ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH SẢNVÀ ỨNG DỤNG MỘT SỐ HORMONE HƯỚNG
SINH DỤC NÂNG CAO NĂNG SUẤT SINH SẢN TRÊN ĐÀN BÒ LAI HƯỚNG SỮA
NUÔI TẠI BA VÌ-HÀ NỘI
Trần Thị Loan, Đặng Thị Dương, Khuất Thị Thu Hà,
Nguyễn Yên Thịnh, Phùng Quang Trường.
Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng Cỏ Ba Vì
TÓM TẮT
Khả năng sinh sản của một bò sữa giảm được thể hiện các chỉ tiêu sinh sản giảm,
giảm sản lượng sữa cũng như số bê con được sinh ra trong một đời bò cái giảm. Áp dụng một
số biện pháp nâng cao khả năng sinh sản của đàn bò là điều cần thiết. Trong đó sử dụng
hormne hướng sinh dục là một trong những biện pháp để nâng cao khả năng sinh sản của đàn
bò, đặc biệt là đối với bệnh liên quan đến buồng trứng. Bò sau khi được can thiệp bằng
hormne, theo dõi động dục và phối giống cho bò bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo, hiệu
quả thu được: tỷ lệ bò động dục từ 82,35 – 100% và tỷ lệ bò có chửa sau hai lần phối 66,67 –
85,71%. Nâng cao khả năng sin sản của đàn bò đồng nghĩa là nâng cao hiệu quả kinh tế trong
chăn nuôi bò sữa.
1. Đặt vấn đề
Trong chăn nuôi bò sữa để đạt hiệu quả kinh tế cao thì đòi hỏi hiệu quả sinh sản phải
cao. Khả năng sinh sản của đàn bò chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố: bên cạnh yếu tố con
giống, thức ăn, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, phải nói đến yếu tố kỹ thuật như: theo dõi
động dục, phối giống đúng thời điểm hay là các biện pháp can thiệp các trường hợp chậm
sinh và bệnh viêm nhiễm đường sinh dục chưa tốt đã trực tiếp hay gián tiếp làm giảm khả
năng sinh sản của đàn bò sữa. Việc rút ngắn tuổi động dục lần đầu, rút ngắn khoảng cách
giữa các lứa đẻ, tăng số con được sinh ra đồng nghĩa với tăng sản lượng sữa trong một đời
con cái. Ngoài ý nghĩa kinh tế, tăng khả năng sinh sản cũng có nghĩa tăng nhanh số lượng
đàn giống.
Xuất phát từ yêu cầu trên, chúng tôi tiến hành đề tài: "Đánh giá khả năng sinh sản
và ứng dụng một số Hormone hướng sinh dục nâng cao năng suất sinh sản trên đàn bò
lai hướng sữa nuôi tại Ba Vì, Hà Nội".
2. Vật liệu và phương pháp
2.1. Đối tượng nghiên cứu
đàn bò sữa
- Phương pháp xác định bệnh ở buồng trứng, xác định bò có chửa bằng phương pháp
khám thông qua trực tràng.
- Phát hiện động dục bằng phương pháp theo dõi trực tiếp, phối giống cho những bò
động dục ở chu kỳ đầu bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo, tiếp tục theo dõi động dục và
phối giống cho bò ở chu kỳ sau, tỷ lệ thụ thai được tính ở cả 2 chu kỳ.
- Phương pháp điều trị:
+ Bệnh thể vàng tồn lưu: thụt 50-100ml Iodine 0,5-1% và tiêm 25mg PGF2α, theo dõi
động dục và phối giống.
+ Bệnh thiểu năng buồng trứng và bệnh u nang nang trứng theo 2 phác đồ:
Phác đồ 1
:
0 7 9 10 ngày
Phác đồ 2
:
0 11 12 13 14 ngày
2.5.3. Phương pháp xử lý số liệu
Toàn bộ số liệu thu thập được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học bằng phần
Tỷ lệ
(%)
Số b
ò
vắt
sữa
(con)
Tỷ lệ
(%)
Số
bò
cạn
sữa
(con)
Tỷ lệ
(%)
Số
lượng
(con)
Tỷ lệ
(%)
I Tổng số 4.826
100 1.199
319 14,85
2 Vân Hòa
1.347
27,91
409 1.164
86,41
872 64,74
292 21,68
183 13,59
3 Yên Bài 976 20,22
243 840 86,07
630 64,55
210 21,52
136 13,93
Rút
182 51,27
67 18,87
106 29,86Qua bảng 1 cho thấy đàn bò sữa của huyện tập trung chủ yếu ở 3 xã Tản Lĩnh, Vân
Hòa và Yên Bài. Trong đó nhiều nhất là ở xã Tản Lĩnh 2.148 con, chiếm tỷ lệ là 44,51%, tiếp
theo là ở xã Vân Hoà và Yên Bài. Đàn bò sinh sản/đàn bò hậu bị của toàn huyện là 4.082/744
chiếm 84,58%/15,42%.
3.2. Kết quả điều tra về khả năng sinh sản của đàn bò lai hướng sữa nuôi tại Ba Vì, Hà
Nội
Khả năng sinh sản của quần thể bò trước hết phụ thuộc vào yếu tố di truyền (giống),
thứ đến là yếu tố môi trường như chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý, chế độ chính sách, khí hậu
thời tiết và yếu tố kỹ thuật như: theo dõi động dục, phối giống đúng thời điểm , khả năng
sinh sản của chúng được thể hiện qua các chỉ tiêu như: Tuổi phối giống lần đầu, tuổi đẻ lứa
đầu, thời gian động dục lại sau khi đẻ, khoảng cách giữa hai lứa đẻ,
3.2.1. Tuổi phối giống lần đầu
Mức độ dinh dưỡng thấp sẽ kìm hãm sự sinh trưởng và phát triển của cơ thể. Sự còi
cọc thường đi kèm với sự chậm thành thục tính dục. Khối lượng cơ thể của trâu bò lớn, vì thế
phải đạt được một số tích lũy nhất định về khối lượng mới xảy ra động dục lần đầu Nguyễn
Trọng Tiến (1991). Qua điều tra về tuổi phối giống lần đầu kết quả được trình bầy ở bảng 2.
Kết quả cho thấy, trung bình tuổi phối giống lần đầu ở 2 nhóm bò không có sự sai khác rõ
rệt, ở nhóm F
2
là 24,06 ± 0,94 tháng và ở nhóm F
3
là 24,48 ± 1,04 tháng, khi điều tra trên
104 bò cái. Tuổi phối giống lần đầu của đàn bò lai đã được rút ngắn hơn so với kết quả
104 24,48±1,04 13,4-37,7
Tuổi đẻ lứa đầu (tháng)
103 33,61±0,98 23,8-45 123 33,93±1,11
23,96-46,2Thời gian động dục lại
sau khi đẻ (ngày)
102 102,13±4,46
32-296 111 118,11±4,52
33-304
Khoảng cách giữa hai
lứa đẻ (ngày)
96 432,2 ±7,16
309-582
108 441,01±7,86
307-592 3.2.2. Tuổi đẻ lứa đầu
Tuổi đẻ lứa đầu phụ thuộc ngoài yếu tố giống còn phụ thuộc rất nhiều vào chế độ
chăm sóc nuôi dưỡng Lê Viết Ly và cộng sự (1997). Tuổi phối giống lần đầu cao kéo theo
phẩm, tới tổng sản lượng sữa và số bê con được sinh ra trong 1 đời bò mẹ. Khoảng cách lứa
đẻ phụ thuộc vào chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, đặc điểm sinh vật của giống, thời gian động
dục lại sau khi đẻ, kỹ thuật phối giống, vắt sữa và cạn sữa,… Khoảng cách lứa đẻ ở 2 nhóm
bò F
2
, F
3
nuôi tại Ba Vì là 432,21 ngày và F
3
441,01 ngày.
3.3. Sử dụng một số chế phẩm hormone nâng cao khả năng sinh sản của đàn bò sữa
Dựa trên kết quả điều tra thực tế về năng suất sinh sản của đàn bò lai hướng sữa nuôi
tại Ba Vì còn thấp, biểu hiện: tuổi phối giống lần đầu và tuổi đẻ lứa đầu còn cao; khoảng
cách hai lứa đẻ và thời gian động dục lại sau khi đẻ còn kéo dài đã hạn chế sức sinh sản và
khả năng sản suất sữa, từ đó làm ảnh hưởng lớn đến các chỉ tiêu kinh tế trong ngành chăn
nuôi bò sữa. Để góp phần nâng cao khả năng sinh sản của đàn bò cái lai hướng sữa tại Ba Vì
chúng tôi đã tiến hành sử dụng một số chế phẩm hormone điều trị bệnh liên quan đến buồng
trứng ở đàn bò sữa.
3.3.1. Kết quả sử dụng prostaglandine trên bò chậm động dục do thể vàng tồn lưu
Trong chu kỳ sinh dục bình thường, thể vàng tồn tại từ ngày thứ 5 -17 của chu kỳ, nếu
bò được phối giống có chửa thì thể vàng tồn tại đến gần thời kỳ đẻ thì thoái hoá; nếu bò
không có chửa thể vàng sẽ thoái hoá đi để hình thành một chu kỳ mới nhờ vào
Prostaglandine tiết ra từ nội mạc tử cung. Nếu vì một lý do nào đó, lượng hormone này
không được tiết đủ để phân giải thể vàng thì thể vàng trên buồng trứng của bò vẫn được tồn
tại và liên tục tiết progesterone, gây ức chế tuyến yên tiết FSH và LH, làm cho bao noãn
không phát triển, trứng không chín, vì vậy không thể thiết lập được chu kỳ động dục mới nên
bò cái không động dục được.
Bảng 3. Kết quả điều trị bệnh thể vàng tồn lưu
Giống
Số
Trung bình
25 22 88,00 64,9 ± 3,54 45 - 98 15 68,18
Iodine 0,5-1% thụt vào tử cung của bò trong các trường hợp chu kỳ động dục bình
thường và trong trường hợp thể vàng tồn lưu có thể rút ngắn khoảng cách chu kỳ động dục
lại Nakahara và cộng sự (1967). Để làm thoái hoá thể vàng tồn lưu, thụt Iodine 0,5-1% vào
tử cung kết hợp tiêm prostaglandine tự nhiên cho 25 bò cái kết quả thu được ở bảng 3, trong
25 bò được tiến hành điều trị đã có 22 con động dục đạt 88,0 %, ở nhóm F
2
là 85,71% và ở
nhóm F
3
là 88,89%, thời gian động dục tập trung vào 64,9 ± 3,54 giờ. Tỷ lệ phối giống có
chửa của 2 nhóm bò không có sự sai khác nhiều, ở nhóm F
2
là 66,67% và 68,75% ở nhóm F
3
.
Kết quả này phù hợp với Khuất Văn Dũng (2005), cao hơn trên đàn trâu nuôi ở các tỉnh phía
bắc Nguyễn Văn Thanh (1999).
3.3.2. Kết quả sử dụng dụng cụ đặt âm đạo CIDR (Controlled Internal Drug Release) và
tiêm GnRH (Gonadotropin Releasing Hormone) với bò bị thiểu năng buồng trứng
Bệnh thiểu năng và teo buồng trứng là do kế phát của viêm tử cung, viêm ống dẫn
trứng, nuôi dưỡng chăm sóc kém, bị khai thác và làm việc quá sức. Tuyến giáp cũng vai trò
khá quan trọng, một số nghiên cứu cho thấy khi tuyến giáp bị xơ cứng do mô liên kết tăng
sinh, thay thế các mô tuyến do vậy hàm lượng các hormone tuyến giáp và I
2
(Iode) không
liên kết, T3 (Triiodthyronin) trong huyết thanh của những con bò này rất thấp so với mức
Thời gian động dục
Số bò
có
chửa
(con)
Tỷ lệ
bò có
chửa
(%)
X ± m
x
Min-max
1 GnRH, PGF
2α
17 14 82,35 70,31±4,71
48-98 12 85,71
2
CIDR, PGF
2α
,
Oestrogene
19 18 94,74 66,67±3,78
48-102 12 66,67
Phác đồ điều
trị
Số
con
điều
trị
Số bò
động
dục
(con)
Tỷ lệ
bò
động
dục
(%)
Thời gian động dục
Số bò
có
chửa
(con)
Tỷ lệ
bò có
chửa
(%)
X ± m
x
Min-max
2
: 102,13 và 432,21 ngày,
nhóm F
3
: 118,11 và 441,01 ngày.
Sử dụng một số chế phẩm hormone nâng cao khả năng sinh sản
Khi sử dụng một số chế phẩm hormone điều trị một số bệnh liên quan đến buồng
trứng của bò, kết quả thu được khá cao:
Bệnh thể vàng tồn lưu đã có 88% bò động dục và đạt tỷ lệ thụ thai là 68,18%.
Bệnh thiểu năng buồng trứng sử dụng phác đồ tiêm GnRH hiệu quả hơn dụng cụ
CIDR đặt âm đạo, tỷ lệ động dục và chửa sau 2 lần phối tương ứng là 82,35/94,74% và
85,71/66,67%.
Bệnh u nang nang trứng sử dụng phác đồ tiêm GnRH hiệu quả hơn dụng cụ CIDR đặt
âm đạo, tỷ lệ động dục tương ứng là 83,33 % và 100 %, tỷ lệ thụ thai 80 % ở cả hai phác đồ.
Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Quốc Đạt, Vũ Văn Nội, Bùi Thế Đức, Nguyễn Thanh Bình (1998). Khả năng sản
xuất của đàn bò cái lai hướng sữa (Holsteinfriz x Laisind) trong điều kiện chăn nuôi trang
trại ở thành phố Hồ Chi Minh (1980). Báo cáo khoa học-Viện Chăn nuôi 1998. Tr.16-18.
2. Khuất Văn Dũng (2005). “Thực trạng khả năng sinh sản và hiện tượng rối loạn sinh sản,
ứng dụng hormone và chế phẩm hormone điều trị một vài hiện tượng rối loạn sinh sản
trên đàn bò cái Redsindhy nuôi tại nông trường hữu nghị Việt Nam – Mông Cổ, Ba Vì,
Hà Tây”. Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp. Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội.
3. Hoàng Kim Giao, Nguyễn Thanh Dương (1997). Công nghệ sinh sản trong chăn nuôi bò.
NXB nông nghiệp, Hà Nội.
4. Nguyễn Minh Hoàn và cs (1997). Một số đặc điểm sinh sản của nhóm bò lai hướng sữa
nuôi tại hợp tác xã Thanh Lộc Đàn – Thành phố Đà Nẵng.
5. Tăng Xuân Lưu (1999). Đánh giá một số đặc điểm sinh sản của đàn bò lai hướng sữa tại
Ba Vì - Hà Tây và biện pháp nâng cao khả năng sinh sản của chúng, Luận văn thạc sỹ
Nông nghiệp, Trường Đại Học Nông Nghiệp I Hà Nội.
6. Tăng Xuân Lưu, Phan Văn Kiểm, Trần Thị Loan, Ngô Đình Tân (2003). Ứng dụng kết
infusion of iodine solution on the estrous cycle of the cow. Jap. J. Anim. Reprod. 13,57.
17. Salem. J. A and F. A. Soliman (1979). Intranmuscular injection orion dextran in Egyptian
buffaloes and its effect on milk production and some hematological properties. Assuit
Vet. Med. J. 313 – 323.
18. Schmidt. K., E. L. Sawaf and H. Gharib (1963). Some studies on diagnosis in herd
problems with regard to pregnancy and infertility in buffaloes. Egypt. Vet. Med. J. 9: 113
– 156.
19. Settergreen. I (1986). Cause of infertility in femal reproduction system. Technical
Management A. I. Programmes. Sweish University of Agricutural Sciences. Uppsala
Sweden.