THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM BÀ RỊA – VŨNG TÀU - Pdf 25

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH MAI THỊ QUẾ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIẢNG
VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM
BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Chuyên ngành: Quản lí giáo dục

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRẦN THỊ HƯƠNG


CB, VC Cán bộ, viên chức
CĐSP Cao đẳng Sư phạm
CNH, HĐH Công nghiệp hoá – Hiện đại hóa
BD Bồi dưỡng
ĐH Đại học
ĐT Đào tạo
ĐTB Điểm trung bình
ĐNGV Đội ngũ giảng viên
HS, SV Học sinh, sinh viên
GD - ĐT Giáo dục và Đào tạo
GD Giáo dục
GV Giảng viên
NNL Nguồn nhân lực
NCKH Nghiên cứu khoa học
QLGD Quản lý giáo dục
SV Sinh viên
ThS Thạc sĩ
TS Ti
ến sĩ
UBND Ủy ban nhân dân MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
Trong thế kỷ hội nhập và cạnh tranh - thế kỷ XXI, tất cả các quốc gia đều tìm kiếm con đường
phát triển cho riêng mình: dựa vào nguồn vốn đầu tư, dựa vào tài nguyên, dựa vào lợi thế địa lý, chính
trị, kinh tế. Song có thể nói rằng, hầu hết các quốc gia đều thống nhất: nguồn lực con người là quan
trọng nhất và giáo dục (GD) là con đường cơ bản nh
ất để phát huy nguồn lực con người, phục vụ cho

ng viên sẽ trực tiếp quyết định và ảnh hưởng lâu dài đến
chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non và phổ thông. Bởi vậy, để phát triển GD - ĐT, vấn đề then chốt
là phải xem trọng công tác xây dựng đội ngũ giảng viên đủ về số lượng, chuẩn về trình độ đào tạo,

đồng bộ về cơ cấu, giỏi về chuyên môn, tinh thông về nghiệp vụ, mẫu mực về nhân cách. Điều này tùy
thuộc rất nhiều vào công tác quản lý giáo dục (QLGD), từ việc hoạch định chính sách, tạo ra cơ chế,
qui trình quản lý cho đến việc giám sát, kiểm tra trong quá trình quản lý .
Trường CĐSP Bà Rịa – Vũng Tàu được thành lập trên cơ sở nâng cấp từ trường Trung học Sư
phạm Bà Rị
a – Vũng Tàu theo quyết định số: 4025/2000/QĐ-BGD&ĐT ngày 02 tháng 10 năm 2000
của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Theo đó, trường có nhiệm vụ, vai trò quan trọng trong việc đào
tạo, bồi dưỡng đội ngũ thầy cô giáo và cán bộ quản lý giáo dục của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ở các bậc
học Trung học cơ sở, Tiểu học, Mầm non. Bên cạnh đó, nhà trường tiếp tục phát triể
n đa dạng hóa các
loại hình đào tạo, hợp tác liên kết với một số trường đại học lớn nhằm đào tạo nguồn nhân lực có trình
độ đại học và cao đẳng đáp ứng nhu vầu học tập của người dân và yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại
hóa (CNH – HĐH) của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Trong những năm qua, mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng trường CĐSP Bà Rịa – Vũ
ng Tàu đã
có nhiều đóng góp trong thành tích chung của ngành GD-ĐT của tỉnh nhà với tư cách là "chiếc máy
cái" của ngành GD& ĐT Bà Rịa – Vũng Tàu. Song, trước yêu cầu đổi mới giáo dục và phát triển kinh
tế - xã hội trong giai đoạn hiện nay, đội ngũ giảng viên nhà trường chưa đáp ứng được yêu cầu thực
tiễn đòi hỏi. Để khắc phục vấn đề này, đòi hỏi phải có sự đổ
i mới trong công tác quản lý phát triển đội
ngũ giảng viên.
Xuất phát từ yêu cầu nêu trên, tôi chọn đề tài: “Thực trạng quản lý đội ngũ giảng viên trường
Cao đẳng Sư phạm Bà Rịa – Vũng Tàu” làm luận văn thạc sỹ.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, khảo sát thực trạng và đề xuất các giải pháp quản lý đội ngũ
giảng viên Trường CĐSP Bà R

liên hệ chặt chẽ giữa quản lý đội ngũ giảng viên với quản lý các hoạt động khác của nhà trường. Quản
lý đội ngũ giảng viên là một công tác quản lý quan trọng trong toàn bộ hệ thống quản lý chung của nhà
trường. Thông qua việc nghiên cứu, sẽ
phát hiện ra những yếu tố mang tính bản chất, tính quy luật của
sự vận động và phát triển đội ngũ giảng viên Trường CĐSP Bà Rịa – Vũng Tàu.
6.1.2. Quan điểm lịch sử - logic
Quan điểm lịch sử - logic tìm hiểu, phát hiện sự nảy sinh, phát triển của giáo dục trong những
khoảng thời gian và không gian cụ thể, với những điều kiện, hoàn cảnh cụ
thể để phát hiện cho được
quy luật tất yếu của quá trình giáo dục. Quan điểm này giúp người nghiên cứu xác định phạm vi không
gian, thời gian và điều kiện hoàn cảnh cụ thể, để điều tra thu thập số liệu chính xác, từ đó phát hiện ra
những mối liên hệ đặc trưng về quá khứ - hiện tại - tương lai của đối tượng nghiên cứu và trình bày
công trình nghiên cứu theo một trình tự logic phù h
ợp.
6.1.2. Quan điểm thực tiễn
Cơ sở lý luận phải được minh chứng và hoàn chỉnh thông qua các sự kiện và hoạt động thực
tiễn. Thực tiễn giáo dục là gốc, động lực, tiêu chuẩn, mục đích của toàn bộ quá trình nghiên cứu khoa
học. Qua khảo sát sẽ phát hiện những cứu phát hiện ra những mặt mạnh, mặt yếu của đội ngũ giảng
viên, phát hiện những mâu thu
ẫn, những khó khăn, cản trở công tác quản lý phát triển đội ngũ giảng
viên và nguyên nhân của nó để từ đó đề ra các giải pháp nhằm cải thiện thực trạng đáp ứng được yêu
cầu mới trong giai đoạn hiện nay.

6.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
6.2.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Phương pháp phân tích - tổng hợp, hệ thống hoá và nghiên cứu tài liệu nhằm xây dựng cơ sở lý
luận của đề tài.
6.2. 2.Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.2.1. Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi

Chất lượng của đội ngũ giáo viên là điều kiện quyết định để nâng cao chất lượng giáo dục, vì vậy
vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên là trung tâm của các chương trình cải cách, cải tổ, đổi
mới GD. Đố
i với các trường đại học, cao đẳng trong giai đoạn hiện nay, việc nghiên cứu phát triển đội
ngũ giảng viên là một vấn đề hết sức quan trọng. Điều này không chỉ đúng với Việt Nam mà đã được
chứng minh ở nhiều nước có nền giáo dục phát triển với nhiều bài học đi trước như Hoa Kỳ, Úc, Liên
minh Châu Âu...
Những tư tưởng, quan điểm chỉ
đạo đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, củng cố hệ
thống sư phạm đã được đề ra trong các Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII, Trung ương 2 khóa VIII,
Nghị quyết 14 của Chính phủ về đổi mới cơ bản toàn diện GD ĐH Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020,
Nghị quyết Đại hội Đảng IX, X, Chiến lược phát triển GD 2001 – 2010, Chỉ thị 40 của Ban Bí thư
Trung ương về xây dự
ng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL GD và mới đây nhất là chỉ
thị 296/CT-TTg ngày 27 tháng 02 năm 2010 về đổi mới quản lý giáo dục đại học giai đoạn 2010 –
2012.
Những năm gần đây, sự tăng nhanh về số lượng các trường đại học và cao đẳng trong cả nước
dẫn đến tình trạng mất cân đối về nhiều mặt, trong đó có đội ngũ giảng viên. Nhằm làm sáng tỏ
những
vấn đề lý luận cũng như thực tiễn GD của Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý và
phát triển nguồn nhân lực GD và đã đạt được một số thành công ở một số mặt nhất định như:
- “Đầu tư cho đội ngũ giảng viên là đầu tư cho chất lượng” của Nguyễn Kim Hồng [20]
- “Phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu phát triển nguồn l
ực” của Phan Văn Kha [22]
- “Một số cách tiếp cận trong nghiên cứu và phát triển đội ngũ GV” của Bùi Văn Quân [30];
- “Về nội dung quản lý đội ngũ GV ĐH, CĐ trong thời kỳ đổi mới” của Dương Đức Báu [3];
- “Thực trạng và một số giải pháp xây dựng đội ngũ GV các trường ĐH, CĐ” của Phạm Văn
Thanh [36];
- “Một số yếu tố ảnh hưởng đến ch
ất lượng ĐT nguồn nhân lực tại trường ĐH” của Nguyễn Ánh

1.2.1.1. Quản lý
Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích c
ủa chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng
một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể
nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đã đề ra
[44].
Có thể xem Quản lý là quá trình tác động gây ảnh hưởng tới khách thể thông qua việc thực hiện
các chức n
ăng quản lý, bằng những công cụ và phương pháp mang tính đặc thù nhằm đạt được mục
tiêu chung của toàn hệ thống.
1.2.1.1. Quản lý giáo dục
Công việc quản lý đã xuất hiện tất yếu do yêu cầu của việc tổ chức lao động chung. Quản lý ra
đời là để tạo ra hiệu quả hoạt động cao hơn so với việc làm riêng lẻ của các cá nhân có chung mục tiêu
hoạt động.

Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp, huy động các lực lượng giáo dục và xã hội
nhằm thực hiện có hiệu quả công việc giáo dục; không chỉ là sự nghiệp của các nhà trường, của ngành
GD - ĐT mà là sự nghiệp chung của cả xã hội. [26]
Quản lý giáo dục là quản lý quá trình giáo dục – đào tạo, là quản lý hoạt động của người dạy,
người học và quản lý các tổ ch
ức sư phạm ở các cơ sở khác nhau trong việc thực hiện các kế hoạch,
chương trình GD - ĐT nhằm đạt được cá mục tiêu GD - ĐT đặt ra.
Quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể quản lý nhằm huy động, tổ chức, điều phối,
điều chỉnh, giám sát, … một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục
vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Quản lý trường học
Trường học là cơ sở giáo dục mang tính nhà nước, trực tiếp giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ, trực tiếp
tham gia vào quá trình thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho
đất nước.
Quản lý, lãnh đạo nhà trường là quản lý, lãnh đạo hoạt động dạy của giáo viên, ho

tốt các mục tiêu chiến lược và kế hoạch của tổ chức, tăng cường cống hiến của mọi ng
ười theo khả
năng, phù hợp với chiến lược của tổ chức, đạo đức và xã hội [18].
Quản lý NNL là một chức năng quản lý của nhà quản lý, thể hiện trong việc lựa chọn, đào tạo,
xây dựng và phát triển các thành viên của tổ chức do mình phụ trách.
1.2.2.2. Đội ngũ giảng viên và Quản lý đội ngũ giảng viên
* Đội ngũ
Theo từ điển tiếng Việt: “Độ
i ngũ là tổ chức gồm nhiều người tập hợp lại thành một lực lượng”;
“Đội ngũ là số đông người có cùng chức năng hoặc nghề nghiệp được tập hợp và tổ chức thành một lực
lượng.” [45]
Đội ngũ là một tập hợp những cá nhân có liên hệ với nhau, tạo thành sự thống nhất ổn định, có
tính chỉnh thể, có những thuộc tính và nhữ
ng quy luật tích hợp. Đội ngũ hàm chứa yếu tố sức mạnh và
có những yêu cầu chặt chẽ về cơ cấu, kỷ cương và chất lượng công việc. Ví dụ như đội ngũ công nhân,
đội ngũ các nhà khoa học, đội ngũ trí thức,...
Tóm lại, đội ngũ là một nhóm người được tổ chức và tập hợp thành một lực lượng để thực hiện
một chứ
c năng hay nhiều chức năng, có thể có cùng nghề nghiệp hoặc không cùng nghề nghiệp nhưng
cùng có chung một mục đích nhất định.
* Đội ngũ giảng viên
Giảng viên là nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong các trường Đại học và cao đẳng
[31]. Ở đây cần phân biệt khái niệm giảng viên – nhà giáo với khái niệm giảng viên – một chức danh
của giảng viên trường ĐH -CĐ là những người đủ
tiêu chuẩn ngạch bậc của giảng viên.
Tiêu chuẩn các ngạch công chức bậc đại học (Ban hành kèm theo Quyết định số 538/TCCT –
BCTL ngày 18/12/1995 của Ban Tổ chức – Cán bộ chính phủ) đã quy định chức trách, yêu cầu, hiểu
biết và trình độ của giảng viên, giảng viên chính, giảng viên cao cấp , trong đó ghi rõ: Giảng viên là
công chức chuyên môn đảm nhận việc giảng dạy và đào tạo của trường ĐH, CĐ thuộc một chuyên
ngành đ

Quản lý đội ngũ giảng viên là việc xây dựng, phát triển đội ngũ giáo viên vững mạnh cả về số
lượng và chất lượng, có đầy đủ phẩm chất trí tuệ, năng lực và trình độ chuyên môn để hoàn thành tốt
các nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục và nghiên cứu khoa học.
1.3. Lý luận về đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Sư phạm
1.3.1 Vị trí, vai trò, mục tiêu của trường Cao đẳng Sư phạm
Theo Quyết định số 38/QĐ ngày 15/01/1981 của Bộ giáo dục quy định về tổ chức trường CĐSP
(Điều I, Chương I) là một đơn vị cơ sở của ngành GD thuộc hệ th
ống GD đại học của nước CHXHCN
Việt Nam. Trường CĐSP đóng vai trò quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân. Từ sau Cách
mạng tháng Tám năm 1945 thành công, ngành sư phạm nước ta đã phát triển nhanh chóng, cùng với sự
trưởng thành của dân tộc, của nền GD cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do
Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện. Bên cạnh hệ thống trường đại họ
c Sư phạm, Trung học
Sư phạm,... thì hệ thống trường CĐSP đã đáp ứng kịp thời và hiệu quả nhiệm vụ ĐT, BD đội ngũ giáo
viên các môn học ở các cấp học, từ Mẫu giáo, Tiểu học, Trung học đến CĐ, ĐH và trên ĐH.
Mục tiêu của trường CĐSP là đào tạo chuẩn mực, chất lượng cao cho giáo viên có trình độ cao
đẳng ở các cấp họ
c, ngành học nhằm cung cấp NNL cho các trường từ mẫu giáo đến trung học cơ sở.

Bồi dưỡng chuẩn hóa và nâng chuẩn cho cán bộ và giáo viên từ mầm non đến trung học cơ sở nhằm
tạo điều kiện cho các nhà quản lý giáo dục và giảng viên không ngừng nâng cao trình độ, tiếp cận được
với những kinh nghiệm tiên tiến trong việc tổ chức giảng dạy và học tập ở nhà trường. Đa dạng hóa các
hình thức và ngành nghề đào tạo nhằm phục vụ rộng rãi nhu cầu phát triể
n nguồn nhân lực có trình độ
cao đẳng cho xã hội. Nghiên cứu khoa học nhằm nâng cao trình độ chuyên môn của giảng viên và chất
lượng trong hoạt động đào tạo của nhà trường.
1.3.2. Vai trò, nhiệm vụ của đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Sư phạm
1.3.2.1. Vai trò của đội ngũ giảng viên trường sư phạm
Vai trò của nhà giáo đã được Luật giáo dục 2005 ghi rõ tại Điều 15 như sau: “Nhà giáo giữ vai trò
quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục; Nhà giáo phải không ngừng học tập, rèn luyện, nêu

trường và các quy định khác do Hiệu trưởng ban hành.
2) Giảng dạy theo đúng nội dung, chương trình đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo và nhà trường
quy định; viết giáo trình, phát triển tài li
ệu phục vụ giảng dạy học tập theo sự phân công của trường,
khoa, bộ môn;
3) Chịu sự giám sát của các cấp quản lý về chất lượng, nội dung, phương pháp giảng dạy và
nghiên cứu khoa học;
4) Tham gia hoặc chủ trì các đề tài nghiên cứu khoa học, ứng dụng chuyển giao công nghệ theo
sự phân công của trường, khoa, bộ môn;
5) Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng nhân cách của người học, bả
o vệ
quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người học, hướng dẫn người học trong học tập, nghiên cứu
khoa học, rèn luyện tư tưởng, đạo đức tác phong, lối sống;
6) Không ngừng tự bồi dưỡng nghiệp vụ, cải tiến phương pháp giảng dạy để nâng cao chất lượng
đào tạo;
7) Hoàn thành tốt các công tác khác được trường, khoa, bộ môn giao.
Ngoài 7 nhiệm vụ đã được ghi trong Đ
iều lệ, đội ngũ giảng viên nói chung và đội ngũ giảng viên
trường Cao đẳng sư phạm nói riêng phải luôn phấn đấu, tu dưỡng để trở thành những nhà giáo mẫu
mực, đồng thời có nhiệm vụ giáo dục cho sinh viên lý tưởng nghề nghiệp, từ đó nhận thức đúng đắn về
nghề nghiệp, vai trò, vị trí của mình trong tương lai.
1.4. Những yêu cầu đối với đội ngũ giảng viên tr
ường Cao đẳng Sư phạm
1.4.1. Yêu cầu về phẩm chất
Phải có lý tưởng, tình cảm và đạo đức nghề nghiệp cao thượng, trong sáng; Yêu thương, quý
trọng các thế hệ học trò. Mỗi giảng viên phải đích thực là những tấm gương sáng để các thế hệ sinh
viên noi theo. Điều đó đòi hỏi GV phải không ngừng tự rèn luyện, tự cải tạo như Bác Hồ đã từ
ng dạy:
“Chúng ta cần phải chính tâm, tu thân…” và “… muốn cải tạo xã hội thì phải cải tạo mình” [40].
1.4.2. Yêu cầu về năng lực Sư phạm

thảo các bài giảng cụ thể; Các kỹ năng sư phạm cơ bản về phương pháp đánh giá kết quả học tập của
sinh viên, phương pháp dạy học, phát triển chương trình giáo dục đại học, cách sử dụng các phương
tiện kỹ thuật tiên tiến vào dạy học; Các kỹ
năng phân tích, tổng hợp và đánh giá quá trình dạy học; kỹ
năng đọc, viết, trình diễn và giao tiếp trong quá trình dạy học; Các kỹ năng tổ chức và quản lý trường
đại học (cấp bộ môn, khoa), quản lý sinh viên theo quy định và nhiệm vụ của giảng viên.
1.5. Lý luận về công tác quản lý đội ngũ giảng viên
1.5.1. Ý nghĩa của công tác quản lý đội ngũ giảng viên
Đội ngũ cán bộ, GV là nguồn nhân lực chính của tr
ường sư phạm. Quản lý đội ngũ GV có tầm
quan trọng đặc biệt. Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010 đã xác định: “đổi mới chương trình
giáo dục, phát triển đội ngũ nhà giáo là các giải pháp trọng tâm; đổi mới quản lý giáo dục là khâu đột
phá”. Thông qua công tác quản lý phát triển đội ngũ giảng viên mà chủ thể quản lý có thể ổn định về
số lượng, cơ cấu đội ngũ GV, tạ
o một bộ máy làm việc với hiệu quả cao, phát huy khả năng, năng lực
của mọi thành viên trong đội ngũ, xây dựng thành một tập thể sư phạm đoàn kết, có văn hóa, có phẩm
chất chính trị vững vàng, làm cho mọi thành viên trong đội ngũ luôn sẵn sàng tiếp cận với những đổi
mới trong chuyên môn, nghiệp vụ nhằm nâng cao chất lượng đào tạo theo yêu cầu của ngành học và của xã
h
ội.
1.5.2. Chức năng của công tác quản lý đội ngũ giảng viên

Theo Tiến sĩ Hồ Văn Liên: “Trong quá trình điều hành, người quản lý tiến hành nhiều hoạt động
khác nhau. Nghiên cứu những hoạt động này người ta đã cố gắng tách riêng từng hoạt động ra, dựa
trên tính tương đối độc lập của mỗi hoạt động. Mỗi hoạt động tương đối độc lập được tách ra trong
hoạt động quản lý được gọi là chức năng quản lý.”[26] Có thể
nói, chức năng quản lý là hình thái biểu
hiện sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý. Chức năng quản lý nảy sinh
và là kết quả của quá trình phân công lao động, là bộ phận tạo thành hoạt động quản lý tổng thể, được
tách riêng, có tính chất chuyên môn hóa.

c của nhà trường.
b. Xác định mục tiêu
Dựa vào kết quả đoán định phương hướng phát triển, người quản lý xác định mục tiêu quản lý
ĐNGV đủ và đồng bộ, từng bước nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ thuật và cải thiện đời sống.

Theo Đại từ điển tiếng Việt: “mục tiêu là đích đặt ra cần đạt phải đạt tới đối với một công tác,
nhiệm vụ.”[45] Mục tiêu quản lý trường học là trạng thái được xác định trong tương lai của nhà trường
hoặc một số yếu tố cấu thành nó.
Mục tiêu quản lý đội ngũ giảng viên là “xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên của trường
có ph
ẩm chất và năng lực, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, tiêu
chuẩn hóa về trình độ, bảo đảm sự chuyển tiếp giữa các thế hệ giảng viên của nhà trường.”[16] Theo
phân tích của các nhà nghiên cứu về khoa học quản lý giáo dục, có thể cụ thể hóa yêu cầu về số lượng,
chất lượng và cơ cấu đội ng
ũ giảng viên như sau:
- Đủ về số lượng
Mục tiêu về số lượng giảng viên ở trường CĐ, ĐH phải đảm bảo theo yêu cầu mà Chiến lược
phát triển giáo dục 2001-2010 đã nêu là 20 sinh viên/giảng viên. Trong đó, với các ngành khoa học tự
nhiên là từ 10-15 sinh viên/giảng viên, các ngành khoa học xã hội là 20-25 sinh viên/giảng viên. Ngoài
ra, các trường CĐ, ĐH cũng phải căn cứ Hướng dẫn cách xác định số sinh viên, học sinh quy đổi trên 1
giảng viên, giáo viên quy đổi ban hành theo Công văn 1325/BGDĐT-KHTC ngày 09/02/2007 của Bộ
GD-ĐT, để xây dựng biên chế đội ngũ giảng viên.
- Đạt chuẩn về chất lượng
Chuẩn về chất lượng đội ngũ giảng viên cũng được quy về ba khía cạnh chung, đó là: chuẩn về
trình độ chuyên môn sư phạm (học vấn); chuẩn về nghiệp vụ sư phạm và chuẩn về đạo đức tư cách
người thầy.
- Đồng bộ về cơ cấu
Cơ cấu đội ngũ giảng viên được xét trên các sự tương thích về giới nam nữ, về giảng dạy theo bộ
môn, về tuổi đời, trình độ nghiệp vụ sư phạm (người có tay nghề cao và người bình thường).
Ngoài ra, khi xây dựng tiêu chuẩn giảng viên cần dựa vào tiêu chuẩn chung của cán bộ quy định

ngộ, sự sàng lọc, đào tạo bồi dưỡng, công tác phối hợp quản lý đội ngũ giảng viên,... và các điều kiện
về nguồn lực khác, để đảm bả
o cho công tác quản lý đội ngũ giảng viên đạt đến mục tiêu về số lượng,
chất lượng, cơ cấu. Nội dung của kế hoạch quản lý đội ngũ giảng viên phải xác định và đảm bảo chắc
chắn về các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực), lựa chọn các phương án và biện pháp tối ưu để thực
hiện tốt kế hoạch đề ra. Kế
hoạch phải thể hiện cụ thể, rõ ràng, phản ánh được hoạt động chung của
nhà trường ở từng thời điểm nhất định (từng năm, từng học kỳ, từng tháng,..), đồng thời cho thấy được
trách nhiệm của từng thành viên trong nhà trường.
Sản phẩm quan trọng của chức năng hoạch định là kế hoạch. Có ba loại kế hoạch: kế hoạch chiế
n
lược (giải quyết mục tiêu chiến lược); kế hoạch chiến thuật (giải quyết mục tiêu chiến thuật); kế hoạch
tác nghiệp (giải quyết mục tiêu tác nghiệp). Vì vậy, kế hoạch được xây dựng chặt chẽ, khoa học sẽ
mang tính khả thi cao. Đây cũng đòi hỏi sự đầu tư thỏa đáng về trí tuệ, thời gian của nhà quản lý nhằm
đáp ứ
ng yêu cầu phát triển đội ngũ giảng viên cho nhà trường theo mục tiêu đề ra.
1.5.2.2. Chức năng tổ chức
Tổ chức là một khâu trong chu trình quản lý, là một chuỗi hoạt động diễn ra trong một giai đoạn
của quá trình quản lý.
Hoạt động tổ chức trước hết và chủ yếu là xây dựng cơ cấu tổ chức: xác định các bộ phận cần có,
thiết lập mối quan hệ ngang và dọ
c của các bộ phận, xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của
từng bộ phận: xây dựng qui chế hoạt động.
Một cơ cấu tổ chức được coi là hợp lý khi nó tuân thủ nguyên tắc thống nhất trong mục tiêu. Mỗi
cá nhân đều góp phần công sức vào các mục tiêu chung của tổ chức, đạt mục tiêu đó với mức chi phí
tối thiểu cho bộ máy và cho mọi hoạt
động.

Việc ổn định cơ cấu, giao nhiệm vụ, quyền hạn cho các bộ phận luôn đi đôi với việc xác định
khối lượng công việc và kéo theo sự phân phối nguồn lực, thiết lập bộ máy quản lý và thực hiện

Chỉ đạo là thể hiện tính tích cực của người chỉ huy trong hoạt động của mình. Chỉ đạo thực hiện
kế hoạch là có sự theo dõi và giám sát công việc để chỉ huy, ra lệnh cho các bộ phận và các hoạt động
đội ngũ giảng viên diễn ra đúng hướng, đúng kế hoạch, tập hợp được các lực lượng giáo dục trong một
tổ chức và phối hợp tối ưu với nhau.
Trong khi thực hiện kế hoạch có thể có một số vấn đề chưa phù hợp với thực tiễn cần ph
ải điều
chỉnh cho hợp lý hơn. Người quản lý bám sát hiện trường, phân tích nhanh chóng các vấn đề thực tiễn
để kịp thời điều chỉnh, sửa chữa, bù đắp, chỉnh lý kế hoạch để hoạt động giáo dục đạt hiệu quả tối ưu.

Muốn chỉ đạo tốt người quản lý cần thu thập thông tin chính xác, biết phân tích, xử lý các nguồn
thông tin và đưa ra các quyết định đúng đắn. Điều đó nếu thực hiện tốt sẽ nâng cao uy tín của người
lãnh đạo, còn ngược lại thì sẽ làm giảm uy tín. Nguồn thu tập thông tin quan trọng đó là kiểm tra, kiểm
kê, thanh tra, đánh giá .
Trong quản lý đội ngũ giảng viên, chức năng chỉ đạo có thể coi là quá trình quyết
định, là kỹ
năng ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định quản lý của hiệu trưởng đối với đối tượng quản lý.
Điều quan trọng là người Hiệu trưởng phải thực hiện quyền chỉ huy và hướng dẫn triển khai các nhiệm
vụ, bảo đảm thiết thực và cụ thể với khả năng và trình độ của từng thành viên trong tổ chứ
c. Năng lực
quản lý của Hiệu trưởng có ý nghĩa quyết định đối với việc chuyển hóa kế hoạch thành hiện thực.
Người hiệu trưởng phải biết cách tập hợp các thành viên trong nhà trường, trong đó chú trọng đến đội
ngũ giảng viên, làm sao cho mối quan hệ giữa các bộ phận, cá nhân trong nhà trường liên kết chặt chẽ,
thống nhất về ý chí hành động; đồng thời phải biế
t động viên lực lượng này nỗ lực phấn đấu hoàn
thành mục tiêu chung và mục tiêu về quản lý đội ngũ giảng viên.

1.5.2..4. Chức năng kiểm tra
“Kiểm tra chỉ một hoạt động nhằm thẩm định, xác định một hành vi của cá nhân hay một tổ chức
trong quá trình thực hiện quyết định.” [23]
Kiểm tra là một chức năng cơ bản và quan trọng của quản lý. Lãnh đạo mà không kiểm tra thi coi

trong sự đánh giá, lựa chọn đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sắp xếp đội ngũ, đảm bảo chất lượng, đủ số
lượng, đồng bộ về cơ cấu tổ chức nhằm phục vụ tốt nh
ất cho quá trình xây dựng và phát triển của nhà
trường trong từng giai đoạn.
Công tác quy hoạch, rà soát, bố trí, sắp xếp tổ chức và ĐNGV có ý nghĩa rất quan trọng trong sự
phát triển của nhà trường. Công tác quy hoạch ĐNGV mang tính kế hoạch rất cao, đó là kế hoạch về sự
tuyển chọn, sử dụng và đào tạo, bồi dưỡng con người bằng công việc, qua công việc. Thông qua quy
hoạch nhằm điều ch
ỉnh, bổ sung về số lượng, chất lượng ĐNGV giúp có được ĐNGV đủ về số lượng,
đồng bộ về cơ cấu và đạt chuẩn về trình độ.
Trong công tác quy hoạch đội ngũ GV cần quán triệt những quan điểm của Đảng, bảo đảm
nguyên tắc tập thể, dân chủ đi đôi với việc phát huy trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ
chức,
đơn vị. Quy hoạch đội ngũ GV phải xuất phát từ nhiệm vụ chính trị của nhà trường, trên cơ sở phân
tích, đánh giá thực trạng đội ngũ GV hiện có, dự kiến khả năng phát triển của họ và tính đến khả năng
bổ sung nguồn từ bên ngoài.
Việc bố trí, sử dụng ĐNGV luôn gắn liền với xây dựng, củng cố tổ chức bộ
máy. Quy hoạch, rà
soát, bố trí, sắp xếp tổ chức bộ máy và ĐNGV một cách khoa học, phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ cụ
thể của nhà trường sẽ luôn mang lại chất lượng mới cho đội ngũ giảng viên và đảm bảo sự đoàn kết
nhất trí trong tập thể lãnh đạo và trong toàn trường. Quy hoạch tổng thể đội ngũ GV cần làm rõ số
lượng, yêu cầu trình độ học v
ấn, cơ cấu chuyên môn của từng ngành ĐT, làm cơ sở cho việc lập kế
hoạch tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng GV trong từng giai đoạn phát triển của nhà trường.
1.5.3.2. Tuyển dụng, sử dụng đội ngũ giảng viên
“Tuyển dụng là công việc xét chọn người thích hợp và nhận vào làm việc.”[45].
Việc tuyển dụng giảng viên phải đảm bảo nhiều yếu t
ố quan trọng như đảm bảo tính phân cấp
tính công khai, minh bạch trong quy trình tuyển dụng, tiêu chí tuyển dụng hợp lý, đảm bảo tính hợp lý
giữa các bộ môn, đáp ứng yêu cầu về số lượng, chất lượng và cơ cấu đội ngũ giảng viên, để thực hiện

nghiên cứu khoa học của giảng viên phải dựa trên tinh thần khoa học, khách quan, đánh giá đúng chất
lượng những sản phẩm trí tuệ của họ sáng tạo ra . Hiệ
n nay khi đánh giá, phân loại giảng viên tiêu chí
năng lực nghiên cứu khoa học đã được quan tâm nhiều hơn để đánh giá một cách đầy đủ về việc thực
hiện nhiệm vụ của giảng viên.
1.5.3.4. Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên
“Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức hình thành và phát triển hệ thống các tri
thức, kỹ năng, kỹ xả
o, thái độ để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo điều kiện cho họ có thể
vào đời hành nghề một cách năng xuất, hiệu quả” [42]
Tổ chức Khoa học văn hóa Liên hiệp quốc (UNESCO) định nghĩa: “Bồi dưỡng với ý nghĩa nâng
cao nghề nghiệp. Quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức và kỹ
năng chuyên môn nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng nhu cầu lao
động nghề nghiệp”[36]. “Bồi

dưỡng có thể coi là quá trình cập nhật kiến thức và kỹ năng còn thiếu hoặc lạc hậu trong một cấp học,
bậc học và trường học được xác nhận bằng một chứng chỉ.” [35]
Đào tạo và bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên thực chất là xây dựng và phát triển
nguồn nhân lực cho giáo dục. Đào tạo và bồi dưỡng là hai mặt của m
ột thể thống nhất, trong đó bồi
dưỡng giảng viên với ý nghĩa đào tạo tiếp tục là yêu cầu cấp thiết để nâng cao trình đọ chính trị,
chuyên môn nghiệp vụ và đổi mới cơ cấu tri thức. Vì vậy người lãnh đạo phải nhận thức đúng đắn mối
quan hệ bản chất giữa “dùng người” và “bồi dưỡng người”, “bồi dưỡng người” là để “dùng người” t
ốt
hơn nữa, người quản lý phải có tầm nhìn chiến lược, phải coi trọng việc đầu tư trí tuệ cho đội ngũ
giảng viên, CBQL.
Xã hội hiện nay đang hướng đến tới xây dựng “một xã hội học tập” và “học tập suốt đời” thì việc
đào tạo, bồi dưỡng và tự bồi dưỡng là điều tất yếu và nó phải trở thành nhu cầu của m
ỗi cá nhân.
Trong bối cảnh đất nước hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, công tác đào tạo, bồi

tiếp) sản phẩm hoặc là cải biến đối tượng theo nhu cầu của con người trong m
ột môi trường nhất định.
Đặc điểm của lao động quản lý là loại lao động trí óc sáng tạo, có tính cộng đồng; mang tính gián
tiếp trong quá trình lao động; Là một dạng hoạt động thực tiễn. Bản chất của nó không phải là “biết”
mà là “làm”. Việc chứng minh sự đúng đắn của quản lý không phải là bằng nghiên cứu logic mà là kết
quả thực tế của công việc. Và là loại lao động phức hợp. Đối t
ượng của quá trình quản lý là một hệ
thống bao gồm nhiều người, nhiều sự vật và sự việc với nhiều quy mô, cấp độ khác nhau và luôn biến
động. Lao động quản lý đòi hỏi người quản lý phải có kiến thức tổng hợp và vận dụng tổng hợp hiểu
biết về nhiều lĩnh vực: tự nhiên, xã hội, kinh tế, kỹ thuật, chính trị, pháp lý, tâm lý, giáo dục, ngoại
giao, v
ăn hoá…
Chính vì vậy hiệu quả quản lý đội ngũ giảng viên, trước tiên phụ thuộc vào nhận thức, trình độ tổ
chức và năng lực hoạt động thực tiễn của đội ngũ cán bộ quản lý ở các cấp. Bên cạnh trình độ chuyên
môn, người cán bộ quản lý còn là người có trình độ tổ chức, khả năng xử lý linh hoạt các tình huống
thực tế, là người thức thời, nhạ
y bén với thời cuộc, khả năng năm bắt tâm lý con người, … điều đó đòi
hỏi cái tâm, cái tầm của nhà quản lý phải cao. Nói cách khác nghệ thuật quản lý của nhà quản lý tác
động rất lớn đến hiệu quả quản lý đội ngũ giảng viên.
b. Trình độ, năng lực, phẩm chất của giảng viên
Ngày nay, xu thế toàn cầu hóa đang phát triển mạnh mẽ. Con người – nhân tố hàng đầu củ
a sự
phát triển kinh tế xã hội đang được chính phủ các nước dành sự quan tâm đặc biệt. Trong bối cảnh đó
vai trò của nhà trường càng trở nên quan trọng. Nhân tố đầu tiên tạo nên bộ mặt nhà trường lại chính
là ĐNGV, những người được xã hội giao phó trọng trách đào tạo thế hệ trẻ - những chủ nhân tương lai
của xã hội. Từ đó, đòi hỏi đội ngũ giảng viên ph
ải đáp ứng các yêu cầu về trình độ, năng lực và phẩm
chất tốt.
Hiệu quả của công tác quản lý đội ngũ giảng viên chịu ảnh hưởng trực tiếp từ trình độ, năng lực,
phẩm chất của đội ngũ giảng viên. Do vậy, quản lý đội ngũ giảng viên phải có những biện pháp kích


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status