BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
_______________
Hồ Văn Thơm
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ SỰ PHỐI HỢP
GIỮA NHÀ TRƯỜNG-GIA ĐÌNH TRONG
CÔNG TÁC GIÁO DỤC HỌC SINH Ở CÁC
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
HUYỆN CẦN ĐƯỚC, TỈNH LONG AN
Chuyên ngành
Mã số
: Quản lý giáo dục
: 60 14 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS. TRẦN THỊ HƯƠNG
TP. Hồ Chí Minh – 2009
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thành luận văn tốt nghiệp tôi
đã được sự giúp đỡ tận tình của:
- Lãnh đạo và quí Thầy cô giáo Trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ
Chí Minh.
- Quí thầy cô giáo hướng dẫn các chuyên đề trong quá trình học tập.
GVCN
: Giáo viên chủ nhiệm
QLGD
: Quản lý giáo dục
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đảng ta đã khẳng định “Giáo dục là sự nghiệp của toàn dân”. Điều 3 chương I, Luật giáo
dục 2005 ghi rõ: “Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành,
giáo dục phải kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường
kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”. Điều 93 đến điều 98 chương VI cuõng đã qui
định trách nhiệm của nhà trường, gia đình, xã hội đối với công tác giáo dục và đã thể hiện ý
nghĩa quan trọng của sự phối hợp nhà trường-gia đình - xã hội [17]. Sự phối hợp nhà trường gia đình - xã hội nếu được thực hiện một cách đồng bộ thì hiệu quả giáo dục sẽ nâng lên, ngược
lại sự phối hợp này không ăn khớp thì sẽ gây cản trở hoặc khó khăn trong quá trình hình thành
nhân cách học sinh.
Một trong những đặc điểm của quá trình giáo dục là quá trình giáo dục diễn ra với những
tác động giáo dục phức hợp. Trong quá trình giáo dục người được giáo dục chịu nhiều tác động
từ các phía khác nhau: gia đình, nhà trường, xã hội. Ngay trong gia đình, nhà trường hoặc xã
hội, người được giáo dục cũng chịu ảnh hưởng của nhiều tác động khác nhau. Ví như trong gia
đình có những tác động của cha mẹ, của anh chị em, của nếp sống gia đình…. Trong nhà
trường có những tác động của giáo viên, của tập thể lớp, của nội qui, của nội dung, phương
pháp tổ chức giáo dục… Trong xã hội có những tác động của các cơ quan thông tin đại chúng,
của phim ảnh, sách báo, của người lớn… Những tác động đó có thể đan kết vào nhau rất mật
thiết tạo ra những ảnh hưởng tích cực thống nhất đối với người được giáo dục, hoặc có thể
ngược chiều nhau tạo ra những “lực nhiễu” gây khó khăn cho quá trình giáo dục. Vì vậy, vấn đề
đặt ra là cần tổ chức phối hợp tất cả các tác động giáo dục theo hướng tích cực, đồng thời cần
3.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý hoạt động giáo dục học sinh ở trường THPT
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng quản lý sự phối hợp nhà trường - gia đình trong công tác giáo dục học sinh ở
các trường THPT huyện Cần Đước, tỉnh Long An.
4. Giả thuyết khoa học
Sự phối hợp nhà trường - gia đình và công tác quản lý sự phối hợp nhà trường - gia đình
trong công tác giáo dục học sinh ở các trường THPT huyện Cần Đước, tỉnh Long An đã được
thực hiện nhưng còn hình thức, lỏng lẻo nên hiệu quả không cao. Việc đánh giá được thực trạng
này ở địa phương để làm cơ sở xây dựng những biện pháp quản lý phù hợp, đồng bộ góp phần
nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục học sinh ở các trường THPT trong giai đoạn mới.
5 . Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động phối hợp nhà trường - gia đình trong
công tác giáo dục học sinh ở trường trung học phổ thông.
5.2. Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý sự phối hợp nhà trường - gia đình
trong công tác giáo dục học sinh ở trường THPT huyện Cần Đước, tỉnh Long An.
5.3. Đề xuất các biện pháp quản lý sự phối hợp nhà trường - gia đình trong công tác giáo
dục học sinh ở trường trung học phổ thông.
6 . Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng quản lý sự phối hợp nhà trường - gia đình trong công tác giáo dục
học sinh ở các trường trung học phổ thông thuộc huyện Cần Đước, tỉnh Long An.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp luận
- Tiếp cận hệ thống - cấu trúc: là cách thức nghiên cứu đối tượng như một hệ thống toàn
vẹn, phát triển động, tự hình thành và phát triển thông qua việc giải quyết mâu thuẫn nội tại do
sự tương tác hợp quy luật của các thành tố tạo ra. Qua đó phát hiện các yếu tố sinh thành, yếu tố
bản chất và lôgic phát triển của đối tượng trở thành hệ toàn vẹn, tích hợp mang chất lượng mới.
- Tiếp cận quan điểm lịch sử: khi xem xét sự vật hay một hiện tượng, chúng ta thường
7.2.2.4. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Mục đích phương pháp là xin ý kiến của một số nhà quản lý giáo dục có kinh nghiệm, nhà
lãnh đạo giáo dục và các chuyên viên, nhằm hiểu rõ thực trạng và một số đề xuất hợp lý.
7.2.3. Phương pháp thống kê toán học (xử lý thông tin)
Phương pháp này nhằm xử lý kết quả nghiên cứu thực trạngvà nguyên nhân của thực trạng,
làm cơ sở đề xuất các biện pháp. Để xử lý số liệu điều tra tác giả dùng phương pháp thống kê
toán học, xử lý số liệu trên phần mềm (SPSS) để tính về số liệu phần trăm, điểm trung bình, từ
đó phân tích, đánh giá nhằm đưa ra những kết luận phù hợp.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HỌAT ĐỘNG PHỐI HỢP NHÀ TRƯỜNG
- GIA ĐÌNH TRONG CÔNG TÁC GIÁO DỤC HỌC SINH Ở TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề phoái hợp nhà trường - gia đình trong công tác giáo
dục học sinh
Hoạt động phối hợp giữa nhà trường - gia đình là vấn đề bức xúc trong công tác giáo dục
mà nhiều tác giả đã quan tâm nghiên cứu. Đặc biệt Đảng và Nhà Nước ta rất quan tâm đến việc
phối hợp giáo dục giữa nhà trường gia đình và xã hội, coi đó là nguyên tắc cơ bản đề đảm bảo
kết quả giáo dục trong các loại hình trường. Các nhà giáo dục đã quan tâm nghiên cứu và từng
bước giải quyết vấn đề này ở nhiều góc độ khác nhau. Các công trình nghiên cứu về vấn đề này
như sau:
- “Kết hợp việc giáo dục của nhà trường, gia đình và của xã hội”, chương 20 giáo trình
giáo dục học tập II, Nhà Xuất Bản Giáo Dục, Hà Nội 1988 của tác giả Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ
Hoạt.
- “Nâng cao tính thống nhất giữa giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội trong điều kiện
mới”, tập thể tác giả ở Trung Tâm Giáo Dục Học, thuộc Viện Khoa Học Giáo Dục, 1993.
- “Những quan điểm phương pháp luận của việc liên kết giáo dục giữa nhà trường, gia
đình và xã hội trong quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh hiện nay”, tác giả Nguyễn Thị Kỷ,
sinh trường trung học phổ thông chưa được đề cập cụ thể, có hệ thống. Đặc biệt ở địa phương
tỉnh Long An chưa có công trình nghiên cứu về vấn đề này. Vì vậy, trong điều kiện công tác
của mình, tác giả thấy cần có sự nghiên cứu về “Thực trạng quản lý hoạt động phối hợp giữa
nhà trường với gia đình ở trường trung học phổ thông huyện Cần Đước, tỉnh Long An”, từ đó
đề xuất một số biện pháp tăng cường hoạt động quản lý sự phối hợp này của hiệu trưởng.
1.2. Lý luận về sự phối hợp giữa nhà trường - gia đình trong công tác giáo dục học
sinh ở trường trung học phổ thông
1.2.1. Nhà trường trung học phổ thông trong công tác giáo dục học sinh
1.2.1.1. Vai trò, đặc điểm của giáo dục nhà trường
Nhà trường là cơ sở thực tế diễn ra hoạt động giáo dục giữa giáo viên và hoạt động học tập
của học sinh dưới sự quản lý của hiệu trưởng cùng với sự cộng tác của gia đình và xã hội. Nhà
trường trung học phổ thông là một cơ sở nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân. Nhà trường
luôn được gắn liền không thể tách rời hệ thống giáo dục và chịu sự quản lý của ngành giáo dục.
Nhà trường, bản thân nó cũng là hệ thống, trong hệ thống này có ba thành phần chính: con
người, những tổ chức chính trị, những phương tiện vật chất kỹ thuật.
Đặc trưng của giáo dục nhà trường bao gồm: nhà trường là một thiết chế xã hội, có kỷ luật
chặt chẽ, có mục đích giáo dục đúng đắn, là nơi truyền thụ tri thức và giáo dục học sinh một
cách toàn diện theo các nội dung giáo dục: đạo đức, trí tuệ, thể chất thẩm mỹ, lao động hướng
nghiệp. Nhà trường có đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn cao, có nghiệp vụ sư phạm,
hiểu biết và nắm được các đặc điểm tâm sinh lý của từng lứa tuổi; là những người biết tổ chức
các hoạt động giáo dục cho học sinh; là nơi tổ chức hoạt động học tập, rèn luyện và giáo dục
học sinh một cách có tổ chức, có kế hoạch, căn cứ vào các mục tiêu giáo dục cụ thể được nhà
nước qui định. Nhà trường phải thực hiện tốt nguyên lý giáo dục. “Học đi đôi với hành, giáo
dục phải kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn với xã hội”. Nhà trường là nơi đề ra nội
dung, biện pháp phối hợp giáo dục, đóng vai trò chủ đạo trong việc phối hợp với gia đình và
các lực lượng khác trong xã hội để cùng giáo dục học sinh. Môi trường giáo dục của nhà
trường trong chừng mực nhất định tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh hình thành và phát triển
tinh thần tập thể, tinh thần kỷ luật, trách nhiệm đối với bản thân và với mọi người.
học lên các bậc học cao hơn. Ngoài nội dung chủ yếu nhằm đảm bảo chuẩn kiến thức phổ thông
cơ bản toàn diện và hướng nghiệp còn có nội dung nâng cao ở một số môn học để phát triển
năng lực, đáp ứng nguyện vọng của học sinh
1.2.1.3. Lực lượng tham gia giáo dục học sinh trong trường trung học phổ thông
Lực lượng tham gia giáo dục học sinh trong trường trung học phổ thông bao gồm:
- Cán bộ quản lý (Ban giám hiệu)
+ Hiệu trưởng là người đứng đầu nhà trường chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động
của nhà trường, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm, công nhận, hiệu trưởng có
những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: tổ chức bộ máy nhà trường; xây dựng kế hoạch và tổ
chức nhiệm vụ năm học; quản lý giáo viên, nhân viên học sinh; quản lý chuyên môn; phân công
công tác, kiểm tra đánh giá, việc thực hiện nhiệm vụ của giáo viên, nhân viên; quản lý tổ chức
giáo dục học sinh; quản lý hành chính, tài chính, tài sản của nhà trường; thực hiện các chế độ
chính sách của Nhà nước đối với giáo viên, nhân viên, học sinh; tổ chức thực hiện Quy chế dân
chủ trong hoạt động của nhà trường; được học các lớp chuyên môn, nghiệp vụ và hưởng các
chế độ hiện hành.
+ Phó hiệu trưởng thực hiện và chịu trách nhiệm trước hiệu trưởng về nhiệm vụ được
hiệu trưởng phân công; cùng với hiệu trưởng chịu trách nhiệm trước cấp trên về phần việc được
giao; thay mặt hiệu trưởng điều hành hoạt động của nhà trường khi được ủy quyền; được học
các lớp chuyên môn, nghiệp vụ và hưởng các chế độ hiện hành.
- Giáo viên bộ môn
Giáo viên bộ môn có nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục theo đúng chương trình giáo dục,
kế hoạch dạy học; soạn bài, chuẩn bị thí nghiệm; kiểm tra đánh giá theo qui định; vào sổ điểm,
ghi học bạ đầy đủ; lên lớp đúng giờ; không tùy tiện bỏ giờ, bỏ buổi dạy; quản lý học sinh trong
các hoạt động giáo dục do nhà trường tổ chức; tham gia các hoạt động của tổ chuyên môn; tham
gia công tác giáo dục trung học cơ sở ở địa phương; rèn luyện đạo đức học tập văn hóa, bồi
dưỡng chuyên môn và nghiệp vụ để nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy và giáo dục;
thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và điều lệ nhà trường; thực hiện quyết
định của hiệu trưởng; chịu sự kiểm tra của hiệu trưởng và các cấp quản lý giáo dục; giữ gìn
1.2.1.4. Một số đặc điểm của học sinh trung học phổ thông
Học sinh trung học phổ thông bao gồm các em ở độ tuổi 15 đến 18 là độ tuổi đầu của tuổi
thanh niên, có những đặc điểm:
- Về thể chất các em đã có sự trưởng thành về mặt cơ thể. Tuy sự khác biệt cơ thể giữa
thanh niên mới lớn và người lớn không đáng kể, nhưng sự phát triển thể lực của các em còn
kém so với người lớn. Tuổi thanh niên bắt đầu thời kỳ phát triển tương đối êm ả về mặt sinh lý,
được thể hiện ở các đặc điểm: sự phát triển của hệ xương được hoàn thiện, những cơ bắp tiếp
tục phát triển, nhịp độ tăng trưởng chiều cao và trọng lượng đã chậm lại, sự phát triển của hệ
thần kinh có những thay đổi quan trọng do cấu trúc bên trong của não phức tạp và các chức
năng của não phát triển. Cấu trúc của tế bào bán cầu đại não có những đặc điểm như trong cấu
trúc tế bào não của người lớn, điều đó tạo tiền đề cần thiết cho sự phức tạp hóa hoạt động phân
tích, tổng hợp…, của võ bán cầu đại não trong quá trình học tập và lao động. Đa số các em đã
qua thời kỳ phát dục, hoạt động của các tuyến nội tiết trở nên bình thường, sự không cân đối
giữa trạng thái của các mạch máu với hoạt động của tim cũng mất dần. Ở tuổi thanh niên vẫn
còn tính dễ bị kích thích và sự thể hiện của nó nói chung giống như ở tuổi thiếu niên. Tuy
nhiên, ở tuổi thanh niên, tính dễ bị kích thích không phải chỉ do nguyên nhân sinh lý (như ở
tuổi thiếu niên), mà còn do cách sống của cá nhân ở độ tuổi này.
Nhìn chung thì đây là lứa tuổi các em có sự phát triển cân đối, khỏe, đẹp, đa số các em có
thể đạt những khả năng thành tích về cơ thể như người lớn.
- Đặc điểm nhân cách chủ yếu
+ Sự phát triển của tự ý thức
Sự phát triển tự ý thức là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cách của thanh
niên mới lớn, nó có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển tâm lý của lứa tuổi thanh niên. Quá trình
này rất phong phú và phức tạp, nhưng vẫn có thể nêu lên một số đặc điểm cơ bản: nhu cầu tự ý
thức của các em được phát triển mạnh mẽ, các em chú ý đến hình dáng bên ngoài của mình,
hình ảnh về thân thể mình là thành tố quan trọng của sự tự ý thức ở thanh niên mới lớn. Sự hình
thành tự ý thức là một quá trình lâu dài và trải qua những mức độ khác nhau, quá trình phát
triển tự ý thức diễn ra mạnh mẽ, sôi nổi và có tính đặc thù riêng. Thanh niên có nhu cầu tìm
hiểu và đánh giá những đặc điểm tâm lý của mình theo quan điểm về mục đích và hoài bão của
mình. Sự tự ý thức của họ xuất phát từ yêu cầu của cuộc sống và hoạt động, nội dung của tự ý
trách nhiệm.
+ Giao tiếp và đời sống tình cảm
Tuổi học sinh trung học phổ thông là lứa tuổi mang tính chất tập thể nhất. Điều quan trọng
đối với các em là được sinh hoạt với các bạn cùng lứa tuổi là cảm thấy mình cần của nhóm, có
uy tính, có vị trí nhất định trong nhóm. Trong các lớp học dần dần xãy ra một sự “ phân cực”
nhất định, xuất hiện những người được lòng nhất (được nhiều người chọn lựa nhất) và những
người ít được lòng nhất. Những em có vị trí thấp (ít được lòng các bạn) thường băn khoăn và
suy nghĩ nhiều về nhân cách của mình. Ở tuổi này, quan hệ với bạn cùng tuổi chiếm vị trí lớn
hơn hẳn so với quan hệ với người lớn tuổi hơn hoặc ít tuổi hơn. Điều này do lòng khao khát
muốn có vị trí bình đẳng trong cuộc sống chi phối. Cùng với sự trưởng thành nhiều mặt quan hệ
dựa dẫm, phụ thuộc vào cha mẹ dần dần cũng được thay thế bằng quan hệ bình đẳng, tự lập.
Trong hoàn cảnh giao tiếp tự do, rỗi rãi, trong tiêu khiển, trong việc phát triển nhu cầu, sở
thích thanh niên hướng vào bạn bè nhiều hơn là hướng vào cha mẹ. Nhưng khi bàn đến những
giá trị sâu sắc hơn như chọn nghề, thế giới quan, những giá trị đạo đức thì ảnh hưởng của cha
mẹ lại mạnh hơn rõ rệt.
Sự mở rộng phạm vi giao tiếp và sự phức tạp hóa hoạt động riêng của thanh niên học sinh
khiến cho số lượng nhóm qui chiếu của các em tăng lên rõ rệt. việc tham gia vào nhiều nhóm sẽ
dẫn đến sự khác nhau nhất định và có thể có xung đột về vai trò nếu cá nhân phải lựa chọn giữa
các vai trò khác nhau ở các nhóm.
Đời sống tình cảm của học sinh phổ thông rất phong phú, nhu cầu về tình bạn tâm tình cá
nhân được tăng lên rõ rệt. Tình bạn ở các em trở nên sâu sắc hơn, các em có nhu cầu cao đối
với tình bạn (yêu cầu sự chân thật, lòng vị tha, tin tưởng nhau) tình cảm có nội dung hơn, bao
gồm những phạm vi hứng thú và hoạt động rộng rãi. Trong quan hệ với bạn các em cũng nhạy
cảm hơn, không chỉ có khả năng xúc cảm thân tình, mà còn phải có khả năng đáp ứng lại xúc
cảm của người khác (đồng cảm). Tình bạn của các em mang màu sắc xúc cảm nhiều hơn, rất
bền vững. Các em thường lý tưởng hóa tình bạn, họ nghĩ về bạn thường giống với điều mình
mong muốn ở bạn hơn là thực tế. Sự quyến luyến mạnh mẽ về mặt cảm xúc khiến các em ít
nhận thấy những đặc điểm thực tế ở bạn. Một số các em ở lứa tuổi này có sự xuất hiện tình yêu,
hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của mỗi học sinh. Giáo dục gia đình mang tính cá biệt rõ
rệt, dựa trên cơ sở của cuộc sống tự nhiên, cởi mở trong gia đình. Mỗi cá nhân sống trong gia
đình thường là thời gian lâu dài, nên rất thuận lợi và có hiệu quả trong việc giáo dục từ gia đình.
Gia đình giáo dục con em mình từ mọi khía cạnh của cuộc sống và trong các mối quan hệ vô
cùng phong phú. Cơ sở vật chất, trình độ văn hóa, sự hiểu biết của cha mẹ, nề nếp, truyền thống
của gia đình, quan hệ ông bà, cha mẹ và con cái…có tác động lớn đến quá trình học tập của con
cái. Ở gia đình trẻ được tiếp thu sự giáo dục của gia đình từ lúc còn thơ ấu, thời gian sống ở gia
đình của trẻ là nhiều nhất cho đến tuổi trưởng thành, trẻ được tiếp thu những hành vi, ứng xử
của các thành viên trong gia đình, trẻ có được những tình cảm mang tính huyết thống, tính sâu
sắc đó là phương tiện thuận lợi để gia đình giáo dục trẻ. Tuy nhiên chính tình cảm này cũng làm
cho giáo dục gia đình đôi khi thiếu nghiêm khắc, có khi làm cho trẻ không ngoan…
Động cơ thúc đẩy cha mẹ và các thành phần khác trong gia đình thực hiện nhiệm vụ giáo
dục con cái không phải chỉ do trách nhiệm trước pháp luật mà còn xuất phát từ lòng yêu thương
con em mình, luôn tạo điều kiện tốt nhất trong chừng mực có thể để con em mình được học tập
và rèn luyện để trở thành người tốt, có ích cho xã hội. Vì vậy, mặt mạnh của giáo dục gia đình
là mang tính xúc cảm, tình cảm nên có khả năng cảm hóa rất lớn.
Có thể nói những đặc điểm trên là mặt mạnh của gia đình, góp phần bổ sung những thiếu
sót của giáo dục nhà trường. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân mà giáo dục gia đình có những
hạn chế nhất định như: nhiều gia đình tổ chức hoạt động giáo dục không thường xuyên, liên
tục, nội dung giáo dục chưa toàn diện. Một số gia đình còn rất ít phối hợp với nhà trường trong
việc giáo dục con cái, ngoài việc đến họp phụ huynh học sinh, dường như một số gia đình còn
“khoán trắng” cho nhà trường, ỷ lại vào nhà trường trong việc giáo dục học sinh. Cá biệt có
những gia đình do thiếu hiểu biết về tâm lý lứa tuổi, thiếu kiến thức giáo dục, quá nuông chiều
con cái dẫn đến những hành vi ngược lại tác động giáo dục học sinh từ phía nhà trường, làm
hạn chế không nhỏ đến kết quả của quá trình giáo dục.
Qua sự phân tích trên có thể nhận định rằng: cả giáo dục nhà trường và giáo dục gia đình
đều có những mặt mạnh và mặt hạn chế. Vấn đề đặt ra cho chúng ta là phải kế thừa, phát huy
ưu điểm, đồng thời loại bỏ những nhược điểm, nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất, tạo
trọng lao động và hướng tới nghề nghiệp cho tương lai sau này.
1.2.3. Sự phối hợp giữa nhà trường - gia đình trong công tác giáo dục học sinh
1.2.3.1.Ý nghĩa của sự phối hợp giữa nhà trường - gia đình trong công tác giáo dục học
sinh
Mục đích và nội dung giáo dục của nhà trường, gia đình là thống nhất với nhau nhằm giáo
dục thế hệ trẻ trở thành những người có tài, có đức, có năng lực thực hành, năng động và sáng
tạo… thành những người chủ tương lai của đất nước. Chính vì xuất phát từ tinh thần trách
nhiệm đối với dân tộc, tình thương yêu đối với con em mình mà nhà trường, gia đình phải phối
hợp, liên kết chặt chẽ với nhau để chăm sóc, giáo dục họ thành những người có ích cho nước
nhà.
Giáo dục nhân cách cho học sinh là một quá trình khó khăn, phức tạp, lâu dài, nếu nhà
trường và gia đình phối hợp thường xuyên và chặt chẽ sẽ tạo nên một sức mạnh tổng hợp, tạo
nên sự thống nhất và liên tục. Học sinh sống và học tập không chỉ ở nhà trường mà còn ở gia
đình, cho nên phải phối hợp giáo dục để nâng cao tinh thần trách nhiệm của cả hai phía nhà
trường và gia đình, tạo điều kiện cho các em được giáo dục mọi nơi, mọi lúc.
Việc phối hợp giữa nhà trường và gia đình nhằm tạo cho quá trình giáo dục được thống
nhất và được tốt hơn. Thực tiễn đã chứng minh ở đâu có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trườnggia đình thì ở đó kết quả giáo dục sẽ tốt hơn, như Bác Hồ đã căn dặn: “Giáo dục trong nhà
trường chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho việc
giáo dục trong nhà trường được tốt hơn. Giáo dục trong nhà trường dù tốt đến mấy nhưng thiếu
giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn”.
1.2.3.2. Mục tiêu, nội dung của sự phối hợp giữa nhà trường - gia đình trong việc giáo
dục học sinh
Mục tiêu của sự phối hợp giữa nhà trường - gia đình đó là những tiêu chuẩn định hướng
ban đầu mà sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình cần phải đạt được trong quá trình giáo dục
học sinh. Mục tiêu sự phối hợp là để có sự thống nhất về quan điểm giáo dục, thống nhất về các
nội dung và biện pháp giáo dục học sinh của nhà trường và gia đình nhằm làm cho quá trình
giáo dục đạt được kết quả cao nhất, tránh được các hiện tượng “trống đánh xuôi kèn thổi
ngược” trong giáo dục, giúp cho các em trở thành những con người tốt, có ích cho xã hội. Việc
hình.
- Phương pháp phối hợp hành động: Thành lập hội cha mẹ học sinh, tổ chức định kỳ các
cuộc họp cha mẹ học sinh, giáo viên chủ nhiệm thường xuyên gặp gỡ trao đổi với cha mẹ học
sinh, tổ chức thăm gia đình học sinh.
- Phương pháp kiểm tra đánh giá rút kinh nghiệm thường xuyên, có qui định nhiệm vụ,
tiêu chuẩn thi đua, phối hợp cho giáo viên chủ nhiệm, động viên khen thưởng kịp thời. Tổ chức
bồi dưỡng kỹ năng tổ chức các hoạt động phối hợp với cha mẹ học sinh cho giáo viên chủ
nhiệm lớp.
1.2.3.4. Điều kiện và cơ chế phối hợp giữa nhà trường - gia đình trong việc giáo dục học
sinh
Điều kiện của sự phối hợp giữa nhà trường - gia đình là phải phù hợp với trình độ phát
triển về kinh tế và văn hóa của thực tế địa phương, trình độ nhận thức của mỗi gia đình học
sinh, thời gian thuận tiện để các thành viên trong nhà trường và gia đình gắn kết với nhau, đồng
thời cần có những quy chế, quy định để các thành viên có điều kiện thực hiện tốt sự phối hợp.
Về mặt cơ chế:
- Nhà trường có vai trò chủ đạo trong quá trình phối hợp, trong đó hiệu trưởng nhà trường
là người vạch ra kế hoạch, chịu trách nhiệm chỉ đạo mọi hoạt động phối hợp giữa nhà trường
với gia đình học sinh.
- Giáo viên chủ nhiệm là lực lượng nòng cốt có trách nhiệm thực hiện các chỉ đạo phối hợp
giữa nhà trường-gia đình của hiệu trưởng nhằm kết hợp với mỗi gia đình học sinh để thống nhất
nội dung, phương pháp giáo dục học sinh.
- Đoàn thể trong nhà trường (công đoàn, đoàn thanh niên…) là những bộ phận kết hợp
giữa giáo viên chủ nhiệm dưới sự chỉ đạo thống nhất của hiệu trưởng nhà trường.
- Gia đình có vai trò chủ động để thực hiện trong quá trình phối hợp như là: hội cha mẹ
học sinh thông qua quy chế, người đại diện cho cha mẹ học sinh thống nhất với nhà trường qua
kế hoạch và biện pháp thực hiện, gia đình phải nhận thức đúng trách nhiệm phối hợp với nhà