Thực trạng và giải pháp quản lý đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Sư Phạm Đăklăk - Pdf 25

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Phaïm Vaên Luaät Chuyên ngành : Quản lý giáo dục
Mã số : 60 14 05

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. LÊ THỊ MINH HÀ

Thành phố Hồ Chí Minh - 2008

LỜI CẢM ƠN


CĐSP : Cao đẳng Sư phạm
CNH – HĐH : Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
ĐH : Đại học
ĐHSP : Đại học Sư phạm
ĐT : Đào tạo
ĐT – QLNCKH : Đào tạo – Quản lý nghiên cứu khoa học
GIAÙO DUÏC : Giáo dục
GD & ĐT : Giáo dục và Đào tạo
GV : Giảng viên
NCKH : Nghiên cứu khoa học
NCS : Nghiên cứu sinh
QLGD : Quản lý giáo dục
TCCB : Tổ chức cán bộ
THCS :
Trung học cơ sở
ThS : Thạc sỹ
TS : Tiến sỹ
UBND : Ủy ban Nhân dân

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, đặc biệt là
công nghệ thông tin và truyền thông, nhân loại đang bước quá độ sang nền kinh tế
tri thức. Xu thế toàn cầu hóa mạnh mẽ đang diễn ra trên toàn thế giới làm cho lợi
thế cạnh tranh ngày càng nghiêng về những quốc gia có nguồn lực chất lượng cao,
nhất là đội ngũ tri thức và công nhân lành nghề. Vì vậy, việc xây dựng chiến lược
phát triển nguồn nhân lực có trình độ trí tuệ và tay nghề cao nhằm tạo ra lợi thế
cạnh tranh là cách làm thông minh để chủ động hội nhập vào xu t
hế sau này.
Hiện nay, Việt Nam đang trong tiến trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa

thu hút sự quan tâm của các nhà quản lý GD. Đã có nhiều đề tài nghiên cứu quản lý
đội ngũ GV các trường CĐSP ở các cấp độ khác nhau. Song, thực trạng và những
giải pháp quản lý đội ngũ GV ở trường CĐSP ĐăkLăk chưa có đề tài nào nghiê
n
cứu.
Từ những nhận thức trên chúng tôi định hướng nghiên cứu vấn đề quản lý
đội ngũ GV trường CĐSP ĐăkLăk. Trên cơ sở xem xét đội ngũ GV về một số khía
cạnh cơ bản, từ đó đưa ra những giải pháp quản lý đội ngũ GV để đáp ứng nhu cầu
đào tạo ngày càng cao mà xã hội đặt ra cho ngành sư phạm
nói chung và trường
CĐSP ĐăkLăk nói riêng. Đó là lý do của đề tài: “Thực trạng và giải pháp quản lý
đội ngũ GV trường CĐSP ĐăkLăk”.
2. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
2.1. Mục đích của đề tài
Nghiên cứu thực trạng quản lý đội ngũ GV trường CĐSP ĐăkLăk, trên cơ sở
đó, đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng quản lý đội ngũ GV của nhà trường, góp
phần đáp
ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay ở tỉnh ĐăkLăk.
2.2. Nhiệm vụ đề tài
- Nghiên cứu vấn đề lý luận liên quan đến đề tài.
- Nghiên cứu thực trạng quản lý đội ngũ GV trường CĐSP ĐăkLăk hiện nay.
- Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng quản lý đội ngũ GV trường CĐSP
ĐăkLăk.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng và giải pháp quản lý đội ngũ GV trường CĐSP ĐăkLăk.
3.2. Khách thể nghiên cứu
Đội ngũ GV và hoạt động quản lý đội ngũ GV trường CĐSP ĐăkLăk.
4. Giả thuyết nghiên cứu
Trên cơ sở đánh giá thực trạng quản lý đội ngũ GV trường CĐSP ĐăkLăk và

7.2. Về mặt thực tiễn
Đề xuất các giải pháp phù hợp mang tính cấp thiết và khả thi nhằm q
uản lý
hiệu quả đội ngũ GV trường CĐSP ĐăkLăk, góp phần nâng cao năng lực quản lý
lãnh đạo, chất lượng đội ngũ GV và chất lượng ĐT của trường sư phạm trong giai
đoạn hiện nay.
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Thực tiễn GD ở các nước trên thế giới cũng như ở nước ta đã khẳng định
điều kiện quyết định để nâng cao chất lượng GD là chất lượng và động lực dạy học
của đội ngũ giáo viên; giáo viên là nhân vật trung tâm của mọi chương trình cải
cách, cải tổ, đổi mới GD. Vì vậy, vấn đề xây dựng và
phát triển đội ngũ giá
o viên
đã sớm được đề cập trong các công trình nghiên cứu lý luận nhằm chỉ đạo thực tiễn
hoạt động GD ở mỗi quốc gia và có tầm ảnh hưởng quốc tế.
Ở Việt Nam, một năm sau cách mạng tháng 8 năm 1945, Chủ tịch nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa đã ký sắc lệnh số 194 ngày 8 tháng 10 năm 1946 về việc
thành lập ngành sư phạm. Sắc lệnh nêu rõ “Ngành học sư phạm có
mục đích đào tạo
những nam nữ giáo viên cho các bậc học cơ bản, Trung học phổ thông, Trung học
chuyên khoa, Thực nghiệp và chuyên nghiệp trong toàn quốc” (Điều 1). Sắc lệnh
cũng khẳng định bắt đầu từ những năm 1950 chỉ tuyển nam nữ giáo viên cho các
bậc học phổ thông và chuyên nghiệp trong những người có bằng sư phạm sơ cấp,
trung cấp hoặc cao cấp (Điều 5). N
hư vậy, ngay từ đầu, sư phạm được xác định là
một ngành học, có nhiệm vụ ĐT giáo viên không chỉ cho GD phổ thông mà cho cả
GD chuyên nghiệp, tất cả các loại giáo viên đều phải qua đào tạo ở các trường sư
phạm.

sáng tỏ những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn GD của Việt Nam đặt ra. Những
năm gần đây, xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về quản lý và phát triển nguồn
nhâ
n lực GD như:
- “Quản lý đội ngũ” của Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc [15];
- “Vấn đề GV, những nghiên cứu lý luận và thực tiễn” của Trần Bá Hoành
[23];
- “Quản lý chất lượng ĐT” của Nguyễn Đức Chính [16];
- “Phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu phát triển nguồn lực” của Phan
Văn Kha [22];
- “Một số cách tiếp cận trong nghiên cứu và phát triển đội ngũ GV” của Bùi
Văn Q
uân [33];
- “Về nội dung quản lý đội ngũ GV ĐH, CĐ trong thời kỳ đổi mới” của
Dương Đức Báu [13];
- “Thực trạng và một số giải pháp xây dựng đội ngũ GV các trường ĐH, CĐ”
của Phạm Văn Thanh [34];
- “Một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng ĐT nguồn nhân lực tại trường
ĐH” của Nguyễn Ánh Hồng [21];
Nhiều đề tài nghiên cứu có tính c
huyên đề đi sâu các vấn đề cụ thể liên quan
đến quản lý xây dựng và phát triển độ ngũ GV như:
- “Các giải pháp xây dựng phát triển đội ngũ GV trường ĐH Giao thông Vận
tải theo hướng chuẩn hóa” của Phạm Văn Toàn [37];
- “Nghiên cứu khoa học của giảng viên ĐH – một yếu tố đảm bảo chất lượng
ĐT” của Nguyễn Ngọc Lan [26];
- “Logic nội dung và các nhiệm vụ nghiên cứu đề tài về giải pháp quản l
ý
GD” của Nguyễn Phúc Châu [14].
Công tác quản lý đội ngũ GV là vấn đề được các cơ sở giáo dục ĐH đặc biệt

iện nay là một vấn đề vừa quan
trọng vừa mang tính cấp thiết, thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều cơ quan
quản lý GD, nhiều cơ sở ĐT, nhiều nhà khoa học và đông đảo GV, giáo viên trong
ngành và nhiều người quan tâm đến lĩnh vực GD. Tuy nhiên, các công trình, báo
cáo, bài báo khoa học đó mới chỉ đi sâu vào những góc cạnh và một số nội dung
nhất định của vấn đề. Việc nghiên cứu, ứng dụng các kết quả nghi
ên cứu về vấn đề
này nhằm từng bước nâng cao chất lượng quản lý đội ngũ GV của trường CĐSP
ĐăkLăk là vấn đề mới, chưa được tác giả nào đề cập trong các công trình nghiên
cứu đã được công bố.
1.2. Cơ sở lý luận
1.2.1. Khái niệm về quản lý
Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát
triển đều phải có sự quản lý để tổ chức, điều hà
nh, hướng dẫn mọi người, mọi bộ
phận trong tổ chức hoạt động theo kế hoạch và đạt mục tiêu của tổ chức. Hoạt động
quản lý chỉ nảy sinh khi có tổ chức; tổ chức không thể phát triển nếu thiếu hoạt
động quản lý.
Khái niệm quản lý là khái niệm rất chung, tổng quát. Có nhiều quan niệm
khác nhau.
Theo Đại Bách khoa toàn thư Liên Xô (1977), quản lý là chức năng của
những hệ thống có tổ chức với bản chất khác nhau (xã hội, sinh vật, kỹ thuật), nó
bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện những
chương trình, mục đích hoạt động.
Về phương diện xã hội, có thể nêu khái niệm quản lý một tổ chức là: “Quản
lý là tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý
trong một tổ chức nhằm làm c
ho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ
chức.”
Theo định nghĩa trên, quản lý có một số đặc điểm:

quản lý
Đối tượng
quản lý
Mục tiêu
quản lý
Quản lý có những vai trò cơ bản sau:
- Giúp các thành viên của tổ chức thấy rõ mục tiêu và hướng đi của mình,
từng bước hoàn thành những kế hoạch đặt ra, hoàn thành sứ mệnh của tổ chức và
đạt mục đích của tổ chức.
- Phối hợp các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) để tạo sức mạnh của tổ
chức.
- Giúp tổ chức thích nghi được với môi trường luôn biến đổi. Nắm bắt tốt
hơn và tận dụng các cơ hội, giảm bớt các ảnh hưởng tiêu cực và các nguy cơ liên
qua
n đến môi trường, làm cho tổ chức có được những tác động tích cực đến môi
trường, góp phần bảo vệ môi trường.
1.2.2. Chức năng quản lý
Theo giáo trình Khoa học quản lý của trường ĐH Kinh tế Quốc dân: “Chức
năng quản lý là những loại công việc quản l
ý khác nhau, mang tính độc lập tương
đối, được hình thành trong quá trình chuyên môn hóa hoạt động quản lý”.
Quản lý có 4 chức năng cơ bản gồm: kế hoạch hóa, tổ chức thực hiện, chỉ
đạo, kiểm tra.
1.2.2.1. Kế hoạch hóa
Kế hoạch hóa là chức năng cơ bản nhất trong số các chức năng quản lý, bao
gồm: xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và những
biện pháp, cách thức chủ yếu để đạt được mục tiêu, mục đích đó.
Nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch:
- Xác định và hình thành mục tiêu đối với tổ chức: xác định mục tiêu là khâ
u


trò nhiệm vụ của các bộ phận và cá nhân trong tổ chức nhằm bảo đảm sự phù hợp,
ăn khớp giữa các hoạt động. Mỗi cá nhân có thể làm việc trôi chảy có hiệu quả cao
trong nhóm, làm cho các bộ phận riêng sẽ kết hợp được với nhau thành hệ thống,
hoạt động đồng bộ như một thể thống nhất.
- Giúp nhà quản lý xác định được biên chế và
sắp xếp con người phù hợp với
khối lượng công việc. Tạo điều kiện cho các thành viên tổ chức hoạt động tự giác,
sáng tạo.
Việc ổn định cơ cấu, giao nhiệm vụ, quyền hạn cho các bộ phận luôn đi đôi
với việc xác định khối lượng công việc và kéo theo sự phân phối nguồn lực, thiết
lập bộ máy quản lý và thực hiện chuyên môn hóa cho các bộ phận của tổ chức.
Như vậy, tổ chức thực hiện chính là công việc xây dựng cơ cấu tổ chức quản
lý của tổ chức (hệ thống) trên cơ sở kế hoạch hóa phát triển. Một cơ cấu tổ chức
đư
ợc coi là hợp lý khi nó tuân thủ nguyên tắc thống nhất trong mục tiêu. Mỗi cá
nhân đều góp phần công sức vào các mục tiêu chung của tổ chức, đạt mục tiêu đó
với mức chi phí tối thiểu cho bộ máy và cho mọi hoạt động.
1.2.2.3. Chỉ đạo
Sau khi kế hoạch đã được thiết lập, cơ cấu đã được hình thà
nh, nhân sự đã
được tuyển dụng, sắp xếp thì phải có người lãnh đạo dẫn dắt, điều khiển. Đó là quá
trình tập hợp, liên kết các thành viên trong tổ chức; theo sát hoạt động của bộ máy,
điều khiển, hướng dẫn, điều chỉnh công việc hợp lý, nhịp nhàng; động viên, khuyến
khích các thành viên hoàn thành nhiệm vụ nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức. N
ó
kết nối, thẩm thấu và đan xen vào hai chức năng trên.
1.2.2.4. Kiểm tra
Kiểm tra là một chức năng cơ bản và quan trọng của quản lý, liên quan đến
mọi cấp quản lý căn cứ vào mục tiêu, kế hoạch đã định. Là việc một người hoặc

đến quản lý mọi hoạt động GD trong xã hội; các nhà nghiên cứu GD và quản lý GD
đã đưa ra một số quan niệm về quản lý GD như sau:
M. I. Kôn-đa-cốp định nghĩa: “Quản lý GD là tập hợp những biện pháp tổ
chức cán bộ, GD, kế hoạch hóa, tài chính… nhằm đảm bảo sự vận hành bình
thường của các cơ quan trong hệ thống GD để tiếp tục phát triển và mở rộng hệ
thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng” [3, trang 22].
“Quản lý GD trên nét tổng quát nhất được hiểu theo nghĩa tổng quan là hoạt
động điều hành, phối hợp các lực lượng xã
hội nhằm đẩy mạnh công tác ĐT thế hệ
trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội hiện nay” [17, trang 12].
Như vậy, có thể hiểu bản chất của quản lý G
D là qúa trình tác động có ý thức
được định hướng của chủ thể quản lý lên các thành tố của hoạt động GD nhằm thực
hiện mục tiêu của GD một cách hiệu quả.
1.2.4. Quản lý trường sư phạm
1.2.4.1. Vị trí, vai trò của trường sư phạm trong hệ thống giáo dục quốc
dân
Từ cuối thế kỷ X, khi nước ta thoát khỏi ách thống trị phong kiến phương
Bắc, nền G
D quốc dân đến nay tồn tại gần 10 thế kỷ. trong lịch sử nước nhà GD
từng là một động lực cho sự tồn tại và phát triển của đất nước, nó đã góp phần ĐT,
BD nhân tài, truyền bá cho nhân dân biết đạo lý làm người, hun đúc lòng yêu nước,
yêu quê hương làng xóm, xây dựng tôn ti trật tự trong xã hội,gia đình…. Theo thang
bậc phong kiến, ông thầy cũng có vị trí cao trong xã hội quân-sư-phụ (vua-thầy-
cha) và từ lâu trong xã hội ta đã hình thành một truyền thống tốt đẹp của dân tộc:
“Tôn sư trọng đạo”.
Tuy nhiên, việc ĐT nghề Sư phạm qua trường, lớp theo đúng nghĩa không có
trong xã phong kiến Việt Nam, song được nhân dân giúp đỡ, bản thâ
n người thầy đã
tự rèn luyện để trưởng thành trong nghề nghiệp. Muốn trở thành người thầy, tuy

Theo M. I. Kôn-đa-cốp: “Không đòi hỏi một định nghĩa
hoàn chỉnh chúng ta
hiểu quản lý trường sư phạm (công việc trường sư phạm) là một hệ thống xã hội –
Sư phạm chuyện biệt, hệ thống đòi hỏi những tác động có ý thức, có kế hoạch và
hướng đích của chủ thể quản lý đến tất cả các mặt của đời sống trường sư phạm,
nhằm đảm bảo sự vận hành tối ưu về mặt xã hội – kinh tế, tổ chức – Sư phạm của
quá trình dạy học và GD thế hệ đang lớn lên” [3, trang 34]
.
Theo GS.VS Phạm Minh Hạc “Quản lý trường sư phạm là thực hiện đường
lối của Đảng, trong phạm vi trách nhiệm của mình, đưa trường sư phạm vận hành
theo nguyên lý GD để tiến tới mục tiêu GD, mục tiêu ĐT đối với ngành GD”.[2,
trang 26].
Từ các định nghĩa trên chúng ta thấy, quản lý trường sư phạm thực chất là
tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên tất cả các nguồn lực
nhằm đẩy mạnh hoạt động của trường sư phạm
theo nguyên lý GD và tiến tới mục
tiêu GD mà trọng tâm của nó là đưa hoạt động ĐT tiến lên một trạng thái mới về
chất.
Quản lý trường sư phạm có
2 loại:
- Tác động của chủ thể quản lý bên trên và bên ngoài trường sư phạm:
Quản lý trường sư phạm là những tác động quản lý của các cơ quan quản lý
GD cấp trên nhằm hướng dẫn tạo điều kiện cho hoạt động giảng dạy, học tập, GD
của trường. Quản lý trường sư phạm cũng bao gồm những chỉ dẫn, quyết định của
các thực thể bên ngoài
trường sư phạm nhưng có liên quan trực tiếp đến trường sư
phạm nhằm định hướng sự phát triển và hỗ trợ, tạo điều kiện cho việc thực hiện
phương hướng phát triển đó.
- Tác động của những chủ thể bên trong trường sư phạm bao gồm các hoạt
động:

Như vậy, quản lý con người chính là quản lý các điều kiện mà trong đó con
người lao động. Nhà quản lý phải ý thức được điều này và coi đó là trách nhiệm của
mình. Mặt khác quản lý trường sư phạm không những giúp cho các thành viên thực
hiện vai trò của mình có hiệu quả, mà còn phải kiểm tra, uốn nắn đánh giá việc thực
hiện vai trò đó.
b/ Đặc trưng của quản lý trường sư phạm
Đặc trưng của quản lý trường sư phạm là sự khác biệt hẳn với mọi loại quản
lý xã hội khác, nó được quy định trước hết bởi bản c
hất của quá trình ĐT, trong đó
sinh viên vừa bị quản lý lại vừa tự quản hoạt động học tập; sản phẩm của sự ĐT của
trường là nhân cách người lao động có văn hóa. Song, đặc trưng của quản lý trường
sư phạm phụ th
uộc nhiều vào đặc điểm lao động sư phạm của GV. Giảng dạy không
thể tách rời GD. Nói rộng hơn, quản lý trường sư phạm phải tạo nên sự thống nhất
giữa dạy chữ, dạy người và dạy nghề. Mối quan hệ quản lý trong trường sư phạm
cũng rất đặc biệt: Đây là quan hệ liên nhân cách, quản lý cộng đồng và hợp tác theo
tinh t
hần dân chủ – tự quản cao độ. Sự quản lý của hiệu trưởng đối với GV chỉ có
thể là những tác động có tính dân chủ, được thể chế hóa, nhằm thuyết phục, giúp
đỡ, tạo điều kiện cho GV có thể phát huy được hết năng lực quản lý quá trình giảng
dạy GD của mình và quản lý việc học tập, tự GD của sinh viên.
- Đặc trưng của hoạt động quản lý trường sư phạm:
+ Đề ra kế hoạch
và tổ chức thực hiện
+ Điều hành, kiểm tra, điều chỉnh các hoạt động theo định hướng và bảo đảm
sự phát triển.
+ Xây dựng đội ngũ GV để đảm bảo cho các hoạt động có hiệu quả, đạt mục
tiêu đề ra.
- Đặc trưng về đối tượng của quản lý trường sư phạm:
+ Đội ngũ GV:

trường ĐH, CĐ ngoài lực lượng GV trong biên chế còn có các GV hợp đồng giảng
dạy, GV thỉnh giảng.
1.2.5.2. Vai trò và tầm quan trọng của đội ngũ giảng viên trong trường
CĐSP
a/ Vai trò của đội ngũ giảng viên trường sư phạm
Đội ngũ GV là lực lượng chủ yếu, giá trị cơ bản cũng như vốn quý nhất của
trường ĐH và CĐ, với tri thức tài nghệ và ki
nh nghiệm, sự hiểu biết sâu sắc về bản
chất quá trình ĐT, là nhân vật trung tâm trong trường sư phạm quyết định chất
lượng và hiệu quả GD & ĐT, góp phần hình thành mô hình nhân cách nhà chuyên
môn có trình độ cao theo mục tiêu ĐT bằng giảng dạy, giáo dục và tổ chức cuộc
sống cho sinh viên.
Chủ tịch Hồ Chí Minh, người thầy vĩ đại đã từng căn dặn: Không có người
thầy giáo thì không có GD, cán bộ giảng dạy ở các trường ĐHSP, CĐSP… là thầy
của những người thầy…
nhưng để thực hiện được vai trò vẻ vang của mình trước
hết: “Thầy phải xứng đáng là thầy, thầy phải được lựa chọn cẩn thận vì không phải
ai cũng làm thầy được.” [28, tr 304].
Nhân dân ta rất hiếu học và rất coi trọng vai trò của thầy giáo. Câu ca dao
“Muốn sang thì bắc cầu Kiều, muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy” đã nói lên tấm
lòng đó. Suy rộng ra câu ca dao còn có ý nghĩa: muốn cho sự nghiệp GD quốc gia
phát triển thì Nhà nước và xã hội phải quan tâm đến đội ngũ thầy gi
áo.
Để xứng đáng với nhiệm vụ và vai trò vẻ vang. Đội ngũ GV cần có 3 phẩm
chất chủ yếu: tâm hồn, kiến thức và phương pháp sư phạm.
+ Tâm hồn của người thầy được xây dựng trên cơ sở lòng yêu thương vô
hạn, lòng quý mến và tôn trọng con người. Chính lòng yêu quý đó là cội nguồn của
mọi tình cảm tốt đẹp, là khởi thủy của đạo đức. Đối với GV, lòng yêu thương co
n
người trước hết cần thể hiện ở lòng yêu thương sinh viên và đồng nghiệp. Lòng yêu

n trọng của đội ngũ giảng viên trường sư phạm
Nói về tầm quan trọng của đội ngũ GV và cán bộ quản lý giáo dục GS.TSKH
Vũ Ngọc Hải và PGS.TS Đặng Quốc Bảo đã khẳng định: “Sứ mệnh của đội ngũ GV
và CBQL giáo dục có ý nghĩa cao cả đặc biệt. Họ là một bộ phận lao động tinh hoa
của đất nước. Lao động của họ trực tiếp và gián tiếp thúc đẩy sự phát triển đất
nước, cộng đồng đi vào trạng thái phát triển bền vững”. “Sản phẩm của họ khác với
các loại hì
nh lao động khác ở chỗ: sản phẩm này tích hợp các nhân tố tinh thần và
vật chất, đó là nhân cách văn hóa – sức lao động.”. Thành quả lao động của họ vừa
tác động vào hình thái ý thức xã hội (giá trị văn tinh thần của
dân tộc, tình đoàn kết
đồng thuận của đất nước),vừa hình thành sức lao động kỹ thuật, thúc đẩy sự năng
động của đời sống thị trường”.
Trong bối cảnh GD đi vào thế kỷ XXI, TS RaJa Roy Singh, nhà GD nổi
tiếng của Ấn Độ – Chuyên gia GD nhiều năm ở UNESCO khu vực Châu Á – Thái
Bình Dương có một số lời bình khá ấn tượng: “GV giữ vai trò quyết định trong quá
trình GD và đặc biệt trong việc định hướng lại GD. Những công nghệ thành đạt, nói
chính xác là những công nghệ thông tin sử dụng trình độ nghề nghiệp và phong
cách của những GV giỏi nhất. Trong quá trình dạy học GV không chỉ là người
truyền thụ những tri thức rời rạc mà còn giúp người học thường xuyên gắn với cơ
cấu lớn hơn. GV cũng đồng thời là người hướng dẫn, người cố vấn, người mẫu mực
của người học. Do đó, GV không phải là người chuyên về một ngành hẹp m
à là
người cán bộ tri thức, người học suốt đời. Trong công cuộc hoàn thiện quá trình dạy
học, người dạy, người học là những người bạn cùng làm việc, cùng nhau tìm hiểu
khám phá.’’
Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước Việt Nam rất quan tâm xây dựng đội
ngũ nhà giáo và CBQL GD. Trong thời kỳ đổi mới GD đã liên tiếp có các chỉ thị về
lĩnh vực quan trọng này.
Ban Bí thư TW có Chỉ thị số 40 về xây dựng đội ngũ n

Giảng dạy và GD sinh viên – những người thầy giáo tương lai theo đúng
mục tiêu, nội dung, c
hương trình và quy chế của trường sư phạm, thực hiện các quy
định của pháp luật. Không ngừng học tập để nâng cao trình độ chuyên môn và
nghiệp vụ sư phạm. Tham gia nghiên cứu khoa học, tu dưỡng để trở thành người
thầy giáo mô phạm.
Đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới, đang chuyển mạnh sang nền kinh tế
thị trường theo định hướng XHCN. Nền kinh tế này đòi hỏi ở c
on người những
phẩm chất và năng lực mới khác về chất so với đòi hỏi của nền kinh tế tập trung bao
cấp trước đây. Do đó, mô hình nhân cách mà GD & ĐT phải hình thành và phát
triển ở người học cần được thay đổi. Từ đó, kéo theo thay đổi nội dung, chương
trình và phương pháp GD & ĐT.
Chất lượng ĐT đội ngũ thầy giáo quyết định sự thà
nh bại của những đổi mới
đó. Muốn CNH – HĐH đất nước, chúng ta cần phát triển GD & ĐT mà trước hết
phải có đội ngũ thầy giáo giỏi. Muốn có đội ngũ giáo viên giỏi tất yếu phải có đội
ngũ GV giỏi các trường sư phạm. Vì vậy, việc chăm lo xây dựng đội ngũ GV ở
trường sư phạm là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyê
n và cấp bách của các trường sư
phạm.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status