khi biết
chắc chắn sẽ mang lại lợi nhuận" [49, tr.43].
CBQL giao chỉ tiêu cho GV tìm hướng và xâ
y dựng đề tài NCKH. Với giải pháp này
sẽ làm cho đội ngũ GV quan tâm hơn đến công tác NCKH.
Khâu 2: Tổ chức đăng ký và xét duyệt đề tài.
CBQL trường có nhiệm vụ tổ chức đăng ký và xét duyệt đề tài NCKH cấp trường
hoặc hoàn thành các văn bản, thủ tục để Bộ trưởng Bộ KH&CN xét duyệt các đề tài cấp Bộ,
cấp Nhà nước. Tuy nhiên, "Cơ quan nhà nước” có quyền “lựa chọn cá nhân có năng lực,
phẩm chất, điều kiện chuyê
n môn phù hợp để trực tiếp giao thực hiện những nhiệm vụ khoa
học công nghệ đặc thù" [36, điều 21]
. Áp dụng điều khoản này, trường cũng có thể giao đề
tài cho GV nghiên cứu nhưng phải chịu trách nhiệm về việc giao nhiệm vụ của mình.
Khâu 3: Tạo điều kiện tối ưu để GV thực hiện đề tài:
Sau khi đề tài NCKH của GV được xét duyệt, hợp đồng triển khai nhiệm vụ được ký,
kinh phí được duyệt và giao, GV tiến hành thực hiện đề tài. Trong thời gian này, CBQL cần
tạo mọi điều kiện có thể về thời gian và t
hiết bị cho GV triển khai các đề tài NCKH, đồng
thời, quản lý, theo dõi quá trình thực hiện đề tài NCKH của GV (cụ thể: Chủ tịch hội đồng
khoa học Khoa định kỳ 6 tháng một lần nhận báo cáo của GV và kiểm tra tiến độ thực hiện
đề tài, tổng kết tình hình, báo cáo hiệu trưởng để có biện pháp xử lý kịp thời những tình
huống phát sinh). Mục đích của công việc này là giúp GV t
hực hiện đề tài đúng tiến độ ở
Phâ
n công GV hướng dẫn SV thực hiện các hoạt động NCKH dưới nhiều hình thức:
viết thu hoạch, bài tập lớn, bài viết theo chuyên đề, bài tập thực hành...
Những hoạt động khoa học này thường được CBQL phân công định kỳ cho GV thực
hiện, nhưng để có kết quả tốt CBQL cần áp dụng không những giải pháp hành chính, tổ
chức, tâm lý - giáo dục và cả giải pháp kinh tế để khuyến khích GV thực hiện tốt.