Thực trạng và giải pháp quản lý đội ngũ giảng viên ở trường ĐH sư phạm TPHCM - Pdf 26

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Kỷ Trung
Chuyên ngành : Quản lý Giáo dục
Mã số : 60 14 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. HỒ VĂN LIÊN


Nguyễn Kỷ Trung
LỜI CẢM ƠN

Học tập nâng cao trình độ chuyên môn là nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi
cán bộ, viên chức. Trong suốt thời gian tham gia khóa đào tạo, tôi đã nhận được
sự hỗ trợ rất nhiều từ Quý lãnh đạo, thầy, cô và đồng nghiệp. Với tình cảm
chân thành, tôi xin trân trọng cám ơn:
- Lãnh đạo Trường ĐHSP Tp.Hồ Chí Minh;
- Lãnh đạo Phòng Tổ chức – Hành chính;
- Phòng Khoa học Công nghệ và Sau đại học;
- Khoa Tâm lý – Giáo dục;
- Quý thầy, cô giảng dạy;
- Lãnh đạo c
ác Khoa, Tổ bộ môn và Phòng, Ban chức năng;
- Các anh, chị giảng viên, chuyên viên.
Tôi cũng không quên gửi lời cảm ơn đến Trường Nhân lực Quốc tế, đơn
vị đã hỗ trợ tôi rất nhiều trong thời gian đầu của khóa học.
Đặc biệt, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc Tiến sĩ Hồ Văn Liên, Trưởng
Khoa Tâm lý Giáo dục, đã tận tình giảng dạy và hướng dẫn tôi suốt quá trình
học tập và nghiê
n cứu để hoàn thành luận văn này.
Mặc dù có nhiều cố gắng nhưng chắc chắn luận văn sẽ không tránh khỏi
những sai sót, tác giả kính mong nhận được sự góp ý, chỉ dẫn thêm của Quý
thầy, cô và các anh, chị đồng nghiệp.

TP.Hồ Chí Minh, tháng 9/2008.
Tác giả
CÁC TỪ VIẾT TẮT


ĐVHT
:
Đơn vị học trình
HCTC
:
Học chế tín chỉ
KHCN
:
Khoa học – Công nghệ
PGS
:
Phó Giáo sư
QLGD
:
Quản lý giáo dục
SV
:
Sinh viên
TCHC
:
Tổ chức – Hành chính
TP.HCM
:
Thành phố Hồ Chí Minh
WTO
:
Tổ chức thương mại thế giới

MỞ ĐẦU
1.

thành trường Đại học Sư phạm trọng điểm. Chỉ thị 40-CT/TW ngày 07/6/2004 của Ban Bí thư
Trung ương Đảng “Về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo
dục” nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng hai trường ĐHSP trọng điểm và vai trò của các
trường ĐHSP trọng điểm đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo, đổi mới phương pháp dạy -

học, xây dựng các chiến lược, chính sách giáo dục quốc gia. Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg ngày
11 tháng 01 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Xây dựng, nâng cao
chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005 – 2010” đã xác định mục
tiêu, các nhiệm vụ, giải pháp để xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn
hoá, đảm bảo đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu ở tất cả các bâc học.
Hơn 30 năm xây dựng và phát triển, Trường ĐHSP Tp. Hồ Chí Minh là nơi đào tạo giảng
viên và nghiên cứu khoa học có uy tín, chất lượng. Đội ngũ giáo viên phổ thông, giảng viên có
trình độ đại học và tr
ên đại học sau khi ra trường đã trở thành lực lượng nòng cốt trong các trường
phổ thông, cao đẳng và đại học, góp phần to lớn vào sự nghiệp phát triển giáo dục.
Nhận rõ vai trò, trách nhiệm đối với Đảng, Nhà nước và Nhân dân, Nhà trường đã ra tuyên bố
sứ mạng: “Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những trường đại học
hàng đầu của Việt Nam, đảm bảo có uy tín với trình độ và chất lượng cao về các sản phẩm đào tạo
nguồn nhâ
n lực và nghiên cứu khoa học thuộc các lĩnh vực Khoa học cơ bản và Khoa học Giáo dục
- Sư phạm”.
Để thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của mình, Đảng bộ, Lãnh đạo Trường và toàn thể cán bộ,
viên chức (CB,VC) xác định còn rất nhiều việc phải làm, trong đó, quan trọng nhất là xây dựng đội
ngũ, và đội ngũ giảng viên được ưu tiên hàng đầu. Trong những năm qua, Trường đã có nhiều
chính sách như: giữ sinh viên giỏi ở lại Trường đào
tạo làm giảng viên; tiếp nhận cán bộ từ nơi
khác có trình độ cao, chuyên môn giỏi… Trường đã tổ chức 2 kỳ thi tuyển dụng công chức vào
những năm 2000 và 2006, tuyển chọn được nhiều viên chức có năng lực, đạo đức, tác phong chuẩn
mực, đáp ứng yê
u cầu công tác.

triển đội ngũ giảng viên đáp ứng được yêu cầu hiện nay.
5.
Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1.
Xác định cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.
5.2.
Khảo sát thực trạng đội ngũ giảng viên và quản lý đội ngũ giảng viên ở Trường
ĐHSP Tp.Hồ Chí Minh.
5.3.
Dự báo tình hình đội ngũ giảng viên Trường ĐHSP Tp.Hồ Chí Minh từ nay đến
năm 2020.
5.4.
Đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên Trường ĐHSP Tp.Hồ Chí
Minh.
6.
Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu công tác quản lý đội ngũ giảng viên ở Trường ĐHSP Tp.Hồ Chí
Minh trong giai đoạn hiện nay trên các mặt: tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng.
7.
Phương pháp nghiên cứu
7.1.
Phương pháp luận
- Tiếp cận Hệ thống – Cấu trúc: xem xét đối tượng nghiên cứu như một bộ phận của hệ
thống toàn vẹn, vận động và phát triển thông qua việc giải quyết mâu thuẫn nội tại. Đội ngũ giảng
viên và công tác quản lý đội ngũ giảng viên luôn có mối quan hệ biện chứng với các yếu tố khác
trong sự phát triển của trường ĐHSP. Thông qua việc nghiên cứu, sẽ phát hiện ra những yếu tố
m
ang tính bản chất, tính quy luật của sự vận động và phát triển đội ngũ giảng viên trường ĐHSP
TP.HCM.
- Tiếp cận Lịch sử – Logic: xem xét đối tượng trong một quá trình phát triển lâu dài của nó,


2. Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Việc nghiên cứu phát triển đội ngũ giảng viên là một vấn đề hết sức quan trọng đối với các
trường đại học, cao đẳng trong giai đoạn hiện nay, không chỉ Việt Nam mà ngay cả những nước có
nền giáo dục phát triển như: Hoa Kỳ, Úc, Liên minh Châu Âu...
Từ khi hiệp ước Bologna ra đời đến nay, đã và đang có nhiều nước tích cực cải cách nền giáo
dục của mình ở bậc đại học, tìm
ra những giải pháp nhằm từng bước tham gia vào tiến trình hội
nhập, trong đó có những giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên. Tính đến nay, đã có nhiều chuyên
gia trong lĩnh vực giáo dục đào tạo công bố những công trình nghiên cứu, tham luận trong các hội
nghị khu vực Châu Á và quốc tế, có thể kể đến như:
- Giáo sư Philip G.Altbach, Đại học Boston (Hoa Kỳ) với bài tham luận “Trường đại học và
toàn cầu hóa”. Tác giả đã đưa ra những sáng kiến về công tác quản lý và trao đổi giảng viên giữa
các trường đại học trê
n thế giới.
- Tiến sĩ Judy Murray, Đại học Tomball (Texas, Hoa Kỳ) xây dựng đề án “Kế hoạch tổng thể
về việc nâng cao chuyên môn giảng viên trong tiến trình phát triển tại Trường đại học Tomball”.
Trong đó, tác giả nhấn mạnh đến yếu tố “Phát triển đội ngũ giảng viên nhằm củng cố sứ mệnh và
giá trị của trường đại học” và đề ra những mục tiêu và giải phá
p cụ thể đối với vấn đề nêu trên.
- Giáo sư John Murray, Đại học Texas Tech University (Hoa Kỳ), với đề tài “Sự phát triển đổi
mới đội ngũ giảng viên”, đã xác định những bước thực hiện cụ thể như là chìa khoá dẫn đến thành
công.
- Tiến sĩ Kent Fransworth với tham luận “Phát triển nguồn nhâ

Thành phố Hồ Chí Minh, Đề án quy hoạch phát
triển tổng thể đến 2015 và tầm nhìn đến năm 2020 đã thể hiện một cách tổng quát về những định
hướng chiến lược phát triển của Trường trong tương lai trên tất cả các mặt, đó là : tổ chức bộ máy,
đội ngũ cán bộ quản lý và giảng viên, giáo dục – đào tạo, tài chính, cơ sở vật chất…
Hiện nay Trường đã từng bước triển khai thực hiện Đề án trên tinh thần khẩn trương, nghiêm

túc, huy động toàn bộ trí tuệ, tư duy sáng tạo của toàn thể cán bộ, viên chức nhằm từng bước đạt
được những mục tiêu đã đề ra. Trên cương vị là một chuyên viên Phòng Tổ chức – Hành chính
thuộc nhóm phụ trách công tác tổ chức, tác giả mạnh dạn nghiên cứu và đề xuất những giải pháp
phát triển đội ngũ giảng viên trong giai đoạn hiện nay với m
ong muốn đóng góp vào sự phát triển
chung của Trường.
1.2.
Một số khái niệm cơ bản
1.2.1.
Nhà giáo - giảng viên, đội ngũ giảng viên, đội ngũ giảng viên trường đại học
sư phạm
 Nhà giáo - giảng viên
“Nhà giáo là những người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường và các cơ sở
giáo dục khác thuộc hệ thống giáo dục quốc dân. Nhà giáo giảng dạy ở các cơ sở giáo dục mầm
non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi chung là giáo viên; nhà giáo giảng dạy ở các cơ
sở giáo dục đại học gọi chung là giảng viên” [13].
“Giảng viên là người làm công tác giảng dạy ở các trường trên bậc phổ thông hoặc ở các lớp
đào tạo, huấn luyện” [33].
Giảng viên là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục ở các cơ sở giáo dục đại học (gồm các
trường đại học, cao đẳng).
Căn cứ vào mã ngạch viên chức, giảng viên là những người được xếp vào các ngạch: 15.111
(giảng viên), 15.110 (giảng viên chính) và 15.109 (giảng viên cao cấp).
Điều 46 Điều lệ trường đại học quy định nhiệm vụ và quyền hạn giảng viê
n như sau:

ghề nghiệp
- Tâm huyết với nghề nghiệp, có ý thức giữ gìn danh dự, lương tâm nhà giáo; có tinh thần đoàn
kết, thương yêu, giúp đỡ đồng nghiệp trong cuộc sống và trong công tác; có lòng nhân ái, bao
dung, độ lượng, đối xử hoà nhã với người học, đồng nghiệp; sẵn sàng giúp đỡ, bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp chính đáng của người học, đồng nghiệp và cộng đồng.
- Tận tụy với công việc; thực hiện đúng điều lệ, quy chế, nội quy của đơn vị, nhà trường, của
ngà
nh.
- Công bằng trong giảng dạy và giáo dục, đánh giá đúng thực chất năng lực của người học; thực
hành tiết kiệm, chống bệnh thành tích, chống tham nhũng, lãng phí.
- Thực hiện phê bình và tự phê bình thường xuyên, nghiêm túc; thường xuyên học tập nâng cao
trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, đáp
ứng
yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục.
 Lối sống, tác phong
- Sống có lý tưởng, có mục đích, có ý chí vượt khó vươn lên, có tinh thần phấn đấu liên tục với
động cơ trong sáng và tư duy sáng tạo; thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh.
- Có lối sống hoà nhập với cộng đồng, phù hợp với bản sắc
dân tộc và thích ứng với sự tiến bộ
của xã hội; biết ủng hộ, khuyến khích những biểu hiện của lối sống văn minh, tiến bộ và phê phán
những biểu hiện của lối sống lạc hậu, ích kỷ.
- Tác phong làm việc nhanh nhẹn, khẩn trương, khoa học; có thái độ văn minh, lịch sự trong
quan hệ xã hội, trong giao tiếp với đồng nghiệp, với người học; g
iải quyết công việc khách quan,
tận tình, chu đáo.
- Trang phục, trang sức khi thực hiện nhiệm vụ phải giản dị, gọn gàng, lịch sự, phù hợp với
nghề dạy học, không gây phản cảm và phân tán sự chú ý của người học.
- Đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp cùng hoàn thành tốt nhiệm vụ; đấu tranh, ngăn chặn những
hành vi vi phạm pháp luật và các quy định nghề nghiệp. Quan hệ, ứng xử đúng mực, gần gũi với

có giá trị nhất của nhà trường.
Đội ngũ giảng viên có vai trò hết sức quan trọng đối với sự sống còn của một nhà trường bởi
vì đội ngũ giảng viên quyết định chất lượng sản phẩm tạo ra, là uy tín của trường đối với xã hội.
1.2.2.
Quản lý, quản lý giáo dục, cán bộ quản lý giáo dục, quản lý trường học
 Quản lý
Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, tổ
chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế…
bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp
cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng.
Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lê
n đối tượng quản lý
và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt
được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường.
 Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là hoạt động điều hà
nh, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh
công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội.
Quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể quản lý nhằm huy động, tổ chức, điều
phối, điều chỉnh, giám sát, … một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài
lực) phục vụ cho mục tiê
u phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới
hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người.
 Quản lý nhà trường
Quản lý nhà trường là những tác động có hệ thống, có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật
của chủ thể quản lý đến tất cả các mắc xích của hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ vận hành theo
đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà
trường xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới

- Trường sư phạm do Nhà nước thành lập để đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo, cán bộ quản lý giáo
dục.
- Trường sư phạm được ưu tiên trong việc tuyển dụng nhà giáo, bố trí cán bộ quản lý, đầu tư
xây dựng cơ sở vật chất, ký túc xá và bảo đảm kinh phí đào tạo.
- Trường sư phạm có trường thực hành hoặc cơ sở thực hành.
- Giảng viên của trường được tuyển dụng theo phương thức ưu tiên đối với sinh viên tốt nghiệp
loại khá, loại giỏi, có phẩm c
hất tốt và người có trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ, có
kinh nghiệm hoạt động thực tiễn, có nguyện vọng trở thành nhà giáo.
 Về mục tiêu giáo dục:
- Đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức
và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với tr
ình độ đào tạo.
- Đào tạo trình độ đại học giúp sinh viên nắm vững kiến thức chuyên môn và có kỹ năng thực
hành thành thạo, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn đề thuộc chuyên
ngành được đào tạo.
- Đào tạo trình độ thạc sĩ giúp học viên nắm vững lý thuyết, có trình độ cao về thực hành, có
khả năng làm việc độc lập, sá
ng tạo và có năng lực phát hiện, giải quyết những vấn đề thuộc
chuyên ngành được đào tạo.
- Đào tạo trình độ tiến sĩ giúp nghiên cứu sinh có trình độ cao về lý thuyết và thực hành, có
năng lực nghiên cứu độc lập, sáng tạo, phát hiện và giải quyết những vấn đề mới về khoa học, công
nghệ, hướng dẫn nghiên cứu khoa học và hoạt động chuyên môn.
 Về nội du
ng:
- Nội dung đào tạo phải có tính hiện đại và phát triển, bảo đảm cơ cấu hợp lý giữa kiến thức
khoa học cơ bản, ngoại ngữ và công nghệ thông tin với kiến thức chuyên môn.
- Chương trình đào tạo thể hiện mục tiêu giáo dục đại học; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng,
phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục đại học, phương phá
p và hình thức đào tạo, cách thức đánh

trở lên, trong đó ít nhất 25% đạt trình độ tiến sĩ. Năm 2015, ít nhất 50% và năm 2020 100% giảng
viên đứng lớp của các trường đại học sư phạm đạt trình độ tiến sĩ” [7].
“Đội ngũ giảng viên đủ về số lượng, có phẩm chất đạo đức và lương tâm nghề nghiệp, c
ó
trình độ chuyên môn cao, phong cách giảng dạy và quản lý tiên tiến; bảo đảm tỷ lệ không quá 20
sinh viên/giảng viên” [9].
1.3.3.
Trường đại học sư phạm trọng điểm
Trường đại học trọng điểm là trường đại học được xác định trong quy hoạch mạng lưới trường
đại học, cao đẳng do Thủ tướng Chính phủ quyết định, trong đó đào tạo những ngành nghề then
chốt, với chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.
Trường ĐHSP trọng điểm là trường đại học đầu ngành Sư phạm
, là "máy cái của ngành giáo
dục", trở thành trường chuẩn mực vừa đào tạo giáo viên các cấp có chất lượng cao vừa nghiên cứu
khoa học đạt trình độ tiên tiến.
Trường ĐHSP trọng điểm có vị trí, vai trò cụ thể như sau:
- Là trung tâm đào tạo Đại học và Sau Đại học chuẩn mực và có chất lượng cao, trước hết là
đào tạo những giáo viên và những nhà giáo dục nắm vững tri thức chuyê
n môn, có khả năng hoạt
động giáo dục, giảng dạy và học tập suốt đời, có nhân cách và những phẩm chất của người thầy.
- Là trung tâm nghiên cứu khoa học và công nghệ tiên tiến, bao gồm cả khoa học xã hội – nhân
văn và khoa học tự nhiên.
- Trung tâm xây dựng chương trình, biên soạn giáo trình có chất lượng cao nhằm phục vụ yêu
cầu đào tạo của trường và cung cấp cho ngành sư phạm.
- Là một trong những nơi đào tạo tài năng trẻ cho đất nước.
- Cơ cấu đội ngũ giảng viên về trình độ đáp ứng được yêu cầu và nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu
khoa học (NCKH) có hiệu quả.
Vị trí, vai trò của trường ĐHSP trọng điểm
còn thể hiện ở năng lực đội ngũ giảng viên, năng
lực quản lý, cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị, phòng thí nghiệm, cơ sở thực hành và thư viện

- Thanh tra, kiểm
tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý
các hành vi vi phạm pháp luật về giáo dục.
1.4.2.2. Các chức năng quản lý
 Thực hiện chức năng hoạch định trong công tác quản lý ở trường ĐHSP
Hoạch định là một quá trình ấn định những mục tiêu và xác định biện pháp tốt nhất để thực
hiện những mục tiêu đó. Tất cả những người quản lý đều làm công việc hoạch định.

Hoạch định giúp nhà quản lý có tư duy có hệ thống để tiên liệu các tình huống quản lý, phối
hợp được mọi nguồn lực của tổ chức hữu hiệu hơn và tập trung vào các mục tiêu và chính sách của
tổ chức.

Hoạch định có thể không chính xác hoàn toàn nhưng vẫn có ích cho nhà quản lý vì nó gợi cho
nhà quản lý sự hướng dẫn, giảm bớt hậu quả của những biến động, giảm tối thiểu những lãng phí,
lặp lại, và đặt ra những tiêu chuẩn để kiểm soát mọi tình huống được dễ dàng.
Căn cứ vào yếu tố thời gian, có thể chia hoạch định thành 2 loại:
- Hoạch định dài hạn: là những hoạch định kéo dà
i từ 1 đến 5 năm. Những kế hoạch này nhằm
đáp ứng các điều kiện môi trường, mục tiêu tài chánh, và tài nguyên cần thiết để thi hành sứ mạng
của tổ chức.
- Hoạch định ngắn hạn là những kế hoạch cho từng ngày, từng tháng hay từng năm. Các nhà
quản lý lập kế hoạch ngắn hạn để hoàn thành những bước đầu hoặc những khâu việc trong tiến
trình dà
i hạn đã được dự trù. Nói cách khác, kế hoạch ngắn hạn nhắm đến việc giải quyết những
vấn đề trước mắt trong một phạm vi công tác giới hạn hoặc một khâu việc trong một guồng máy
điều hành.
Hoạch định là nhắm đến tương lai. Nói cách khác, chức năng hoạch định bao gồm các quá
trình: dự báo, xác định mục tiêu và xây dựng kế hoạch thực hiện để đạt mục tiêu đó.
+ Dự báo
“Dự báo là


Mục tiêu là dự kiến trước kết quả theo yêu cầu khách quan và mong đợi mà nhà quản lý muốn
đạt được trong tương lai cho tổ chức của mình, là kết quả của sự cố gắng, nỗ lực thực hiện sứ
mạng.
Mục tiêu có các vai trò: làm nền tảng cho hoạch định, nhằm xây dựng hệ thống quản lý (mặt
tĩnh); quyết định toàn bộ diễn biến của tiến trình quản lý (mặt động).

Khi xác định mục tiêu, nhà quản lý cần đáp ứng các cầu: đảm bảo tính liên tục và kế thừa;
phải rõ ràng bằng các chỉ tiêu định lượng là chủ yếu; nên có sự kỳ vọng và tiên tiến để thể hiện
được sự phấn đấu của các thành viên; cần xác định mục tiêu trọng tâm để tập trung các nguồn lực;
xác định rõ thời gian thực hiện và có các kết quả cụ thể.

+ Kế hoạch hoá
Kế hoạch hóa là quá trình dự báo, xác định các mục tiêu phát triển giáo dục và quyết định
những biện pháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu đó.
Khi tiến hành chức năng kế hoạch, người quản lý cần hoàn thành được hai nhiệm vụ là xác
định đúng những mục tiêu cần để phát triển giáo dục và quyết định được những biện pháp có tính
khả thi (phù hợp với quan điểm,
đường lối theo từng giai đoạn phát triển của đất nước).
Kế hoạch hóa là cơ sở để huy động, định hướng cho toàn bộ các hoạt động của quá trình quản
lý và là cơ sở để huy động tối đa các nguồn lực cho việc thực hiện các mục tiêu; là căn cứ cho việc
kiểm tra đánh giá quá trình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của tổ chức, đơn vị và từng cá
nhân.
Như vậy, kế hoạch hóa là việc đưa toàn bộ hoạt động quản lý vào công tác kế hoạch, trong đó
chỉ rõ các bước đi, biện pháp thực hiện và bảo đảm các nguồn lực để đạt tới các mục tiêu của tổ
chức.
Kế hoạch hoá các hoạt động giáo dục và đào tạo trong trường đại học là quá trình xác định
các mục tiêu phát triển giáo dục và quyết định những biện pháp tốt nhất để thực hiện mục tiê
u đó.
Do vậy, khi tiến hành chức năng kế hoạch, người quản lý cần thực hiện nhiệm vụ: dự báo

Chỉ đạo là sự điều khiển, đôn đốc quá trình thực hiện mục tiêu đề ra của tổ chức, nhằm điều
chỉnh kịp thời những sai lệch
xuất hiện so với mục tiêu, nhiệm vụ đề ra. Do vậy công tác chỉ đạo có
tác dụng tích cực nhất, linh hoạt nhất của phương pháp quản lý. Tuy nhiên, công tác chỉ đạo vẫn
phải dựa vào tác động tổ chức, xuất phát từ tổ chức; nếu không sẽ làm tăng thêm sự mất cân đối,
mang tính ngẫu nhiên, cá biệt trong quản lý.
Chỉ đạo là quá trình tác động và ảnh hưởng của chủ thể quản lý tới những người khác nhằm
biến những yêu cầu chung của tổ chức, của nhà trường thành nhu cầu của mọi cán bộ, viên chức,
trên cơ sở đó mọi người tíc
h cực, tự giác và mang hết khả năng để làm việc.
Chức năng chỉ đạo có nguồn gốc từ hai thuật ngữ Directing (điều hành) và Leading (lãnh
đạo), do đó, vừa có ý nghĩa ra chỉ thị để điều hành vừa là tác động ảnh hưởng tới hành vi, thái độ
của mọi thành viên trong toàn bộ hệ thống trên cơ sở ứng dụng đúng đắn các quyền của người quản
lý.
Công tác chỉ đạo trong quản lý liên qua
n đến việc tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng
đội ngũ nhân viên.
Nội dung chủ yếu của công tác chỉ đạo:
- Thực hiện quyền chỉ huy và hướng dẫn triển khai các nhiệm vụ, bảo đảm thiết thực và cụ thể
với khả năng và trình độ của từng thành viên trong tổ chức.
- Thường xuyên đôn đốc, động viê
n và kích thích thực hiện nhiệm vụ, có tác dụng như quá
trình tạo động cơ làm việc của mọi thành viên. Trong giai đoạn này, người quản lý cần có những
tác động cần thiết tới các đối tượng để biến các yêu cầu của nhà trường thành nhu cầu hoạt động
của từng người.
- Giám sát: quá trình hoạt động của chủ thể quản lý nhằm theo dõi việc thực hiện các nhiệm vụ
của cấp dưới, khi thấy có sự sai lệch thì giúp sửa chữa, giúp đỡ đối tượng thực hiện tốt các nhiệm
vụ được giao
- Thúc đẩy c
ác hoạt động phát triển là hết sức cần thiết trong quá trình chỉ đạo. Người quản lý

- Thông tin quản lý là dữ liệu (tình hình) về việc thực hiện các nhiệm vụ đã được xử lý giúp
cho người quản lý hiểu đúng về đối tượng mà h
ọ đa
ng quan tâm để phục vụ cho việc đưa ra các
quyết định quản lý. Do đó thông tin quản lý không những là tiền đề của quản lý mà còn là huyết
mạch quan trọng để duy trì (nuôi dưỡng) quá trình quản lý.
- Quyết định quản lý là sản phẩm của người quản lý trong quá trình thực hiện các chức năng
quản lý.
Thông tin
Quản lý
Kiểm tra
Hoạch định
Tổ chức
Chỉ đạo
: biểu thị mối liên hệ và tác động trực tiếp
: biểu thị mối liên hệ ngược hoặc thông tin phản hồi
Sơ đồ 1.2: Chức năng quản lý và chu trình quản lý
Xác lập

thêm kiến thức, kỹ năng c
ho mỗi con người với mục đích hoàn thiện, nâng cao khả năng hoạt động
nghề nghiệp và các hoạt động sống cho mỗi con người với mục đích hoàn thiện hoạt động thực tiễn
trong mỗi lĩnh vực nhất định.
Đào tạo (training) bao gồm các hoạt động nhằm mục đích nâng cao năng lực hay kỹ năng hoạt
động nghề nghiệp.
“Đào tạo là một loạt các hoạt động được tổ chức có hệ thống để trang bị cho người lao động
nhận thức,
kỹ năng tay nghề và động lực thực hiện công việc” [31,tr.338]. Đào tạo giúp trang bị
cho con người các nhận thức và kỹ năng thực tiễn, nó giúp cho con người lao động thực hiện tốt
hơn các công việc hiện tại. Ích lợi của công tác đào không chỉ dừng lại ở chỗ tr
ang bị cho giảng
viên các kỹ năng nghề nghiệp hiện tại mà còn phát triển họ lên một nấc cao hơn để đảm nhận trọng
trách trong tương lai.
Nhu cầu đào tạo bắt nguồn từ nhu cầu giải quyết các tồn tại hiện nay và vượt qua những thử
thách trong tương lai. Trong bối cảnh đất nước hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, công
tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, viên chức cần được
chú trọng, đặc biệt đối với đội ngũ
giảng viên các trường đại học.
Chức năng đào tạo được gọi một cách phổ biến là phát triển nguồn nhân lực (development),
phối hợp hoạt động đào tạo và phát triển trong tổ chức. Phát triển nguồn nhân lực bao gồm các hoạt
động nhằm chuẩn bị c
ho viên chức theo kịp với cơ cấu tổ chức khi nó thay đổi và phát triển.
“Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, kiến thức của loài người trong
các lĩnh vực tích lũy với tốc độ nhanh. Theo ước tính của các nhà khoa học, ngày nay cứ sau 5
năm, kiến thức loài người được tích lũy gấp đôi. Và chính do môi trường ngày càng biến đổi nên
việc đào tạo phát triển nguồn nhân lực ngày càng trở thành nhiệm vụ quan trọng của các nhà quản
lý” [37].
Đào tạo và phát triển có thể được triển khai một cách chính thức hay không chính thức. Hình
thức đào tạo chính thức liên quan đến những hướng dẫn thực hiện một công việc mới hay đảm bảo

vụ theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, kịp thời uốn nắn những sai lệch nhằm giúp người thực hiện hoàn
thành nhi
ệm vụ được gia
o.
Đánh giá nhu cầu đào
tạo:
+ Phân tích tổ chức
+ Phân tích công việc
+ Phân tích cá nhân

Xác định mục tiêu
đào tạo

Xây dựng các tiêu
chuẩn
Lựa chọn các phương
pháp đào tạo và áp dụng
các nguyên tắc học

Tiến hành đào tạo
Đo lường và so sánh kết
quả đào tạo với các tiêu
chuẩn
Phản hồi
Sơ đồ 1.3: Mô hình hệ thống về quy trình đào tạo
(Nguồn: Training in Organizations, Goldstein, 1993
“Căn cứ vào tiêu chuẩn quy định và tình hình thực hiện nhiệm vụ của đơn vị, trưởng các khoa,
tổ bộ môn trực tiếp giao trách nhiệm cho giảng viên. Trưởng các đơn vị là người chịu trách nhiệm
về việc thi hành nhiệm vụ của giảng viên” [13]. Bên cạnh đó, giảng viên còn chịu sự giám sát của
các cơ quan chức năng trong việc thanh tra, kiểm tra các hoạt động đào tạo nói chung và công tác

Bản lĩnh và uy tín khoa học của người giảng viên được coi là một trong những thước đo quan
trọng khi đánh giá, phân loại giảng viên. Cơ sở đánh giá năng lực nghiê
n cứu khoa học của giảng
viên phải dựa vào những sản phẩm trí tuệ của họ sáng tạo ra (công trình nghiên cứu, tài liệu, giáo
trình, bài báo, báo cáo khoa học…).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status