BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
PHẠM VĂN KHẢO
Chuyên ngành : Quản Lý Giáo Dục
Mã số : 60 14 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. TRẦN THỊ HƯƠNG
CT : cần thiết
CCT : chưa cần thiết
ĐDDH : đồ dùng dạy học
GD&ĐT : giáo dục & đào tạo
GV : giáo viên
KT : khả thi
KKT : không khả thi
KTH : không thực hiện
KTX : không thường xuyên
HĐDH : Hoạt động dạy học
HĐGD : Hoạt động giảng dạy
HT : Hiệu trưởng
PHT : Phó Hiệu trưởng
PP
CT : phân phối chương trình
PPDH : phương pháp dạy học
QLGD : quản lí giáo dục
RKT : rất khả thi
RTX : rất thường xuyên
THPT : trung học phổ thông
THPT BC : trung học phổ thông bán công
TTCM : tổ trưởng chuyên môn
TX : thường xuyên
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong thời đại của cách mạng khoa học - công nghệ, trí tuệ đang trở thành
động lực chính của sự tăng tốc phát triển. Hầu hết các quốc gia đều khẳng định
nguồn lực con người là quan trọng nhất và giáo dục là con đường cơ bản nhất để
phát huy nguồn lực con người, phục vụ cho sự phát triển nhanh và bền vững. Đặc
biệt, đối với các nước đang phát triển, bê
nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và
học” và đồng thời đổi mới công tác quản lí để nhằm đáp ứng đòi hỏi ngà
y càng cao
về nhân lực của công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội.
Trong xu thế toàn cầu hoá và việc Việt Nam đã là thành viên của WTO, chúng
ta đang đứng trước những cơ hội và thách thức mới. Trong đó ngành giáo dục phải
không ngừng khẳng định vị thế của mình nhằm thể hiện vai trò, tạo bước đột phá
trong cuộc cách mạng trí tuệ đang hình thành và phát triển. Sự chuyển biến và phát
triển của nền kinh tế tri thức diễn ra ngày càng rộng lớn và mạnh mẽ trên qui mô toàn
cầu. Nền giáo dục cũng đã và đang định hình nhằm thực hiện chức năng trọng yếu là
động lực của mọi sự tiến bộ xã hội. Đứng trước tình hình ấy, Đại hội Đảng Cộng sản
Việt Nam
lần IX tiếp tục khẳng định: “Phát triển đội ngũ giáo viên, coi trọng chất
lượng và đạo đức sư phạm, cải thiện chế độ đãi ngộ. Bảo đảm về cơ bản đội ngũ giáo
viên đạt chuẩn quốc gia và tỉ lệ giáo viên so với yêu cầu học sinh từng cấp học”
[13
].
Dạy học là hoạt động trung tâm của nhà trường, đội ngũ GV là lực lượng
quyết định chất lượng dạy học. Nhiệm vụ của người GV là giáo dục, giảng dạy theo
mục tiêu, nguyên lí, chương trình giáo dục để giúp HS phát huy tính tích cực, chủ
động sáng tạo, vận dụng kiến thức vào thực tiễn và hình thành những tình cảm đạo
đức tốt đẹp. Thời đại ngày nay, thời đại của thông tin và nền kinh tế tri thức thì sứ
mạng của người GV càng nặng nề hơn. N
gười thầy không chỉ chuyển tải thông tin
cho HS mà còn phải tổ chức, điều khiển, hướng dẫn HS chủ động chiếm lĩnh tri
thức. Vì vậy, vấn đề nâng cao chất lượng giảng dạy của đội ngũ GV hết sức quan
trọng, có ý nghĩa quyết định chất lượng đào tạo.
Yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông, đổi mới HĐGD đòi hỏi phải đổi mới
hoạt động quản lí. Đổi mới quản lí trường học trở th
ành đòi hỏi cấp bách, trong đó
PT huyện Cần Đước,
tỉnh Long An tuy đã đạt được những kết quả nhất định nhưng vẫn có nhiều bất cập,
chưa đáp ứng đuợc yêu cầu ngày càng cao của công tác quản lí ở trường THPT. Nếu
đánh giá đúng thực trạng công tác quản lí HĐDH ở các trường THPT huyện Cần
Đước sẽ có cơ sở thực tiễn để đề xuất các giải pháp quản lí đối với HĐDH nhằm nâng
cao chất lượng và hiệu quả của HĐDH ở trường THPT.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận về quản lí HĐDH ở trường THPT
5.2 Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng về quản lí HĐDH ở các trường
THPT huyện Cần Đước, tỉnh Long A
n.
5.3 Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lí HĐDH ở các trường
THPT.
6. Giới hạn đề tài
Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp quản lí hoạt động dạy của GV ở
các trường THPT huyện Cần Đước, tỉnh Long An.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp luận
- Tiếp cận hệ thống - cấu trúc: Là cách thức nghiên cứu đối tượng như một
hệ thống t
oàn vẹn, phát triển động, tự hình thành và phát triển thông qua việc giải
quyết mâu thuẫn nội tại do sự tương tác hợp quy luật của các thành tố tạo ra. Qua đó
phát hiện các yếu số sinh thành, yếu tố bản chất và lôgic phát triển của đối tượng trở
thành hệ toàn vẹn, tích hợp mang chất lượng mới.
- Tiếp cận quan điểm lịch sử: Khi xem xét sự vật hay một hiện tượng, chúng
ta thường xem
xét quá trình lịch sử của nó. Từ đó thấy được mối quan hệ giữa quá
khứ, hiện tại và tương lai của đối tượng nghiên cứu.
- Tiếp cận quan điểm thực tiễn: Việc đề ra các biện pháp nhằm góp phần nâng
cao hiệu quả công tác quản lý giảng dạy của hiệu trưởng các trường THPT dựa trên
Sau khi thu thập các phiếu thăm dò ý kiến, dựa vào kết quả điều tra, tác giả sử
dụng phần mềm SPSS for Windows để xử lí số liệu, tí
nh tần số xuất hiện và tỉ lệ
phần trăm các nội dung trong phiếu hỏi nhằm đánh giá thực trạng và định hướng
nâng cao hiệu quả công tác quản lí HĐGD trong các trường
THPT huyện Cần
Đước.
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Thế giới
Ngay từ thời cổ đại, vấn đề dạy học đã được nhiều nhà triết học đồng thời là
nhà giáo dục ở cả phương Đông và phương Tây đề cập đến. Có thể kể đến các tư
tưởng và công trình chủ yếu dưới đây:
Ở phương Tây, từ trước công nguyên, Xôcrat (469 - 339) đã quan niệm g
iáo dục
phải giúp con người tìm thấy và tự khẳng định chính bản thân mình. Ông cho rằng để
nâng cao hiệu quả dạy học cần có phương pháp giúp thế hệ trẻ từng bước tự khẳng
định, tự phát hiện tri thức mới mẻ, phù hợp với chân lí. Platon (429 - 347 trước CN)
xác nhận vai trò tất yếu của giáo dục trong xã hội, tính quyết định của chính trị đối
với giáo dục.
Ở Phương Đông, nhà giáo dục học vĩ đại người Trung Hoa – Khổng Tử (551-
479 TCN) rất coi trọng mặt suy nghĩ tích cực của người học, qua
n niệm PPDH là
dùng cách gợi mở, đi từ gần đến xa, từ đơn giản đến phức tạp, nhưng vẫn đòi hỏi
người học phải tích cực suy nghĩ, phải hình thành nề nếp, thói quen trong học tập.
Ông nói: “Không giận vì muốn biết thì không gợi mở cho, không bực vì không rõ
n công nhiệm vụ giữa HT và PHT. Các tác giả đã thống nhất và khẳng định HT
phải là người lãnh đạo toàn diện và chịu trách nhiệm trong công tác quản lí nhà
trường. P.V. Zimin, M.I.Konđakôp, N.I.Saxerđôtôp đã đi sâu nghiên cứu công tác
lãnh đạo HĐGD, giáo dục trong nhà trường và xem đây là khâu then chốt trong
công tác quản lí của HT [33].
Đối với công tác xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ G
V, các nhà nghiên cứu đều
cho rằng trong những nhiệm vụ của HT thì nhiệm vụ hết sức quan trọng là xây dựng
và bồi dưỡng đội ngũ GV. HT phải biết lựa chọn đội ngũ GV bằng nhiều nguồn
khác nhau và bồi dưỡng họ trở thành những GV tốt theo tiêu chuẩn nhất định bằng
những biện pháp khác nhau.
Đối với việc tổ chức dự giờ và phân tích sư phạm bài dạy của GV, tác giả
V.A.X
ukhomlinxki đã thừa nhận tầm quan trọng của biện pháp này và chỉ rõ thực
trạng yếu kém của việc phân tích sư phạm bài dạy, cho dù hoạt động dự giờ và góp
ý với GV sau giờ dự của HT diễn ra thường xuyên. Từ thực trạng đó, tác giả đã đưa
ra nhiều cách phân tích sư phạm bài dạy của GV.
1.1.2 Việt Nam
Trước hết phải nói đến quan điểm về giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh
(1890 - 1969). Bằng việc kế thừa những tinh hoa của các tư tưởng giáo dục tiên tiến
và vận dụng sáng tạo phương pháp luận của triết học Mác - Lêni
n, Người đã để lại
cho chúng ta những nền tảng lí luận về vai trò giáo dục, định hướng phát triển giáo
dục, mục đích dạy học, các nguyên lí dạy học, các phương thức dạy học, vai trò của
quản lí và cán bộ QLGD, phương pháp lãnh đạo và quản lí. Hệ thống các tư tưởng
của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục có giá trị cao trong quá trình phát triển lí
luận dạy học, lí luận giáo dục của nền giáo dục cách mạng Việt Nam.
Trên cơ sở lí luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Ch
í Minh, đã có
nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục Việt Nam nghiên cứu về quản lí nhà trường. Thủ
Gần đây nhất, vào năm
2001, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam đã cho xuất
bản tuyển tập “Giáo dục học - Một số vấn đề lí luận và thực tiễn” của cố giáo sư Hà
Thế Ngữ (1929 - 1990). Trong công trình này, thông qua việc trình bày về đối
tượng nghiên cứu và cấu trúc của khoa học QLGD, các khái niệm cơ bản của lí luận
QLGD, những nguyên tắc QLGD và những qui luật giáo dục, tác giả đã giới thiệu
nhiều tri thức về phương pháp luận nghiên cứu hiệu quả giáo dục và dạy học.
Ngoài ra, qua nghiên cứu ở các bộ phận lưu trữ của trường Cán bộ QL
GD
thuộc Bộ GD&ĐT và Trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh, chúng tôi nhận
thấy có một số tác giả đã chọn vấn đề nghiên cứu gần với đề tài chúng tôi nghiên
cứu để làm luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành QLGD. Trong các đề tài này,
các nhà nghiên cứu quan tâm
đến việc bồi dưỡng nâng cao trình độ, nghiệp vụ quản
lí cho đội ngũ CBQL các trường phổ thông, dạy nghề, trung học chuyên nghiệp, cao
đẳng và đưa ra các biện pháp chung nhằm góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy
ở các trường.
Đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo là mục tiêu phải đạt được của HĐDH
và quản lí HĐDH. Trong nhà trường THPT, đây là công việc chiếm một thời gian
lớn và khó khăn nhất của người HT. Thời gian vừa qua, nhiều nhà QLGD đã nghiên
cứu về quản lí trường học, chủ yếu là công tác quản lí của HT ở trường TH
PT, để
tìm ra các biện pháp quản lí đạt hiệu quả. Các nhà nghiên cứu đã quan tâm đến việc
nâng cao trình độ nghiệp vụ quản lí của HT, CBQL và đưa ra các giải pháp chung
nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy ở các trường THPT.
Một số luận văn thạc sĩ quan tâm đến đề tài quản lí của HT nhằm nâng cao
chất lượng dạy học ở các trường THPT trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà
Lạt, Tiền Giang, Cà Mau,… Trong các công trình trên đây, các tác giả đã nêu lên
vai trò của GV trong thời kì CNH-HĐH đất nước và đối với sự nghiệp phát triển
GD&ĐT nói riêng. Hơn nữa một số tác giả trực tiếp đề cập tới nội dung quản lí đội
giáo dục để mọi người đều có cơ hội, càng phát hiện được nhiều tài năng hơn. Bộ
trưởng Giáo dục Hatainen giải thích: “Giáo dục cũng giống như môn khúc côn cầu.
Chúng tôi để cho cho tất cả các em được chơi, không chỉ những em xuất sắc. Trong
cuộc chơi công bằng này (được hưởng một nền giáo dục ngang nhau), các em có cơ
hội để bộc lộ khả năng và chúng tôi sẽ phát hiện được nhiều nhân tài.”; “Cơ sở của
nền giáo dục Phần Lan là các em đều được học một cách công bằng. C
ùng một
trường với môi trường giống nhau còn giúp các em cảm thấy an toàn hơn.”
[28
]
Một trong số những điều ấn tượng nhất trong giáo giục Thụy Điển là sự linh
hoạt ở mức tối đa của chương trình học. Xét về mặt nào đó, đây thực sự là cách
giảng dạy đầy tính nhân văn, tôn trọng HS. Thực tế, không phải trường học nào
cũng đưa ra được chương trình học phù hợp với nhu cầu và sự quan tâm của mọi
HS trong trường. Với những H
S cảm thấy chương trình học có yêu cầu quá cao, nhà
trường có thể sắp xếp để điều chỉnh hoặc giảm bớt các khoá học. Điều này cũng
đồng nghĩa với việc giảm bớt thời gian học, thay thế các bài tập thực hành bắt buộc.
Tuy nhiên, những HS giảm bớt môn học sẽ không được nhận bảng điểm đầy đủ
nhưng vẫn có thể được các trường TH
PT chấp nhận vào học.
Các nước châu Á đang có những động thái tích cực để tạo ra một môi trường
giáo dục mới phù hợp và ưu việt hơn. Trước đây, khi nói về giáo dục ở châu Á,
nhiều người thường cho rằng, HS ở đây luôn là những người siêng năng, cần cù và
chăm chú trong giờ giảng, trong khi đó các HS phương Tây lại luôn tìm đến những
trò nghịch ngợm hay gây lộn trong trường. chuẩn bị về phong cách và lực học của
các học trò phương Đông từng là tiêu chí để các thầy giáo phương Tâ
y hướng tới
cho các học trò của mình. Tuy nhiên, với những chương trình giảng dạy được dựa
trên những chuẩn mực cũ đã làm cho HS châu Á mất dần đi khả năng sáng tạo và
cầu phong phú của xã hội; đồng thời quan tâm thỏa mãn nhu cầu phát triển từng cá
nhân. Sự phát triển kinh tế xã hội của Trung Quốc hiện nay đã đến giai đoạn phải
chuyển hướng đòi hỏi đối với giáo dục, từ chỗ trước đây
đặt trọng tâm chú ý nhiều
đến giáo dục nền tảng, đại chúng thì nay phải chuyển trọng tâm chú ý sang GD&ĐT
đội ngũ nhân tài đặc biệt cho mọi lĩnh vực đời sống, kinh tế, xã hội của đất nước.
Đồng thời sự bùng nổ của CNTT nói riêng và khoa học công nghệ nói chung
đang tác động mạnh mẽ vào sự phát triển của tất cả các ngành trong đời sống xã
hội. Để việc dạy học theo kịp cuộc sống, giáo dục THPT nhất thiết phải cải cách
PPDH theo hướng vận dụng CNTT và các thiết bị dạy học hiện đại phát huy mạnh
mẽ tư duy sáng tạo, kĩ năng thực hành và hứng thú học tập của HS để nâng cao chất
lượng đào tạo. Yêu cầu đối với GV phải biết soạn giáo án điện tử và trình diễn giờ
dạy theo phương pháp hiện đại.
Trước những yêu cầu của xã hội về sự nghiệp giáo dục, nhất là trong giai đoạn
hiện nay, cả nước đang đổi mới chương trình giáo dục phổ thông và phân ban đại
trà vào năm học 2006-2007 đòi hỏi ngành giáo dục phải có đư
ợc đội ngũ CBQL trẻ,
năng lực giỏi đáp ứng tốt công tác quản lí trường học.
1.2.2 Vị trí, nhiệm vụ và mục tiêu đào tạo của trường THPT Việt Nam
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục THPT được xem là nền tảng và
có ý nghĩa quan trọng đối với nguồn nhân lực của đất nước; bởi lẽ giáo dục THPT
là nhằm
giúp HS củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở,
hoàn thiện học vấn phổ thông và những hiểu biết thông thường về kĩ thuật và hướng
nghiệp để tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi
vào cuộc sống lao động. Để giáo dục THPT thực sự có
chất lượng và chất lượng cao
phải đảm bảo đồng bộ về các điều kiện như chương trình giáo khoa, CSVC; đồng
thời phải kể đến vai trò nòng cốt của đội ngũ GV và CBQL trường học.
quốc; có chí tiến thủ lập nghiệp, không cam chịu nghèo hèn; có lòng nhân ái,
ứng xử hợp đạo lí, có văn hoá trong quan hệ gia đình, bạn bè, xã hội; sống
lành mạnh, tự tin, giản dị, tiết kiệm; hiểu biết, tôn trọng và chấp hành pháp
luật; qua
n tâm đến những vấn đề cấp bách của đất nước, của toàn cầu.
Củng cố, phát triển những nội dung đã học ở trung học cơ sở, gồm những
kiến thức cơ bản về tiếng Việt, toán, lịch sử dân tộc; kiến thức khác về khoa
học xã hội, khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học, ngoại ngữ; có những hiểu
biết cần t
hiết về kĩ thuật và hướng nghiệp, đảm bảo hoàn thành nội dung học
vấn phổ thông về tự nhiên, xã hội và con người, gắn với cuộc sống cộng đồng
và thực tiễn địa phương.
Được tiếp tục phát triển và nâng cao các kĩ năng học tập chung và kĩ năng học
tập bộ môn, đặc biệt là kĩ năng vận dụng kiến thức vào các tình huống học tập
mới, vào t
hực tiễn sản xuất và đời sống; được củng cố thói quen và phương
pháp tự học, năng lực thu thập, xử lí và truyền đạt thông tin, khả năng phát
hiện và giải quyết vấn đề, độc lập suy nghĩ, sáng tạo trong tư duy và hành
động; có khả năng sử dụng một ngoại ngữ trong giao tiếp thông thường và
khả năng ứng dụng một số thành tựu của CNTT ở trình độ phổ thông trong
giải quyết công việc; có hiểu biết và kĩ năng cần thiết về kĩ thuật tổng hợp và
hướng nghiệp để có thể vận dụng trong cuộc sống lao động, trong việc lựa
chọn hướng phát triển phù hợp với năng lực của bản thân.
Hiểu biết và có thói quen rèn luyện thân thể thường xuyên, đạt tiêu chuẩn rèn
luyện theo lứa tuổi; giữ gìn vệ sinh cá nhân và môi trường; sử dụng thời gian
hợp lí, biết cách làm việc và nghỉ ngơi khoa học.
Hiểu biết v
à có khả năng cảm thụ, đánh giá cái đẹp trong cuộc sống và văn học,
nghệ thuật, có nhu cầu sáng tạo cái đẹp; sống hoà hợp với thiên nhiên và xã
hội.
đức, chuyên môn, có năng lực quản lí trường học và có sức khoẻ.
- PHT có những nhiệm vụ, quyền hạn cơ bản theo qui định của Điều lệ
trường Trung học:
- Thực hiện và chịu trách nhiệm trước HT về những việc được phân công.
- Cùng với HT chịu trá
ch nhiệm trước cấp trên về các hoạt động có liên quan
của nhà trường.
- Thay mặt HT điều hành hoạt động của nhà trường khi được ủy quyền.
- Được dự các lớp bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn và nghiệp vụ quản lí
trường học, được hưởng các quyền lợi khác theo qui định.
Đội ngũ CBQL trường THPT là HT và các PHT đang làm nhiệm vụ quản lí
hoạt động dạy và học tại các trường TH
PT, xây dựng đội ngũ CBQL trường THPT
là làm cho đội ngũ này mạnh về chất, đủ về lượng, đồng bộ về cơ cấu nhằm phát
huy có hiệu quả công tác quản lí trường học trong từng giai đoạn phát triển của xã
hội, góp phần thực hiện mục tiêu “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng
nhân tài” mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra.
1.3 Lí luận về hoạt động
dạy học
1.3.1 Khái niệm về hoạt động dạy học
1.3.1.1 Hoạt động dạy
“Dạy là sự truyền lại của thế hệ trước cho thế hệ sau những kinh nghiệm mà
xã hội đã sáng tạo và tích lũy được qua các thế hệ”. “Hoạt động dạy là sự truyền thụ
những tri thức khoa học, những kĩ năng và phương pháp hành động”
[31].
Mục đích của hoạt động dạy là giúp người học lĩnh hội nền văn hoá xã hội,
phát triển t
âm lí, hình thành nhân cách. Bản thân người học không thể biến năng lực
của loài người thành năng lực của bản thân và nhất thiết người học ở những mức độ
khác nhau phải dựa vào sự giúp đỡ của người dạy. Như vậy, người học lĩnh hội nền
sư phạm và những công cụ, thiết bị, máy
móc hỗ trợ.
Kết quả của HĐGD là chất lượng và trình độ mới về phẩm chất và năng lực
của HS, giúp HS có thể nhận thức và cải biến hiện thực, làm cho hiện thực trở
nên tốt đẹp hơn.
1.3.1.2 Hoạt động học
Hoạt động học là hoạt động đặc thù của con người được điều khiển bởi mục
đích tự giác là lĩnh hội những tri thức, kĩ năng kĩ xảo mới, những hình thức hành vi
và những dạng hoạt động nhất định. Đây là một dạng hoạt động chỉ có thể thực hiện
ở một trình độ khi mà con người có được khả năng điều chỉnh những hành động của
mình bởi một mục đích đã được ý thức. Chỉ có thông qua hoạt động học này mới
hình thành ở cá nhân những tri thức khoa học cũng như cấu trúc tương ứng của hoạt
động tâm lí, sự phát triển toàn diện nhân các
h của người học. Thực chất hoạt động
học là quá trình người học lĩnh hội kiến thức dưới sự hướng dẫn của người dạy
nhằm biến đổi bản thân, để hình thành và hoàn thiện nhân cách của mình. Do đó,
người học phải xác định mục đích, động cơ, th
ái độ học tập, có sự tích cực, tự giác,
chủ động, sáng tạo trong tiếp thu tri thức, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo.
Hoạt động học có những đặc điểm sau:
- Đối tượng của hoạt động học là tri thức và những kĩ năng kĩ xảo tương ứng
với nó. Có thể nói cái đích mà hoạt động học hướng tới là chiếm lĩnh tri thức, kĩ
năng, kĩ xảo của xã hội thông qua
sự tái tạo của cá nhân. Việc tái tạo này sẽ không
thể thực hiện được nếu người học chỉ là khách thể bị động của những tác động sư
phạm, nếu những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo chỉ được truyền cho người học theo cơ
chế “máy phát” (người dạy), “máy nhận” (người học). Muốn học có kết quả người
học phải tích cực tiến hành các hoạt động học tập bằng c
hính ý thức tự giác và năng
của HS, là nhu cầu của chúng, có tác dụng thúc đẩy làm cho trí tuệ HS thêm giàu
có. “Học tốt” có nghĩa là biết tận dụng sự giảng dạy và hướng dẫn của thầy, coi như
một mô hình mẫu của việc xử lí đối tượng nghiên cứu, đồng thời bám chắc vào nội
dung trí dục từ đó mà tự lực tổ chức việc lĩnh hội của bản thân.
1.3.
1.3 Hoạt động dạy học
HĐDH là hoạt động chung của GV và HS, bao gồm hoạt động dạy của người
thầy và hoạt động học của HS. Hai hoạt động này có sự gắn bó chặt chẽ, mật thiết
với nhau, tồn tại cho nhau và vì nhau.
Như vậy, nội dung của HĐDH bao gồm các mặt: nội dung, tâm lí, xã hội và
nhân cách; việc thực hiện quá trình này đòi hỏi phải có sự thể hiện tích cực của các
chức năng tri giác, biểu cảm, giao tiếp, tổ chức và thiết kế của người dạy. Thực chất
của quá trình dạy học là giúp đỡ người học tự học, kĩ thuật nghiên cứu, tự điều
chỉnh và suy cho cùng, chính người thầy đã giúp trò tự hiểu bản thân mình và phấn
đấu để trò ngày càng tiến bộ.
1.3.2 Bản chất hoạt động dạy học
Bản chất của dạy học chính là gâ
y ảnh hưởng có chủ định đến hành vi học tập
và quá trình học tập của người khác, tạo ra môi trường và những điều kiện để người
học duy trì việc học, cải thiện hiệu quả, chất lượng học tập, kiểm soát quá trình và
kết quả học tập của mình [18]. Dạy học c
hính là cơ cấu và qui trình tác động đến
người học và quá trình học. Chủ thể là nhà giáo, thầy giáo, và bất kì người nào tiến
hành bảo ban người khác học tập. Vì thế, dạy học tức là dạy, bảo, chỉ dẫn người học
học. Nếu dạy trẻ học, điều đó có nghĩa là: dạy trẻ muốn học (có nhu cầu học tập);
dạy trẻ biết học (có kĩ năng và biện pháp học tập); dạy trẻ học lành
mạnh (có động
cơ học tập đúng đắn); dạy trẻ học bền bỉ (có ý chí học tập); dạy trẻ học thành công
(có kết quả và chất lượng); dạy trẻ học chủ động và độc lập (có khát vọng và ý thức
tự giác học tập). Nếu làm được như vậy thì thầy giáo mới thật sự là thầy và H
đạo, tổ chức điều khiển hoạt động nhận thức của người học và người học đóng vai
trò tự giác, tích cực, chủ động biết tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức -
học tập của
mình. GV giữ vai trò lãnh đạo, tổ chức, điều khiển hoạt động học của
HS.:
- Đề ra mục đích, yêu cầu nhận thức - học tập.
- Vạch ra kế hoạch hoạt động của mình.
- Tổ chức hoạt động dạy của mình và hoạt động học của người học.
- Kích thích tính tự giác, tính tích cực và chủ động của HS bằng cách tạo nê
n
nhu cầu, động cơ, khêu gợi tính tò mò, ham hiểu biết, hứng thú nhận thức của người
học, làm cho họ ý thức rõ ràng nghĩa vụ và trách nhiệm đối với việc học tập của
mình.
- Theo dõi, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS, qua đó có mà có biện
pháp điều chỉnh và sửa chữa kịp thời những thiếu sót, sai lầm của họ cũng như cải
tiến công tác giảng dạy của m
ình.
Quá trình học của người học có thể diễn ra dưới sự tác động trực tiếp của
người GV như diễn ra trong tiết học trên lớp hoặc những hình thức tổ chức dạy học
khác và dưới sự gián tiếp của người GV như tự học ở nhà. HS giữ vai trò tự giác,
tích cực, chủ động tự tổ chức tự điều khiển hoạt động của bản thân. Thể hiện:
- Tiếp nhận những nhiệm vụ và kế hoạch học tập do GV đề ra.
- Thực hiện những hành động và những thao tác nhận thức học tập nhằm giải
quyết những nhiệm vụ đề ra.
- Tự điều chỉnh hoạt động nhận thức - học tập của m
ình dưới tac động kiểm tra
của của GV và sự tự kiểm tra của mình.
- Phân tích những kết quả hoạt động học tập dưới sự lãnh đạo của GV.
Trong quá trình hoạt động độc lập học tập thiếu sự lãnh đạo trực tiếp của GV
thì hoạt động của người học đư